Nghiên cứu tách thu hồi thuốc nhuộm dư trong
nước thải nhuộm bằng màng lọc và khả năng
giảm thiểu fouling cho quá trình lọc tách thuốc
nhuộm qua màng
Cù Thị Vân Anh
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Luận văn Thạc sĩ ngành: Hóa môi trường; Mã số: 60 44 41
Người hướng dẫn: TS. Trần Thị Dung
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Tổng quan về nước thải dệt nhuộm, phương pháp xử lý, màng lọc, các quá
trình tách màng và biến tính bề mặt màng lọc. Trình bày phương pháp nghiên cứu:
Đánh giá khả năng tách thuốc nhuộm của màng; xác định độ giảm năng suất lọc theo
thời gian; đánh giá độ bền của màng trong các môi trường pH khác nhau; đánh giá khả
năng phục hồi năng suất lọc bằng phương pháp rửa; biến tính bề mặt màng lọc; xác
định lượng polyme được trùng hợp ghép lên bề mặt màng; xác định lượng thuốc
nhuộm hấp phụ lên màng trong quá trình lọc; nghiên cứu cấu trúc và tính chất bề mặt
màng. Đưa ra kết quả thực nghiệm và thảo luận: Xây dựng đường chuẩn xác định
nồng độ thuốc nhuộm; khả năng tách loại thuốc nhuộm của màng ở các điều kiện khác
nhau; Khả năng giảm fouling cho quá trình lọc tách thuốc nhuộm qua màng.
Keywords: Hóa môi trường; Kỹ thuật màng lọc; Thuốc nhuộm; Xử lý nước thải
Content
MỞ ĐẦU
Ngành dệt nhuộm đã có từ lâu đời vì nó gắn liền với một trong những nhu cầu cơ bản
của con người là may mặc. Sản lượng dệt trên thế giới ngày càng tăng, không chỉ về chất
lượng mà còn đa dạng về mẫu mã, màu sắc của sản phẩm. Ở Ấn Độ, hàng năm sản xuất
nhuộm dư trong nước thải nhuộm bằng màng lọc và khả năng giảm thiểu fouling cho quá
trình lọc tách thuốc nhuộm qua màng”
Trước hết xin trình bày một số giới thiệu về thuốc nhuộm và màng lọc.
1.1. Nước thải dệt nhuộm và các phương pháp xử lý nước thải dệt nhuộm
1.1.1. Công nghệ sản xuất và nguồn phát sinh nước thải
Thông thường công nghệ dệt nhuộm gồm ba quá trình cơ bản: Kéo sợi, dệt vải và xử
lý (nấu tẩy), nhuộm và hoàn thiện vải. Các công đoạn chính gồm:
- Làm sạch nguyên liệu.
- Kéo sợi, đánh ống, mắc sợi.
- Hồ sợi dọc.
- Dệt vải.
- Giũ hồ.
- Nấu vải.
- Làm bóng vải.
- Tẩy trắng.
- Nhuộm vải và hoàn thiện:
3
Nguồn nước thải phát sinh trong công nghệ dệt nhuộm là từ các công đoạn hồ
sợi, giũ hồ, nấu, tẩy, nhuộm và hoàn tất, trong đó lượng nước thải chủ yếu do quá trình giặt
sau mỗi công đoạn, và nước thải công đoạn giặt sau nhuộm chiếm từ 20 đến 60 % tổng lượng
nước thải.
1.1.2. Đặc trưng nước thải dệt nhuộm
Những đặc trưng nước thải dệt nhuộm theo bảng sau:
Bảng 1.1. Các chất gây ô nhiễm và đặc tính của nước thải ngành dệt-nhuộm [14 ]
Công đoạn
Chất ô nhiễm trong nước thải
Đặc tính của nước thải
Hồ sợi, giũ hồ
Tinh bột, glucose, carboxy metyl xenlulo,
1.1.3. Các phương pháp ngăn ngừa, giảm thiểu và xử lý nước thải dệt nhuộm
Các phương pháp ngăn ngừa, giảm thiểu ô nhiễm nước thải ngành dệt nhuộm có thể
thực hiện trong quá trình sản xuất như:
- Giảm nhu cầu sử dụng nước bằng cách thường xuyên kiểm tra hệ thống nước cấp,
tránh rò rỉ nước. Sử dụng công nghệ tẩy, nhuộm, giặt hợp lý. Tuần hoàn, sử dụng lại các dòng
nước giặt ít ô nhiễm và nước làm nguội.
- Hạn chế sử dụng các hóa chất trợ, thuốc nhuộm ở dạng độc hay khó phân hủy sinh
học. Giảm các chất gây ô nhiễm nước thải trong quá trình tẩy, giảm ô nhiễm kiềm trong nước
thải từ công đoạn làm bóng.
4
- Thu hồi và sử dụng lại dung dịch hồ từ công đoạn hồ sợi và giũ hồ, phương pháp lọc
màng dùng để thu hồi PVA được ứng dụng lần đầu tiên ở Mỹ năm 1974 và cho đến nay đã
được áp dụng ở nhiều nước châu Âu.
- Sử dụng nhiều lần dịch nhuộm vừa tiết kiệm hóa chất, thuốc nhuộm và giảm được ô
nhiễm môi trường. Các loại thuốc nhuộm cho phép sử dụng lại nhiều lần gồm: Thuốc nhuộm
axit dùng cho len và polyamit, thuốc nhuộm bazo dùng cho polyacrylonitril, thuốc nhuộm
trực tiếp cho mặt hàng bông, thuốc nhuộm phân tán cho sợi tổng hợp như polyester. Cho đến
nay, việc thu hồi thuốc nhuộm từ dịch nhuộm bằng phương pháp lọc màng đã được thực hiện
thành công ở một số nước để thu hồi thuốc nhuộm indigo từ quá trình nhuộm sợi bông. Sau
khi nhuộm thì phần thuốc nhuộm không gắn vào sợi sẽ đi vào nước giặt với nồng độ 0,1 ppm.
Để thu hồi thuốc nhuộm, dùng phương pháp lọc màng để nâng nồng độ thuốc nhuộm sau lọc
lên 60 đến 80 ppm và có thể đưa vào bể nhuộm để sử dụng lại.
Do đặc thù của công nghệ, nước thải ngành dệt nhuộm chứa tổng hàm lượng chất rắn, độ
màu, BOD, COD cao. Việc lựa chọn phương pháp xử lý cần phải dựa vào nhiều yếu tố như
lượng nước thải, đặc tính nước thải, tiêu chuẩn thải … Về nguyên lý, hiện có các phương
pháp sau được áp dụng để xử lý nước thải dệt nhuộm:
* Phương pháp đông keo tụ: Đây là phương pháp khá thông dụng trong xử lý nước thải dệt
nhuộm. Trong phương pháp này người ta dùng phèn nhôm hoặc phèn sắt cùng với sữa vôi
cũng chỉ mang tính tương đối. Ngoài ra còn một số quá trình khác như điện thẩm tách, thẩm
tách và bốc hơi qua màng.
1.3 Biến tính bề mặt màng lọc
Để nâng cao tính năng tách của màng, giảm mức độ tắc màng nói chung, đặc biệt là
trong quá trình tách các chất hữu cơ, ngoài các phương pháp rửa cơ học và lựa chọn chế độ
thủy động thích hợp, gần đây việc nghiên cứu biến tính bề mặt màng là một giải pháp rất được
quan tâm nghiên cứu.
Phương pháp biến tính bề mặt có nhiều ưu điểm: Cải thiện được tính chất bề mặt vật
liệu mà không gây ảnh hưởng đến tính chất bên trong vật liệu như khả năng bám dính, độ
thấm nước, tính thích ứng sinh học, chống fouling mà không cần phải chế tạo lại toàn bộ
khối vật liệu, nhưng vẫn có được bề mặt vật liệu với các tính chất mong muốn; hơn nữa
phương pháp này sẽ giảm bớt chi phí chế tạo vật liệu vì chỉ cần tác động lên bề mặt mà không
cần phải chế tạo toàn bộ khối vật liệu [36].
Hiện nay có rất nhiều phương pháp biến tính bề mặt vật liệu đang được nghiên cứu và
phát triển, có thể chia thành ba nhóm chính là: Phương pháp vật lý – hóa học; Phương pháp
cơ học và phương pháp sinh học. Trong đó, đa dạng và phổ biến nhất là phương pháp vật lý –
hóa học, phương pháp này được chia thành ba nhóm nhỏ: thứ nhất là các phương pháp pha
khí – vật liệu được xử lý trong các môi trường khí chứa các phần tử hoạt động (gốc tự do,
electron, các phân tử bị kích thích) hay dưới các bức xạ điện từ (tia UV, tia γ, điện quang);
thứ hai là các phương pháp pha lỏng và khối – bao gồm các kỹ thuật tạo lớp phủ vật lý hoặc
thực hiện các phản ứng hóa học trên bề mặt vật liệu; thứ ba là kết hợp hai phương pháp thứ
nhất và thứ hai tạo ra các lớp polyme trùng hợp ghép trên bề mặt vật liệu, ngoài ra người ta
6
còn có thể biến tính bề mặt vật liệu trong những môi trường khí được phóng điện với tần số
cao – môi trường plasma, kỹ thuật này có tác dụng chủ yếu là ăn mòn bề mặt, tạo các liên kết
ngang trên bề mặt và phủ một lớp polyme mới lên trên bề mặt của vật liệu nền. Phương pháp
cơ học chủ yếu là làm nhám bề mặt vật liệu (roughing). Phương pháp biến tính sinh học gồm
có: hấp phụ vật lý các phân tử sinh học (protein, lipid, receptor, ) lên bề mặt vật liệu, tạo liên
đo thể tích dịch lọc theo thời gian, cứ sau mỗi 5 phút lại ghi thể tích dịch lọc một lần. Sau đó
áp dụng công thức (2.2) để tính năng suất lọc tại thời điểm tương ứng.
2.2.3. Đánh giá độ bền của màng trong các môi trường pH khác nhau
Màng được ngâm trong các dung dịch có pH khác nhau (từ 2 đến 10) trong 30 phút, sau đó
tiến hành đánh giá các thông số năng suất lọc và độ lưu giữ của màng sau khi ngâm so với
năng suất lọc và độ lưu giữ của màng ban đầu.
2.2.4. Đánh giá khả năng phục hồi năng suất lọc bằng phương pháp rửa
Màng sau khi lọc được rửa lần lượt bằng nước cất và các dung dịch rửa Na
5
P
3
O
10
2%, axit
xitric 2%, sau mỗi lần rửa đo độ thấm nước của màng. Khả năng phục hồi năng suất lọc của
màng được xác định bằng cách so sánh độ thấm nước của màng trước và sau khi rửa.
2.2.5. Biến tính bề mặt màng lọc
Bề mặt màng được biến tính bằng phương pháp trùng hợp ghép dưới bức xạ tử ngoại. Các
dung dịch monome được sử dụng trong quá trình trùng hợp bao gồm axit acrylic và axit
maleic. Ảnh hưởng của thời gian và phương thức tiến hành trùng hợp đến tính năng tách của
màng được đánh giá qua các thông số: Khả năng lưu giữ (tách) thuốc nhuộm, năng suất lọc và
độ giảm năng suất lọc của màng trong quá trình tách.
Chiếu bức xạ tử ngoại
Màng nền được chiếu bức xạ tử ngoại trực tiếp trong những khoảng thời gian xác định, để
màng ở nhiệt độ phòng sau khoảng 24 tiếng đồng hồ và tiến hành đánh giá khả năng tách của
màng.
Trùng hợp ghép song song:
Màng nền được chiếu bức xạ tử ngoại trong điều kiện xác định, sau đó ngâm trong các
dung dịch monome đồng thời chiếu bức xạ tử ngoại trong những khoảng thời gian khác nhau,
sấy khô màng và giữ màng ở nhiệt độ phòng sau khoảng 24 tiếng đồng hồ tiến hành đánh giá
-1
, góc quét
phổ 30
0
.
Các kết quả và thảo luận được tóm tắt trong phần sau:
3. Khảo sát điều kiện tách loại thuốc nhuộm
3.1 Ảnh hưởng của nồng độ thuốc nhuộm trong dung dịch
Kết quả thực nghiệm cho thấy, năng suất lọc qua màng khá ổn định và có xu hướng
giảm dần khi nồng độ thuốc nhuộm trong dung dịch ban đầu tăng. Ở cùng điều kiện, trong 3
loại thuốc nhuộm, dung dịch Blue MERF cho năng suất lọc thấp nhất, dung dịch Yellow 3GF
cho năng suất lọc cao nhất. Sự giảm năng suất lọc khi nồng độ thuốc nhuộm trong dung dịch
tăng lên là do sự phân cực nồng độ giữa hai phía màng và một phần do sự hấp phụ của thuốc
nhuộm lên màng trong quá trình tách, làm tăng trở lực chuyển khối qua màng. Kết quả thực
nghiệm cũng cho thấy, trong tất cả các thí nghiệm, dịch lọc thu được đều không có màu. Điều
đó có nghĩa là trong vùng nồng độ khảo sát, màng có khả năng lưu giữ được gần như hoàn
toàn thuốc nhuộm trong dung dịch.
3.2. Ảnh hưởng của mức độ cô đặc dung dịch
Kết quả xác định năng suất lọc và độ giảm năng suất lọc theo thời gian cho thấy, trong
vùng nồng độ khảo sát, năng suất lọc giảm dần khi mức độ cô đặc tăng, tuy nhiên độ giảm
năng suất lọc nói chung không lớn lắm.
9
3.3. Ảnh hưởng của áp suất dòng qua module màng
Kết quả thực nghiệm cho thấy, năng suất lọc của màng tăng khá mạnh theo áp suất dòng
qua module, ví dụ, khi áp suất dòng qua module tăng từ 0.5 atm đến 2.5 atm thì năng suất lọc
tăng khoảng 2.5 lần, trong khi màng vẫn có thể lưu giữ được gần như hoàn toàn thuốc nhuộm
trong dung dịch. Trên thiết bị lọc màng tự lắp đặt, do công suất của máy bơm nhỏ nên chúng
tôi không khảo sát được ở các áp suất dòng vào cao hơn.
Thực tế, các loại màng lọc thương mại chế tạo dùng cho lọc nano và thẩm thấu ngược có
Để đánh giá ảnh hưởng của pH, chúng tôi đã tiến hành thí nghiệm như sau: màng
Filmtech TW30 được cắt thành các tấm vừa với kích thước của thiết bị lọc gián đoạn và được
ngâm 30 phút trong các dung dịch có pH từ 2 đến 10, sau đó màng được rửa sạch và dùng để
lọc dung dịch thuốc nhuộm Red 3BF nồng độ 30ppm trên thiết bị lọc gián đoạn. Kết quả thực
nghiệm đánh giá ảnh hưởng của pH đến tính năng tách của màng sau khi ngâm trong các dung
dịch có pH khác nhau được đưa ra ở Hình 3.1 cho thấy, trong khoảng pH từ 5 đến 8, tính
năng tách của màng không bị ảnh hưởng nhiều. Trong khoảng pH nhỏ hơn 5 và lớn hơn 8,
năng suất lọc của màng tăng lên nhưng khả năng lưu giữ thuốc nhuộm của màng suy giảm so
với màng ban đầu. Ảnh chụp SEM cho thấy bề mặt màng đã bị ảnh hưởng bởi các môi
trường quá axit hoặc quá kiềm, trong đó môi trường axit có tác động mạnh hơn so với môi
trường kiềm.
3.7. Kết quả tách thuốc nhuộm trên một số mẫu nước thải nhuộm thực tế
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát khả năng tách thuốc nhuộm dư trong một số mẫu nước
thải nhuộm thực tế bằng phương pháp lọc màng, sử dụng màng lọc Filmtech TW30. Các mẫu
nước thải nhuộm được lấy ở xưởng nhuộm tư nhân tại Hoài Đức, Hà nội.
Khi kiểm tra pH của các mẫu nước thải thực tế, các kết quả đo đều cho giá trị pH ban
đầu lớn hơn 9 và có mùi rất khó chịu. Trước khi lọc qua màng, các mẫu dung dịch được điều
chỉnh về pH trung tính. Hàm lượng tổng chất rắn lơ lửng (TSS) trong các mẫu dung dịch nước
thải nhuộm ban đầu nằm trong trong khoảng 70 -100, sau khi lọc giá trị TSS đạt gần về 0.
Kết quả so sánh trực quan màu của các dung dịch nước thải nhuộm trước và sau khi lọc
qua màng được đưa ra ở Hình 3.16. Tính chất các mẫu nước thải trước và sau xử lý đưa ra ở
Bảng 3.4 cho thấy, các mẫu nước thải nhuộm sau khi lọc qua màng đều đạt chất lượng tốt về
tiêu chuẩn dòng thải đối với các chỉ tiêu về màu sắc và các thông số COD, BOD, chất rắn lơ
lửng. Mặt khác, dịch lọc thu được có thể được quay vòng lại dùng làm nước cấp cho quá trình
nhuộm, dịch thuốc nhuộm lưu giữ được thu gom và xử lý tập trung hoặc tái sử dụng lại.
4. Khả năng giảm fouling cho quá trình lọc tách thuốc nhuộm qua màng
4.1. Làm sạch màng bằng phương pháp rửa
11
Trong quá trình lọc dung dịch thuốc nhuộm qua màng, năng suất lọc của màng thường
3
O
10
và đạt 98.7 % sau khi tiếp tục rửa bằng axit citric. Điều đó chứng tỏ, màng có khả năng được
làm sạch và tái sử dụng tốt bằng phương pháp rửa với các tác nhân rửa trên.
4.2. Biến tính bề mặt màng
4.2.1. Tác động bức xạ tử ngoại lên bề mặt màng
Trong thí nghiệm này, bề mặt màng FilmtechTW30 được chiếu bức xạ tử ngoại với
cường độ 30W và 60W trong các khoảng thời gian khác nhau, khoảng cách từ nguồn bức xạ
đến bề mặt màng là 20 cm. Sau đó, màng được kiểm tra tính năng tách với dung dịch thuốc
nhuộm Red 3BF nồng độ 30 ppm trên thiết bị lọc gián đoạn ở áp suất xác định. Kết quả thực
nghiệm cho thấy, sau khi tác động bức xạ tử ngoại lên bề mặt màng, khả năng lưu giữ thuốc
nhuộm của màng được duy trì tốt trong khi năng suất lọc của màng tăng mạnh so với màng
nền ban đầu. Tốc độ giảm năng suất lọc của màng chậm hơn và có xu hướng trở nên ổn định
khi thời gian lọc kéo dài.
Kết quả thực nghiệm cho thấy, độ giảm năng suất lọc của các màng sau khi chiếu bức xạ tử
ngoại thấp hơn nhiều so với màng không có tác động bức xạ tử ngoại (giảm từ 47% đối với
màng ban đầu xuống 15% sau khi được chiếu bức xạ). Trong các điều kiện đã khảo sát, màng
được tác động bức xạ cường độ 60W trong thời gian 3 phút cho năng suất lọc ban đầu cao
12
nhất, nhưng tốc độ giảm năng suất lọc của màng này lớn hơn so với các màng được chiếu bức
xạ cường độ 30W trong thời gian 1 phút và 2 phút. Màng được chiếu bức xạ cường độ 60W
trong 1 phút có năng suất lọc thấp hơn so với các màng khác, tuy nhiên năng suất lọc của
màng này vẫn cao gấp 2 lần so với màng nền ban đầu. Sự tăng năng suất lọc có thể do hai
nguyên nhân: (1) Sự mở rộng nhẹ kích thước lỗ bề mặt màng và (2) sự tăng tính ưa nước của
bề mặt sau khi chiếu bức xạ.
Trong những điều kiện đã khảo sát, có thể thấy màng được tác động bởi bức xạ cường
độ 60W trong thời gian 1 phút cho kết quả tốt nhất, sau khi chiếu bức xạ ở điều kiện này,
Bề mặt màng nền được chiếu bức xạ tử ngoại cường độ 60W trong 1 phút, sau đó
ngâm màng trong dung dịch monome axit maleic 5% với các khoảng thời gian khác nhau, rửa
sạch, sấy khô và tiến hành đánh giá khả năng tách của màng với dung dịch thuốc nhuộm Red
3BF nồng độ 30ppm trên thiết bị lọc gián đoạn. Các kết quả thực nghiệm được trình bày trong
cho thấy, năng suất lọc của màng sau khi trùng hợp đều cao hơn, độ giảm năng suất lọc chậm
hơn và ổn định hơn so với màng nền. Khoảng thời gian trùng hợp trong 3 phút cho kết quả tốt
nhất, năng suất lọc tăng gấp khoảng 3-4 lần so với màng nền. Độ lưu giữ của màng sau khi
trùng hợp ghép bằng phương pháp nối tiếp trong các điều kiện này là tương đương so với
phương pháp song song.
Kết quả so sánh cho thấy, trong cùng điều kiện trùng hợp, lượng polyme trùng hợp ghép
lên màng bằng phương pháp song song lớn hơn so với lượng polyme trùng hợp ghép bằng
phương pháp nối tiếp. Điều đó chứng tỏ tốc độ trùng hợp ghép bằng phương pháp song song
lớn hơn tốc độ trùng hợp trong phương pháp nối tiếp.
Kết quả thực nghiệm cho thấy, trong quá trình lọc lượng thuốc nhuộm bị hấp phụ lên màng
trùng hợp ghép theo phương pháp song song nhỏ hơn lượng thuốc nhuộm bị hấp phụ lên
màng trùng hợp ghép theo phương pháp nối tiếp. Sự giảm lượng thuốc nhuộm bị hấp phụ lên
màng không chỉ làm tăng năng suất lọc mà còn làm cho độ giảm năng suất lọc của màng theo
thời gian chậm hơn.
Bên cạnh đó chúng tôi còn tiến hành trùng hợp ghép với axit acrylic và so sánh cùng axit
maleic, theo cả phương pháp nối tiếp và song song, kết quả thực nghiệm cho thấy, năng suất
lọc của màng trùng hợp ghép với MA cao hơn so với màng trùng hợp ghép AA, khả năng lưu
giữ của các màng tương đương nhau và đều cao hơn màng nền.
5. Kết luận
a. Phương pháp lọc màng tỏ ra rất hiệu quả trong việc tách thu hồi thuốc nhuộm dư trong
dòng thải nhuộm. Các loại màng lọc Filmtech TW30 và Saehan có khả năng lưu giữ
gần như hoàn toàn thuốc nhuộm trong dung dịch. Dung dịch sau khi lọc qua màng
trong và không có màu, các giá trị COD và BOD đều giảm mạnh (từ 95 đến 97%) so
14
với dung dịch ban đầu. Hiệu suất của quá trình tách phụ thuộc vào loại thuốc nhuộm,
học, Trường ĐHKHTN- ĐHQGHN.
10. Trịnh Lê Hùng (2007), Kỹ thuật xử lý nước thải, Nhà xuất bản Giáo Dục
15
11. Trần Tứ Hiếu, Từ Vọng Nghi, Nguyễn Văn Ri, Nguyễn Xuân Trung (2007), Hóa học
phân tích phần II: Các phương pháp phân tích công cụ, Nhà xuất bản Khoa học kỹ
thuật.
12. Phạm Luận (2003), Phương pháp phân tích phổ nguyên tử, Nhà xuất bản Đại học
Quốc Gia Hà Nội.
13. Đặng Văn Nghiêm (2006), Nghiên cứu chế tạo màng lọc nano từ vật liệu xenlulo
axetat và khả năng tách kim loại nặng của màng, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học
Khoa học Tự nhiên, Hà Nội.
14. Trịnh Văn Nhân, Ngô Thị Nga (1999), Giáo trình công nghệ sử lý nước thải, Nhà xuất
bản Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội.
15. Nguyễn Hữu Phú (2001), Cơ sở lý thuyết và công nghệ xử lý nước tự nhiên, Nhà xuất
bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.
16. Quy chuâ
̉
n ky
̃
thuâ
̣
t quốc gia: QCVN 01:2009/BYT, QCVN 02:2009/BYT
17. Tiêu chuâ
̉
n Viê
̣
t Nam: TCVN 4574-88, TCVN-4578-88.
18. Nguyễn Hoa Thịnh, Nguyễn Đình Đức (2002), Vật liệu composite cơ học và công nghệ,
Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.
Ultrafiltration Technology in the Food Processing Industry”, The Sixth Annual
Membrane Technology/Planning Conference, Cambridge.
30. C. Visvathan (1994), Waste Minimization Opporturnities in Textile Dyeing Industry,
AIT, Publication, First Edition.
31. Dattatray S. Wavhal, Ellen R. Fisher (2004), “Modification of polysulfone ultrafiltration
membranes by CO2 plasma trebarent”, Desalination, Vol.172, pp. 189–205.
32. E. Drioli, L. Giorno (1987), Membrane Operation, Wiley-VCH, Weinheim
33. Figoli A., De Luca G., Lamerata F., and Drioli E. (2006), “Preparation and
characterization of novel PEEKWC capsules by phase inversion technique”,
Desalination, Vol. 199, pp. 115–117.
34. Figoli A., De Luca G., Longavita E., and Drioli E. (2007), “PEEKWC Capsules
Prepared by Phase Inversion Technique: A Morphological and Dimensional
Study”, Separation Science and Technology, Vol. 42, pp. 2809 – 2827.
35. Gijsbertsen A. J. Abrahamse, van der Padt A., and Boom R. M. (2004), “Status of
cross-flow membrane emulsification and outlook for industrial application”,
Journal of Membrane Science, Vol. 230, pp. 149–159.
36. Hyun-Ah Kim, Jae-Hoon Choi, Satoshi Takizawa (2007), “Comparison of initial
filtration resistance by pretrebarent processes in the nanofiltration for drinking water
trebarent”, Separation and Purification Technology, 56, 354–362.
17
37. J. P.van’ Hul, I G Rascz and T Reith (1997), The application of membrane technology
for reuse of process water and minimisatation of waste water in a textile washing range,
p 287 – 294. JSDC volume 113, OCTOBER .
38. LIU Feini, ZHANG Guoliang, MENG Qin and ZHANG Hongzi (2008), “Performance
of Nanofiltration and Reverse Osmosis Membranes in Metal Effluent Trebarent”,
Chinese Journal of Chemical Engineering, 16 (3), 441-445.
39. M. Muder (1998), Basic Principles of Membrane Technology, Kluwer Academic
Publisher, Dordrecht
40. M. Gholi, S. Nasseri, M. R. Alizadeh Fard, A. Mesdaghina, F Vaeri, A. Mahvil, K