Nghiên cứu điều kiện xác định Asen trong
không khí khu vực làm việc bằng phương pháp
điện hóa
Vũ Thị Thanh Phương
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Luận văn Thạc sĩ ngành: Hóa Phân tích; Mã số: 60 44 29
Người hướng dẫn: PGS.TS. Trần Chương Huyến
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Giới thiệu về Asen, dạng tồn tại của Asen và một số phương pháp phân tích
của Asen trong môi trường. Nghiên cứu quy trình xác định Asen trong không khí khu
vực làm việc tại xí nghiệp Kẽm-Chì làng Hích, thuộc công ty TNHH MTV Kim loại
mầu Thái Nguyên bằng phương pháp von-ampe hòa tan catot. Trình bày phương pháp
nghiên cứu: phương pháp hồi cứu, thu thập tổng hợp tài liệu; Kỹ thuật lấy mẫu Asen
trong không khí; bảo quản mẫu; xử lý mẫu; phương pháp phân tích. Đưa ra kết quả và
thảo luận: Thẩm định các điều kiện tối ưu để xác định Asen (III) bằng phương pháp
von-ampe hòa tan catot; xác định Asen (V); khảo sát ảnh hưởng của các chất đến sự
khử của As(V); xây dựng đường chuẩn; quy trình phân tích tổng Asen trong mẫu khí;
xác định giới hanjphats hiện của phương pháp (MDL); Xác định hiệu xuất thu hồi trên
nền mẫu thật; điều kiện và phương pháp phân định lượng Asen trên thiết bị điện hóa;
xác định nồng độ Asen trong mẫu thực tế.
Keywords: Asen; Không khí; Phương pháp điện hóa; Hóa phân tích
Content
MỞ ĐẦU
Trong những thập kỷ vừa qua, tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa cũng như sự gia tăng
dân số cao ở các quốc gia châu Á đã làm giảm tỷ lệ đói nghèo và tăng cường chất lượng cuộc
sống cho hàng triệu người dân. Nhưng bên cạnh với đó nhiều thành phố cũng phải đối diện
và các nguồn văn phòng phẩm. Ở Anh, ước tính tổng lượng phát thải asen hàng năm vào năm
1996 là 51 tấn. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) (2000) cho thấy nồng độ của asen trong không
khí ở khu vực nông thôn dao động từ 1-10 ng/m3 ở khu vực thành thị từ 3 - 30 ng/m3 đối với
khu vực lân cận lò nung kim loại màu, nồng độ Asen trong không khí khoảng 2-2320 ng/m3 .
Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, càng ngày càng
có nhiều nhà máy, khu công nghiệp tập trung được xây dựng và đưa vào hoạt động tạo ra một
khối lượng sản phẩm công nghiệp chiếm một tỉ trọng cao trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Bên cạnh đó, sản xuất công nghiệp đã gây nên nhiều ảnh hưởng xấu đến môi trường trong đó
có môi trường không khí. Khí thải từ nhà luyện thép ước tính 50.000m
3
/h, hàm lượng bụi từ
2.840 – 4.260 tấn/năm. Nếu không có biện pháp thích đáng thì môi trường nói chung và môi
trường không khí nói riêng xung quanh các nhà máy, các khu công nghiệp tập trung sẽ đứng
trước nguy cơ bị xấu đi trầm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của dân.
Sự lưu trú và vận chuyển của Asen trong môi trường
Asen sau khi được thải vào môi trường không khí thì sẽ được vận chuyển đi một quãng
đường dài hoặc ngắn rồi sau đó lại bị loại bỏ do quá trình sa lắng khô hay ướt rồi rơi xuống
đất, nước, cây cối.
Trên đất nông nghiệp Asen có xu hướng tập trung trong lớp đất trên là không thời hạn.
Sự di chuyển của Asen trong đất cát lớn hơn trong mùn và đất sét tùy thuộc vào đặc tính của
đất như pH, hàm lượng chất hữu cơ, hàm lượng sét, oxit sắt.
4
Ở lớp nước bề mặt, Asen gắn vào các hạt huyền phù hay trầm tích. Nó cũng có thể tích
tụ trong các sinh vật sống trong nước. Asen sa lắng từ không khí là nguồn chính của Asen
trong môi trường nước. Hàm lượng Asen trong nước dưới đất phụ thuộc vào tính chất và trạng
thái môi trườngđịa hóa. Asen tồn tại trong nước dưới đất ở dạng H
2
AsO
4
O
3
).
Dạng hạt, những hạt này có thể được vận chuyển bằng gió và không khí cho đến khi
được đưa trở lại trái đất bằng cách lắng đọng ướt hoặc khô. Thời gian lưu trú và tốc độ vận
chuyển của các Asen trong không khí phụ thuộc vào kích thước hạt mà Asen đính vào. Các
điều kiện khí hậu, điều kiện hoạt động của quá trình công nghiệp sẽ tác động đến tốc độ sa
lắng khô và ướt. Các khu vực gần lò nung kim loại nồng độ Asen trong không khí cao hơn các
khu vực lân cận khác. Quá trình lắng đọng khô của aerosol asen trung bình khoảng 0,2 cm/s
trong vùng lân cận các nguồn phát thải. Trong quá trình vận chuyển trong khí quyển, tốc độ
lắng đọng giảm do để loại bỏ ưu đãi của các hạt lớn hơn. Một tỷ lệ lắng đọng của Asen trong
không khí khu vực ngoài trời được tìm thấy là 0,1 cm/s. Ở Hà Lan, loại bỏ asen thông qua
lắng đọng khô diễn ra với một tốc độ trung bình 0,5% mỗi giờ và thông qua lắng đọng ướt ở
mức 1,2-1,5% mỗi giờ. Từ điều này có thể ước tính tuổi đời trung bình của asen trong khí
quyển khoảng 2,5 ngày.
5
Arsine (AsH
3
) và arsenic trioxide (As
2
O
3
) được biết là xảy ra trong giai đoạn hơi. Các
hợp chất này phát sinh ở nhiệt độ cao hấp thụ lên các hạt ở dạng hơi khí, tuy nhiên cho đến
nay chưa có báo cáo nào về nồng độ pha hơi của thạch tín ở Anh, hoặc bất cứ nơi nào khác ở
châu Âu.
Một số phương pháp phân tích Asen
Phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử
Theo OSHA: Các hợp chất Asen trong khu vực làm việc được lấy bằng giấy lọc
0
C cho đến khi
không mầu thêm tiếp 1ml HNO
3
đun tiếp hỗn hợp cho đến khi xuất hiện khói SO
3
và hỗn hợp
axit bị phân hủy hoàn toàn, làm song song với mẫu blank. Mẫu được định lượng trên máy
AAS ở bước sóng 193,7nm với giới hạn phát hiện 0,02µg/mẫu, khoảng xác định từ 0,05 µg
đến 2,0 µg/ mẫu.
Theo NIOSH 7901 Asen và As
2
O
3
ở dạng hơi được lấy bằng giấy lọc Cellulose ester và miếng
đệm cellulose được tẩm bằng 250µl 20:1Na
2
CO
3
:Glycerol để khô qua đêm, dùng bơm lấy
mẫu tốc độ từ 1 đến 3 l/phút thể tích mẫu từ 30 đến 1000l. Cả giấy lọc và miếng đệm cùng
được chuyển vào vào bình sạch thêm 15ml HNO
3
đun nóng ở 150
0
C cho đến 1ml, thêm 6ml
H
2
O
2
2
O
2
sau đó được định lượng
6
trên HG-AAS với khoảng xác định từ 100ng đến 125µg/ mẫu. Gần đây, người ta còn sử dụng
các kỹ thuật ghép nối nhằm phát hiện ra những loại As đặc biệt.
Phương pháp điện hoá
Phương pháp von-ampe hòa tan anot:
Việc sử dụng điện cực đĩa vàng quay để xác định tổng lượng As bằng von-ampe hoà tan
anot đã được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến. Phương pháp xác định tổng lượng As có
giới hạn xác định khoảng 1ppb (1g/l) [18]. Hydro mới sinh chuyển As(III) và As(V) thành
As nguyên tố, As được làm giàu trước trong HCl 15% tại thế cỡ -1,2V trên một điện cực vàng
đặc biệt. Bằng phương pháp von-ampe hoà tan anot As đã được làm giàu bị oxi hoá trở thành
As (III) và lại bị hoà tan ra. Phương pháp von-ampe hoà tan anot xác định As sử dụng nền
HCl 30% thế ban đầu bằng -0,2V, tốc độ quét = 10mV/s và thu được thế đỉnh pic của As
khoảng 0,15 V.
Việc xác định As bằng phương pháp von-ampe hoà tan anot và phương pháp von-ampe hoà
tan anot xung vi phân đã được nghiên cứu. Các yếu tố ảnh hưởng tới độ nhạy và độ chính xác
gồm: pH, thế điện phân, dung dịch chất điện li, và bản thân điện cực làm việc. Giới hạn phát
hiện của cả phương pháp von-ampe hoà tan anot (ASV) và phương pháp von-ampe hoà tan
anot xung vi phân (DP ASV) là 0,02ng/ml trong nền axit HCl và HClO
4
nồng độ 0,01M,
0,1M và 1M. Các thí nghiệm cho thấy việc sử dụng điện cực vàng cho thấy độ nhậy tăng lên
rất nhiều so với sử dụng điện cực Pt.
Việc sử dụng phương pháp DPASV cần thời gian điện phân ít hơn. Theo tác giả nhóm tác
giả Yang Song, Greg M.Swain tổng lượng Asen được xác định bằng phương pháp DPASV
trên điện cực màng với lớp mỏng Vàng-Bo- Kim cương As(III) được định lượng trước,
của hydrazin để tránh sự oxi hoá As(III). Mặc dù người ta đã nhận thấy rằng ion As (III) được
giữ trong dung dịch nền H
2
SO
4
1M + HCl 0,1M thì nồng độ của As (III) không bị thay đổi
trong suốt 8h/ngày cả khi không có hydrazin.
Theo tác giả Hoàng Thái Long, Asen được xác định bằng phương pháp DP-ASV dùng
điện cực màng vàng(AuFE ex-in) trên nền điện cực đĩa than thủy tinh(GC), điện cực này được
chế tạo bằng cách lắp cực GC đã làm sạch vào máy phân tích điện hóa, điện phân tạo màng
trong dung dịch Au
III
5M chứa HCl 1M ở một thế điện phân -100mV, thời gian điện phân
120s, giữ yên điện cực kết thúc việc tạo màng làm sạch ở thế 500mV với thời gian 30s.
Phương pháp này có thể định lượng As(III) với độ lặp lại tốt(RSD =3,5%, n=20), độ nhạy
cao(109,1nA/1ppb), giới hạn phát hiện thấp(0,4ppb), khoảng tuyến tính rộng (2-
80ppb).As(V) được khử về As(III) bằng Na
2
S
2
O
3
1mg/10ml As(V) trước khi định lượng. Sự
có mặt của As(III) lên đến 100ppb không ảnh hưởng đến quá trình khử As(V).
Tác giả Nguyễn Viết Việt(2003) đã xác định Asen và thủy ngân trong khí thải và nước
bằng phương pháp Von-ampe hòa tan trên điện cực vàng đĩa quay, độ nhạy của phương pháp
là 1ppb, sai số của phương pháp khi xác định 10ppb là 9%.
Năm 2006, Daniela và các cộng sự đã tiến hành xác định các kim loại nặng trong
không khí (PM
10
lần ởdung dịch As(III) 8ppb. Giới hạn phát hiện của Asen tổng là 2ppb sai số 3% ở lần đo thứ
10 với dung dịch As((V) 8ppb.
Các công trình trong nước và ngoài nước đã nghiên cứu xác định Asen trên điện cực giọt
thuỷ ngân treo bằng phương pháp vôn- ampe hoà tan catốt với sự có mặt của chất kết tủa góp
là Cu và Se. Và phương pháp nghiên cứu này đã cho kết quả rất tốt với độ nhạy cao, độ lặp lại
tốt[29] Asen được phân tích bằng kỹ thuật DPCSV dựa trên việc tạo phức Cu
x
Se
y
As
z
với
nồng độ của Cu(II) và Se(IV) là 4,6 mg/l và Se là 3,7µg/l trên điện cực giọt thủy ngân ở thế
điện phân -0,4V. Asen tổng được xác định bằng cách chuyển As(V) về As(III) bằng hỗn hợp
2mg/ml Natri beta bisulfate + 0,2 mg/ml natri thiosunfat. Asen được xác định bằng phương
pháp AdCSV với sự có mặt của (sodium diethyl dithiocarbamate) SDDC 4µM được biết như
là tác nhân tạo phức với As(III) trên điện cực giọt thủy ngân ở thế điện phân -0,45V, thời gian
điện phân từ 100- 300s, pic xuất hiện ở thế đỉnh pic -0,83V. Bên cạnh đó, việc sử dụng
các chất có thể tạo phức với asen để tạo thành phức chất của asen hấp phụ trên bề mặt điện
cực HMDE cũng cho kết quả rất tốt. Cụ thể là dạng phức của As (III) 2,5-dimercapto-1,3,4-
thiadiazole(DMTD) và Ammonium pyrrolidine dithiocacbanmat (APDC) được ứng dụng để
xác định asen trong các vật liệu sinh học. Và đây cũng là hướng đi mới để giải được bài toán
là hạ thấp giới hạn phát hiện xác định Asen.
Asen được xác định bằng phương pháp DP-CSV với sự có mặt của Na-DDTC và Cu trên
điện cực HMDE, giới hạn phát hiện As(III) là 0,004ppb với thời gian điện phân là 50s. Vì
asen (V) không có hoạt động điện hoá nên để xác định As (V) ta phải khử về As (III). Có rất
nhiều tác nhân khử đã được nghiên cứu như hỗn hợp axit ascobic và muối kali iốtua, sodium
tiosulfate, sodium sulfite, hydrazine, khí sulfua dioxit, d- manitol.Với mỗi tác nhân đều có ưu
điểm và nhược điểm riêng.
Cho tới nay, ở nước ta chưa có tiêu chuẩn và phương pháp thống nhất cho việc xác định
sau khi đã khử As(V) về As(III) bằng dung dịch Na
2
S
2
O
4
.
Cơ chế của phản ứng như sau Na-DDTC tạo phức với Cu hấp phụ lên điện cực giọt thủy
ngân:
Quá trình điện phân làm giầu:
2As
3+
+ 3Hg(Cu) + 6e
-
= Cu
3
As
2
+ 3Hg
Quá trình hòa tan:
Cu
3
As
2
+ 12e
-
+3Hg + 12H
+
= 2 AsH
3
O
3
) (10,6g Na
2
CO
3
trong 250ml nước thêm 5 ml Glycerol), để khô ở nhiệt độ phòng qua đêm hoặc sấy ở 40
o
C 2h.
As
2
O
3
ở dạng hơi được giữ lại trên giấy lọc theo phản ứng:
As
2
O
3
+ Na
2
CO
3
= 2NaAsO
2
+ CO
2
Giấy lọc sau khi được lắp vào đầu lấy mẫu chuyên dụng được lắp nối tiếp với bơm hút.
Trong nghiên cứu này mẫu được lấy bằng màng lọc MCE kích thước 37mm, cỡ lỗ 0,8μm có
tẩm hỗn hợp Na
bằng hỗn hợp axit trong lò vi sóng hoặc trong bình Keldan, quá trình này các kim loại trong
giấy lọc được chuyển về dạng ion hòa tan, đun đuổi axit.
Trong quá trình này giấy lọc được chuyển vào vào bình sạch thêm 15ml HNO
3
65%
đun nóng ở 150
0
C cho đến 1ml, sau đó thêm 6ml H
2
O
2
30% đun mẫu đến khô ẩm, định mức
25 ml.
Phương pháp phân tích
Mẫu sau khi xử lý được phân tích trên thiết bị điện hóa VA 636 computrace (Metrohm
– Thuỵ Sỹ).
Thiết bị
Quá trình thí nghiệm và phân tích mẫu thực tế được thực hiện trên máy điện hoá VA
636 computrace (Metrohm – Thuỵ Sỹ).
12
CÁC KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Khảo sát chọn nền axit
Qua tham khảo tài liệu chúng tôi tiến hành nghiên cứu kháo sát các nền: H
2
SO
4
một cách gián tiếp thông qua phân tích As(III). Qua tham khảo tài liệu chúng tôi thấy có rất
nhiều tác nhân khử như: dung dịch kaliiôtua và axit ascobic, natridithionit, hiđrazin, khí
sunfua điôxit, natrisunfit, D-mannitol … các tác nhân khử trên cho hiệu suất khử không cao,
nền mẫu phân tích bị ảnh hưởng (như khử bằng KI), đồng thời thời gian đun đuổi lượng dư
nhiều. Theo tài liệu [3] trong luận án của Hoàng Thái Long đã khảo sát các chất khử As(V)
thì natri dithionit là thích hợp nhất, do vậy chúng tôi chọn Natri dithionit làm chất khử As
(V) về As (III) cho các thí nghiệm này.
13
Khảo sát nồng độ Natri dithionit
Từ kết quả thực nghiệm chúng tôi thấy rằng nồng độ Na
2
S
2
O
4
2. 10
- 4
M thì píc cân
đối, đẹp và chiều cao tương đối lớn và ổn định. Do vậy chúng tôi chọn nồng độ của nồng độ
Na
2
S
2
O
4
2. 10
- 4
M cho các thí nghiệm về sau.
Từ kết quả thu được cho thấy hiệu suất khử của rất cao hệ số thu hồi nằm trong
Đun trong bình Kendal
(1,5ml HNO
3
65% + 0,5ml H
2
O
2
30%) đến
dung dịch trong khoảng 1ml, định mức
bằng nước cất 25ml
Khử As(V) về As(III) bằng Na
2
S
2
O
4
, nền
axit HCl 0,5M, nồng độ Na
2
S
Lượng tìm thấy(ng)
%H Asen(III) tìm thấy
±S(%)
n=5
Mẫu giả 1
22,2
23,1
20,8
20,6
23,1
87,8±1,21
Mẫu giả 2
45,7
44,3
47,2
43,8
46,9
91,2±1,51
Mẫu giả 3
95,7
95,1
94,8
94,3
96,6
95,3±0,88
Mẫu giả 4
148,5
150,2
148,6
149,3
CVh
Cx
t
th
15
V
1:
Thể tích dung dịch phân tích (ml)
V
th
: Thể tích của dung dịch thêm (ml)
C
th
: Nồng độ của dung dịch thêm chuẩn (ng)
C
x
: Nồng độ của dung dịch đo (ng)
h
2
: chiều cao của mẫu thêm chuẩn (nA)
h
1
: chiều cao của mẫu đo (nA)
Mẫu khí được lấy bằng thiết bị lấy mẫu khí tốc độ 1 đến 3 l/phút ( Volume Air
Sampler) chuyên dụng (Mỹ). Thiết bị gồm đầu lấy mẫu chuyên dụng được lắp giấy lọc
Cellulose ester (MCE) được tẩm hỗn hợp Na
chuyên dụng Sibata (Mỹ). Thiết bị gồm đầu lấy mẫu chuyên dụng được lắp đầu lấy mẫu lắp
giấy lọc Cellulose ester (MCE) được tẩm hỗn hợp1Na
2
CO
3
:Glycerol có đường kính 37 mm,
kích thước lỗ 0,8µm để lấy các hạt bụi có đường kính nhỏ hơn 10m. Được nối với bơm hút
lấy thể tích khí 120l
trong thời gian 2 giờ. Chúng tôi tiến hành lấy mẫu tại các vị trí có công
nhân thao tác và khu vực đi lại thường xuyên của công nhân trong 1 ca làm việc. Vị trí lấy
mẫu đươc đặt cách mặt đất 1,5 m( ngang với tầm thở của công nhân).
Xưởng tuyển nổi:
K1: Khu vực băng chuyền
17
K2: Khu vực nghiền bi
K3: Khu vực tuyển nổi
K4: Khu vực máy đập phản kích
K5: Khu vực văn phòng
Khu khai thác
K6: Khu vực lò cái – khu tây Metit
K7: Miệng giếng K1- Lò cái 1 khu tây Metit.
Khu vực xung quanh
K8: Sân nhà máy
K9: Cổng nhà máy
Sau thời gian lấy mẫu (2 giờ), giấy lọc MCE được lấy ra khỏi thiết bị lấy mẫu và được
đựng trong casstte, bảo quản trong hộp kín để chuyển mẫu về phòng thí nghiệm. Ở phòng thí
nghiệm, mẫu được bảo quản trong bình desicator để phân tích. Trong nghiên cứu này, chúng tôi
tiến hành lấy mẫu từ ngày 20 tháng 8 năm 2012 đến ngày 22 tháng 8 năm 2012. Tổng số lượng
Đầu khu vực
0,34
(0,29;0,35; 0,37)
Cuối khu vực
0,37
(0,31;0,39;0,32)
2
K2
Đầu khu vực
0,14
(0,11;0,17;0,14)
Cuối khu vực
0,16
18
(0,14;0,18;0,16)
3
K4
Đầu khu vực
0,30
(0,35;0,31;0;0,24)
Cuối khu vực
0,59
(0,55;0,64;0,58)
Khu vực khai thác
5
3
)
QCVN
05: 2008/BTNMT
Khu vực xung quanh (Thời gian
lấy mẫu từ 8h30-17h30)
0,03 µg/m
3
2
K8
0,019
(0,016,0,022; 0,019)
3
K9
0,008
(0,007;0,010;0,007)
Nồng độ Asen trong không khí khu vực tuyển nổi
STT
Vị trí lấy mẫu Thời gian lấy
mẫu
(giá trị trung bình-
Giá trị từng lần đo)
(N=3),(µg/m
3
(1,87;1,94;1,78)
10h35-13h00
2,08
(2,12;2,03;2,09)
13h05-15h00
1,81
(1,89; 1,72;1,83) 15h00-17h00
1,93
(2,01;1,92;1,86)
2
K3
Cuối khu vực
8h30-10h30
2,26
(2,34; 2,19;2,25)
19
10h35-13h00
2,02
(1,94;2,06;2,05)
2,15
Tại các khu vực khảo sát chúng tôi đều tiến hành lấy ở hai vị tri khác nhau một vị trí đầu, một
vị trí cuối, kết quả cho thấy hầu hết nồng độ Asen ở các vị trí cuối đều lớn hơn vị trí đầu do
khuếch tán Asen trên các hạt bụi theo dòng chuyển động của không khí. Hầu hết khu hàm
lượng Asen trong khu vực làm việc và khu vực xung quanh Nhà máy đều đạt tiêu chuẩn của
BYT và QCVN05: 2008/BTNMT.
20
KẾT LUẬN
Bản nghiên cứu đã thực hiện các nội dung và công việc như sau:
+ Đã nghiên cứu thẩm định phương pháp phân tích As(III) bằng phương pháp Von-
Ampe hòa tan catot với các điều kiện tối ưu như sau:
Thế điện phân: -0,5V, Thời gian điện phân 60giây. Dung dịch đo gồm 20ppm Cu
2+
+ 1,5nM DDTC-Na + Na
2
S
2
O
4
2,10
- 4
M trong nền axit HCl 0,5M. điều kiện khử As(V) về
As(III) bằng chất khử Na
2
S
2
O
3
Nguyên. Kết quả phân tích cho thấy nồng độ Asen tại các vị trí làm việc và xung quanh đo
được thấp hơn tiêu chuẩn cho phép.
References
Tài liệu tiếng Việt:
1. Cơ sở lý thuyết và khả năng ứng dụng các phương pháp phân tích điện hoá. Hội thảo
Schmidt-Metrohm, Hà nội 5-1993.
2. Hoàng Nhâm(1998), Hoá vô cơ, tập 2, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà nội.
3. Hoàng Thái Long(2011), nghiên cứu xác định lượng vết Asen trong môi trường nước
bằng phương pháp Von-ampe hòa tan, Luận án tiến sĩ hóa học, trường đại học khoa
học tự nhiên, đại học quốc gia Hà Nội.
4. Nguyễn Viết Việt (2003), Nghiên cứu xây dựng quy trình phân tích Hg, As trong nước
và khí thải bắng phương pháp Von-Ampe trên điện cực vàng đĩa quay, mã số
201/5/VBH, Viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động.
21
5. Trần Tứ Hiếu - Từ Vọng Nghi - Nguyễn Văn Ri - nguyễn Xuân Trung(1999). Các
phương pháp phân tích công cụ, Hà nội.
6. Từ Vọng Nghi, Trần Chương Huyến, Phạm Luận(1990). Một số phương pháp phân
tích điện hoá hiện đại. Hội thảo khoa học Việt Nam-Hà Lan, Hà nội.
Tài liệu tiếng anh
7. Agency for Toxic Substances and Disease Registry (2000),Toxicological Profile for
Arsenic, U.S. Department of Health and Human Services, Public Health Services,
Atlanta, Georgia
8. Daniel Sánchez-Rodas, Ana M Sánchez de la Campa, Jesús D. de la Rosa, Vanesa
Oliveira, José Luis Gómez-Ariza, Xavier Querol, Andrés Alastuey(2007). Arsenic
speciation of atmospheric particulate matter (PM10) in an industrialised urban site in
southwestern Spain, Chemosphere, Volume 66, Issue 8, Pages 1485-1493.
9. Daniela Buzica, Michel Gerboles, Annette Borowiak, Pier Trincherini, Rosanna
Passarella, Valerio Pedroni(2006). Comparison of voltammetry and inductively
o
226/1e. Determination of the total As conten by
stripping voltammetry at rotating gold electrode.
19. N.M.M. Coelho, A. Cósmen da Silva, C. Moraes da Silva(2002). Determination of
As(III) and total inorganic arsenic byflow injection hydride generation
atomicabsorption pectrometry.Analytica Chimica Acta 460, 227–233.
20. NIOSH, 1994. National Institute for Occupational Safety and Health method 7901:
Arsenic trioxide, as As.
21. NIOSH, 1994. National Institute for Occupational Safety and Health method 7900:
Arsenic and compounds, as As.
22. OSHA, Occupational Safety & Health Administration, Inorganic Arsenic in
Workplace Atmospheres
23. Robert Piech, Władysław W. Kubiak (2006). Determination of trace arsenic with
DDTC-Na by cathodic stripping voltammetry in presence of copper ions. Journal of
Electroanalytical Chemistry 599, 59–64
24. RuiKai Xie , Hans Martin Seip, Grethe Wibeto, Showan Nori, Cameron William
McLeod. Heavy coal combustion as the dominant source of particulate pollution in
Taiyuan, China, corroborated by high concentrations of arsenic and selenium in PM10.
Science of the Total Environment 370 (2006) 409–415.
25. Richard Maggs - Principal (2000), areview of Arsenic in Ambient air in the UK,
Department of the Environment, Transport and the RegionsScottish Executive The
National Assembly for Wales.
26. US.Environment Agency(2008). Areview of the toxicity of arsenic in air.
27. US EPA (1999). Localting and estimatinggair emissions from sources of arsenic and
arsenic compounds.
23
28. Yang Song, Greg M. Swain Total inorganic arsenic detection in real water samples
using anodic stripping voltammetry and a gold-coated diamond thin-film
electrode.Analytica Chimica Acta, Volume 593, Issue 1, 12 June 2007, Pages 7-12