MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 3
2. Mục đích của đề tài 4
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 5
Chương 1 TNG QUAN CC GII PHP CI TO, PHC HI MÔI TRƯNG
TRONG KHAI THC KHONG SN TRÊN TH GII V Ở VIT NAM 7
1.1. CC GII PHP CI TO, PHC HI MÔI TRƯNG TRONG KHAI
THÁC LỘ THIÊN TRÊN TH GII
7
1.1.1. Tại Liên Xô cũ 7
1.1.2. Tại Liên bang Đức 8
1.1.3. Tại Mỹ 8
1.1.4. Tại Vương quốc Anh 9
1.1.5. Tại Brazin 9
1.1.6. Tại Guinea 10
1.1.7. Tại Úc 10
1.1.8. Tại Peru 11
1.2. CC GII PHP CI TO, PHC HI MÔI TRƯNG TRONG KHAI
THC Đ LỘ THIÊN TI VIT NAM
12
1.2.1. Tình hình khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường tại
Việt Nam. 12
1.2.2. Các giải pháp hoàn thổ phục hồi môi trường đang được áp dụng ở các
vùng khai thác khoáng sản ở Việt Nam 13
1.2.3. Một số giải pháp phục hồi môi trường trong khai thác lộ thiên đá vôi 16
1.2.4. Tổng quan vấn đề cần nghiên cứu: 23
Chương 2 NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ THUYT V DỮ LIU VẬN DNG TRONG
3.3.2. Quy trình khai thác 51
3.3.3. Phương pháp và phương tiện nổ mìn 53
3.4. CC HOT ĐỘNG CỦA DỰ N V NGUYÊN NHÂN GÂY Ô NHIỄM
CHÍNH 53
3.4.1. Các nguyên nhân gây ô nhim nước 53
3.4.2. Các nguyên nhân gây ô nhim đất 56
3.4.3. Các nguyên nhân gây ô nhim không khí 57
3.5. ĐNH GI CC TC ĐỘNG SN XUẤT V CC GII PHP GIM
THIỂU TC ĐỘNG MÔI TRƯNG
61
3.5.1. Tác động đến môi trường nước và các biện pháp giảm thiểu 61
3.5.2. Tác động đến môi trường không khí, tiếng ồn và các giải pháp giảm
thiểu 62
3.5.3. Tác động đến môi trường đất, cảnh quan môi trường, tài nguyên sinh vật
và các giải pháp giảm thiểu 65
3.5.4. nh hưởng đến con người 70
Chương 4 ĐỀ XUẤT CC GII PHP NHM CI TO V PHC HI MÔI
TRƯNG KHU VỰC MỎ Đ NÚI ÔNG VOI 72
4.1. CƠ SỞ ĐỀ XUẤT CC GII PHP KH THI 72
4.1.1. Nội dung công tác cải tạo phục hồi môi trường 73
4.1.2. Lựa chọn phương án cải tạo phục hồi môi trường 73
4.2. CC GII PHP KỸ THUẬT PHC HI ĐỊA HÌNH
79
4.2.1. Cải tạo đáy mỏ khai thác theo tng giai đoạn, tng năm. 80
4.2.2. Cải tạo phục hồi môi trường khu vực mặt bằng chế biến và khu văn
phòng cuối giai đoạn khai thác 83
4.2.3. Tổ chức thực hiện 84
4.2.4. Các giải pháp để giảm thiểu tác động xấu, phòng nga và ứng phó sự cố
môi trường trong quá trình cải tạo và phục hồi môi trường 85
Bảng 2.3: Chiều cao xáo trộn 33
Bảng 2.4: Tải lượng các chất ô nhim chính của nước thải sinh hoạt 36
Bảng 2.5: Giá trị hệ số K 37
Bảng 3.1: Bảng toạ độ các điểm góc 1, 2, 3, 4 hệ tọa độ VN 2000, kinh tuyến trục 1050
múi chiếu 30 khu khai thác và khu phụ trợ 41
Bảng 3.2: Các yếu tố vi khí hậu tại khu vực mỏ 46
Bảng 3.3: Kết quả đo tiếng ồn tại khu vực mỏ 46
Bảng 3.4: Kết quả đo bụi và khí độc tại khu vực mỏ 47
Bảng 3.5: Kết quả phân tích chất lượng nước mặt khu vực 48
Bảng 3.6: Các thông số chính của hệ thống khai thác 51
Bảng 3.7: Nguồn phát sinh ô nhim của dự án 53
Bảng 3.8: Tải lượng và nồng độ các chất ô nhim chính của nước thải sinh hoạt của
cán bộ công nhân viên khai thác mỏ núi Ông Voi 55
Bảng 3.9: Đặc trưng nguồn ô nhim không khí tại mỏ khai thác đá 59
Bảng 3.10: Nguồn phát sinh khí bụi trong các hoạt động của dự án 59
Bảng 3.11: Tải lượng bụi sinh ra do các hoạt động khai thác và chế biến hằng năm
tại mỏ đá núi Ông Voi, xã Thanh Thuỷ 60
Bảng 3.12: Tải lượng khí thải phát sinh do sử dụng nhiên liệu động cơ và nổ mìn 60
Bảng 3.13: Nồng độ bụi, khí thải ở khu vực mỏ trong giai đoạn khai thác 63
Bảng 3.14: Sự thay đổi độ ồn theo khoảng cách 65
Bảng 4.1: Chi phí phục hồi đất khu vực mỏ đá Núi Ông Voi (G
P1
) 75
Bảng 4.2: Chi phí phục hồi đất khu vực mỏ đá Núi Ông Voi (G
P2
) 77
Bảng 4.3: Kết quả tính toán hệ số ph ục hồi đất các phương án 79
Bảng 4.4. Tiến độ thực hiện dự án cải tạo, phục hồi môi trường 84
Bảng 4.5: Danh mục thiết bị máy móc sử dụng trong hoạt động cải tạo 85
Bảng 4.6: Chương trình quan trắc môi trường 95
DANH MỤC TỪ VIÊT TĂT
BCK
:
Bản cam kết bảo vệ môi trường
BOD
5
:
Nhu cầu ô xy hoá sinh hoá (sau 5 ngày)
BTNMT
:
Bộ Tài nguyên và Môi trường
BYT
:
Bộ Y tế
COD
:
Nhu cầu ô xy hoá hoá học
CTR
:
Chất thải rắn
ĐT
:
Đường tỉnh
ĐTM
:
Báo cáo đánh giá tác động môi trường
KH & CN
:
Tài nguyên và môi trường
UBMTTQ
:
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
UBND
:
Ủy ban nhân dân
UNESCO
:
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc
USA
:
Nước Mỹ
VLXD
:
Vật liệu xây dựng
VNĐ
:
Việt Nam đồng
WHO
:
Tổ chức y tế thế giới
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước việc khai thác và sử
dụng các vật liệu xây dựng là rất cần thiết, đá xây dựng là vật liệu không thể thiếu
và hầu như được khai thác ở tất cả các địa phương trên cả nước. Trên địa bàn tỉnh
Hà Nam, hoạt động khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng đã góp phần rất lớn
LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Bùi Ngọc Hà
Ngành: Lớp CH19MT
Ngành: Khoa học Môi trường
Trường: Đại học Thủy Lợi
Tôi xin cam đoan quyển luận văn này được chính tôi thực hiện được
sự hướng dẫn can Thầy giáo PGS.TS. Lê Đình Thành với đề tài nghiên cứu
trong luận văn “Nghiên cứu những tác động chính can dự án khai thác đá
núi Ông Voi và đề xuất các giải pháp cải tạo, phục hồi môi trường”.
Đầy là đề tài nghiên cứu mới, không giống với các đề tài luận văn nào
trước đây do đó không có sự sao chép can bất kì luận văn nào. Nội dung luận
văn được thể hiện theo đúng quy định, các nguồn tài liệu, tư liệu nghiên cứu
và sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn nguồn.
Nếu xẩy ra vấn đề gì với nội dung luận văn này, tồi xin chịu hoàn toàn
trách nhiệm theo quy định./.
NGƯỜI VIẾT CAM ĐOAN
Bùi Ngọc Hà
1
2
Hình 0.1. Bản đồ phân bố đá vôi ở Việt Nam
3
Khai thác, sản xuất đá làm vật liệu xây dựng của các nước trên thế giới rất
được quan tâm và đầu tư những thiết bị cơ giới cỡ lớn có năng suất làm việc cao,
dùng đồng bộ được trên các mỏ lộ thiên, ngoài ra tùy thuộc vào địa chất, mục đích
khai thác còn sử dụng những thiết bị chuyên dùng riêng cho các mỏ đá. Phương
hướng chung là sử dụng các loại thiết bị cỡ lớn trong xúc bốc, có mức độ tự động
hóa cao trong khoan lỗ mìn, làm theo phương thức liên tục trong vận tải và vạn
năng trong khâu gia công chế biến.[12]
Hiện nay hầu hết các tỉnh trên cả nước đều có các cơ sở khai thác đá, riêng ở
miền Bắc đã có tới 340 mỏ quy mô khai thác lớn và rất nhiều các điểm khai thác đá
vôi với quy mô nhỏ đang hoạt động. Hiện nay, đá vôi ở nước ta chủ yếu được khai
thác để phục vụ cho làm đường giao thông, sản xuất xi măng. Một phần lượng đá vôi
phục vụ cho các ngành khác như luyện kim, thuỷ tinh, sản xuất hóa chất.[33]
1. Tính cấp thiết của Đề tài
Ở Việt Nam, hoàn thổ phục hồi môi trường trong khai thác và chế biến khoáng
sản vẫn còn là một vấn đề rất mới mẻ cả về cơ chế chính sách cũng như công nghệ
và biện pháp tổ chức thực hiện. Đến nay việc hoàn thổ phục hồi môi trường chưa
có được vai trò quan trọng thực sự trong hoạt động sản xuất của ngành mỏ. Phần
lớn các vùng đã khai thác khoáng sản ở Việt Nam vẫn chưa được hoàn thổ phục hồi
môi trường, nhiều nơi đang bị suy thoái, hoang hoá và đang phải gánh chịu hậu quả
của các tác động do khai thác, chế biến khoáng sản trước đây và hiện tại do chưa
được cải tạo, phục hồi gây ra.
Hiện tại trên địa bàn tỉnh Hà Nam đến hết năm 2012, đã cấp 119 giấy phép
khai thác đá các loại với quy mô cấp tỉnh và 06 giấy phép cấp Bộ còn thời hạn khai
thác. Trong tổng số 125 mỏ, điểm mỏ đã được cấp phép có 87 điểm mỏ đang hoạt
- Chuyển đổi các khu vực có giá trị bảo tồn thấp, năng suất thấp trở thành khu
vực có giá trị sử dụng, có giá trị sinh học, an toàn và ổn định.
Để đạt được mục tiêu bảo vệ môi trường, các giải pháp cải tạo phục hồi được
tác giả luận văn đề xuất gồm:
- Đánh giá và xác định được các tác động chính của dự án khai thác đá núi
5
Ông Voi tới môi trường tự nhiên và xã hội khu vực xung quanh dự án.
- Đề xuất được các giải pháp bảo vệ môi trường và cải tạo phục hồi môi
trường phù hợp, hiệu quả nhất nhằm trả lại cảnh quan, môi trường của dự án đã bị
khai thác.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Đánh giá các vấn đề môi trường chính cần
phải giải quyết nhằm giảm thiểu ô nhim và đưa ra phương án cải tạo, phục hồi môi
trường phù hợp ngay t giai đoạn bắt đầu khai thác Khu vực khai thác của mỏ đá
núi Ông Voi, xã Thanh Thủy, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam (vị trí dự án liên hệ
với các vùng xung quanh trên địa bàn tỉnh thể hiện tại bản đồ địa chính tỉnh Hà
Nam phụ lục 1 và bản đồ huyện Thanh Liêm phần phụ lục 2).
Phạm vi nghiên cứu: Ngoài các hoạt động khai thác đá vôi trên địa bàn tỉnh Hà
Nam còn nghiên cứu thêm một số mỏ đá vôi ở một số tỉnh ngoài như: Kiên Giang,
Quảng Ninh, sau đó có thể nhân rộng mô hình áp dụng trên địa bàn toàn quốc.
4. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Tiếp cận trong nghiên cứu đề tài này trên cơ sở tổng hợp và mang tính hệ
thống với nền tảng là điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực cùng với các nhu
cầu phát triển và bảo vệ môi trường. Do vậy để đạt được mục tiêu và nội dung của
đề tài luận văn cần sử dụng các phương pháp cụ thể sau đây:
- Thu thập tài liệu và khảo sát thực địa: Thu thập đầy đủ các tài liệu, thông tin
sẵn có hoặc số liệu thống kê ở địa phương về các vấn đề liên quan đến nội dung
nghiên cứu. Khảo sát thực địa khu vực thực hiện dự án t đó xác định hiện trạng
hoạt động của mỏ, vị trí để lấy mẫu tại hiện trường. T đó tổng hợp các số liệu thu
thập được, so sánh với tiêu chuẩn, quy chuẩn về môi trường của Việt Nam nhằm
1.1. CÁC GIẢI PHÁP CẢI TO, PHỤC HI MÔI TRƯỜNG TRONG KHAI
THÁC LỘ THIÊN TRÊN THẾ GII
Hoàn thổ là một quá trình nhằm hạn chế và khắc phục các tác động của ngành
khai thác mỏ lên môi trường. Hoàn thổ là một phần quan trọng trong quá trình phát
triển các nguồn nguyên liệu khoáng phù hợp với các nguyên tắc của phát triển bền
vững. Phát triển bền vững là xu thế tất yếu mà toàn nhân loại đang nỗ lực thực hiện,
đó cũng là mục tiêu chiến lược quan trọng mà Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt
Nam quyết tâm biến thành hiện thực. Phát triển bền vững được định nghĩa đầy đủ
trong Báo cáo Brundtland của Uỷ ban Thế giới về Môi trường và Phát triển. Định
nghĩa đơn giản về phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thoả mãn các nhu cầu
hiện tại của xã hội đồng thời bảo tồn hệ sinh thái vì những lợi ích lâu dài của các thế
hệ tương lai.[24]
Công việc cải tạo và phục hồi môi trường là một lĩnh vực mới mẻ trong công tác
bảo vệ môi trường ở Việt Nam. Do vậy, việc nghiên cứu, vận dụng, ứng dụng các thành
tựu khoa học, các kinh nghiệm đã có trong công tác cải tạo và phục hồi môi trường của
các nước trên thế giới là rất cần thiết để áp dụng cho phù hợp với điều kiện thực tế của
Việt Nam. Trong luận văn này tác giả tập trung nghiên cứu đánh giá một số giải pháp có
tính tiên tiến, hiệu quả và d áp dụng cho điều kiện nước ta.
1.1.1. Tại Liên Xô cũ
Tại Liên Xô cũ, thử nghiệm đầu tiên về phục hồi đất đai bằng phương pháp
sinh học được thực hiện giữa những năm 40 của Thế kỷ XX ở vùng Đônbat trên các
mỏ khai thác lộ thiên và hầm lò của nước cộng hòa Ucraina. Tại các mỏ khai thác lộ
thiên người ta tiến hành bóc các lớp đất đá màu trước khi tạo tuyến khai thác. Lớp
đất đá màu này được lưu giữ ở bãi thải để sử dụng sau này cho việc phục hồi đất.
Trên các bãi thải của mỏ lộ thiên Zapôrôxki đã tiến hành thử nghiệm trồng các loại
cây có giá trị kinh tế như nho, mận. Đến những năm 70, trồng cây trên các bãi thải
8
mỏ đã được phổ biến. Năm 1977, diện tích trồng cây trên các bãi thải đã lên tới 370
ha tại mỏ Krivôrôxki.
1.1.2. Tại Liên bang Đức
T năm 1953 ở nước Anh đã có những quy định về phục hồi đất đai như:
- Trước khi tiến hành khai thác khoáng sản cần phải bóc lớp đất đá dày 30 cm
và bóc lớp đất dưới lớp trồng cây 85 cm, lưu giữ riêng tại khu vực khác. Sau khi
hoàn thành công tác khai thác, lớp đất trên được sử dụng để hoàn trả lại mặt bằng
các khu vực đã sử dụng cho khai thác, trước đó khu vực này phải được làm sạch đất
đá, sét và bùn.
- Khi tiến hành chuẩn bị cho công tác khai thác người ta tiến hành đổ các lớp đất,
đá hóc sao cho chúng có thể bảo vệ khu vực xung quanh khỏi tiếng ồn và bụi. Trên các
khu vực tiến hành công tác khai thác mỏ cần phải xây dựng các khu rửa xe…
- Các lớp đất đá được bóc lên và đánh đống theo tng tầng khác nhau, theo thứ
tự gối lên nhau. Việc đổ thải như vậy tránh được việc chồng lấp các lớp đất lên
nhau, mất lớp đất màu. Khi kết thúc khai thác, thực hiện san lấp hoàn thổ bằng
chính các lớp đất đá đã bóc theo thứ tự ngược lại. Sau mỗi lớp đất, dùng xe chuyên
dụng đầm nén chặt khu vực san lấp. Sau quá trình san lấp, các hoạt động hoàn
nguyên và tái tạo cảnh quan được thực hiện. Thông thường, biện pháp hoàn nguyên
và tái tạo cảnh quan thường được sử dụng là trồng cây, tạo cảnh quan nhằm các
mục đích xây dựng các công trình công cộng cho cộng đồng.
1.1.5. Tại Brazil
Tại một mỏ quặng đồng có chứa vàng, được khai thác hầm lò với công suất
300.000 tấn/năm, toàn bộ trữ lượng của mỏ đã khai thác hết vào năm 1991 và công
việc hoàn thổ được tiến hành ngay sau đó. Do đây là một mỏ khai thác hầm lò nên
công tác hoàn thổ chỉ tập trung vào hồ thải quặng đuôi, bãi thải đất đá (có diện tích
bé) và một số công trình công nghiệp. Sau khi phân tích chất lượng đất (chủ yếu là
các kim loại độc hại và khả năng hình thành dòng axit mỏ) của nhà máy, người ta
đã tiến hành phủ lớp đất mặt và tái phủ xanh khu vực. Lớp đất mặt nguyên thuỷ
trước khi khai thác đã được bóc và lưu giữ trong quá tình xây dựng hồ thải quặng
10
đuôi đã được sử dụng để phủ lên trên. Lớp đất mặt này được bổ sung phân hoá học
giàu đạm và sau đó gieo hạt cỏ. Bãi thải đất đá được cải tạo, làm cho ổn định và có
hình dáng phù hợp địa mạo của khu vực, xây dựng hệ thống cống rãnh và phủ lớp
T khi bắt đầu khai thác năm 1963, Alcoa đã khôi phục được 12.594ha ở Tây
Úc và thu dọn 15.222ha khác. Trong năm 2005, Alcoa khôi phục được 5,6ha tại
Anglesea. Kiểm tra sau 18 tháng khôi phục thấy độ phong phú thực vật cao hơn so
với khu vực hoang không khai thác gần đấy.
Năm 2005, Chính quyền bang Victoria đã công nhận thành công của chương
trình khôi phục mỏ Anglesea và trao phần thưởng Strzelecki cho thành công phát
triển bền vững này.
1.1.8. Tại Peru
Đóng góp cho chương trình xã hội thông qua Quỹ khai khoáng Anymana.
Tháng 12/2006, Chính phủ Peru và ngành khai khoáng nước này thiết lập một
chương trình đóng góp chung 5 năm, nhằm mục đích tăng cường sự hỗ trợ t các
doanh nghiệp cho các chương trình xã hội ở những vùng nghèo khó nhất bằng hoạt
động khai khoáng.
Công ty Mỏ Antaimina trở thành công ty đầu tiên ký một thoả thuận riêng biệt
với chính quyền. Công ty đóng góp 3% lợi nhuận trước thuế vào Quỹ Khai khoáng
Anymana. Với số tiền đóng góp ban đầu hơn 64 triệu USD, chiếm tới 40% tổng
đóng góp của ngành khai khoáng giúp Quỹ hoạt động.
Công ty Antaimina sản xuất tinh quặng đồng và kẽm bằng công nghệ lộ thiên
ở vùng Andes, tỉnh Huari, vùng Ancash, cách thủ đô Lima khoảng 270 km về phía
Bắc. Tháng 2 - 2007, Antimana lập các uỷ ban đóng ở tỉnh Huaraz để tiếp nhận
thông tin và đưa ra những khuyến nghị liên quan đến các dự án và chương trình
được thực hiện bằng nguồn tiền t Quỹ này. Năm 2007, Quỹ đã hỗ trợ chương trình
y tế và dinh dưỡng nhằm cắt giảm suy dinh dưỡng thường xuyên của trẻ em; chăm
sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em; chương trình nâng cao chất lượng Giáo dục và
chương trình nâng cao tay nghề; tăng cường công tác quản lý địa phương và giúp
12
trang bị cho họ thu được những lợi ích t ngành công nghiệp khoáng sản
Peru.[28,29]
1.2. CÁC GIẢI PHÁP CẢI TO, PHỤC HI MÔI TRƯỜNG TRONG KHAI
THÁC ĐÁ LỘ THIÊN TI VIT NAM
không bảo đảm cho công tác phục hồi môi trường khi kết thúc khai thác (Điện Biên,
Sơn La v.v ). Tại một số địa phương các doanh nghiệp chưa thực hiện việc ký quỹ
do công tác này chưa được tổ chức thực hiện hoặc mới đang triển khai.
1.2.2. Các giải pháp hoàn thổ phục hồi môi trường đang được áp dụng ở các
vùng khai thác khoáng sản ở Việt Nam
Ở Việt Nam, hoàn thổ phục hồi môi trường vẫn còn là vấn đề mới mẻ cả về cơ
chế chính sách cũng như về công nghệ và giải pháp tổ chức thực hiện. Trước năm
1996, vấn đề hoàn thổ phục hồi môi trường chưa được đặt ra một cách nghiêm túc
đối với các hoạt động khai thác khoáng sản ở Việt Nam. Nhiều mỏ sau khi kết thúc
khai thác vẫn để lại nguyên trạng đất đá ngổn ngang, ngay cả việc khôi phục lại địa
hình địa mạo cũng không được tiến hành.
T khi Luật Khoáng sản ra đời, vấn đề hoàn thổ phục hồi môi trường được đề
cập nhiều hơn và được xem như một nhiệm vụ bắt buộc đối với các hoạt động khai
thác khoáng sản. Theo đó, mọi tổ chức cá nhân được phép hoạt động khai thác
khoáng sản phải chịu mọi chi phí và thực hiện hoàn thổ phục hồi môi trường sau khi
kết thúc tng giai đoạn hoặc kết thúc toàn bộ hoạt động khai thác khoáng sản. Theo
Luật Bảo vệ môi trường các dự án mới về khai thác và chế biến khoáng sản đều
phải lập báo cáo ĐTM, trong đó phải đề xuất được các giải pháp bảo vệ môi trường
trong quá trình hoạt động của dự án cũng như các giải pháp hoàn thổ phục hồi môi
trường sau khi kết thúc các hoạt động khai thác khoáng sản. Các giải pháp về bảo vệ
môi trường và hoàn thổ phục hồi môi trường, các yêu cầu về kinh phí bảo vệ môi
trường và hoàn thổ phục hồi môi trường phải được xác định trong báo cáo ĐTM, và
tiến hành ký quỹ phục hồi môi trường trước khi được cấp giấy phép khai thác. Tuy
nhiên, chúng ta chưa có được những chế tài cụ thể cho vấn đề này vì vậy kết quả
vẫn còn rất hạn chế.
14
Kết quả điều tra hiện trạng môi trường và hoạt động phục hồi môi trường tại
các vùng khai thác khoáng sản ở Việt Nam cho thấy công tác hoàn thổ phục hồi môi
trường ở các vùng khai thác khoáng sản còn chưa được chú trọng thực hiện đúng
mức, thiếu chế tài cụ thể và thiếu những nghiên cứu để đưa ra được mô hình và quy
Luật Bảo vệ môi trường và Luật Khoáng sản ra đời
Các mỏ hoạt động vào thời kỳ này không lập kế hoạch tổng thể về công tác cải
tạo, phục hồi môi trường, không phải ký quỹ hoàn thổ phục hồi môi trường. Vì vậy
thực trạng hoàn thổ phục hồi môi trường ở các đơn vị này rất khác nhau. Nhiều mỏ
đã đóng cửa nhưng vẫn chưa thực hiện công tác hoàn thổ phục hồi môi trường, vẫn
chiếm dụng đất và tiếp tục làm suy thoái đất đai. Một số mỏ để lại nguyên hiện
trạng đất đá ngổn ngang, một số mỏ khác có tiến hành hoàn thổ phục hồi môi
trường ở những khu vực thuận lợi với diện tích còn hạn chế. Các giải pháp hoàn thổ
được áp dụng ở các mỏ hoạt động trong thời gian này rất khác nhau, đó là các giải
pháp đơn giản, ít tốn kém như:
- Giải pháp “hoàn thổ tự nhiên”. Đó là các giải pháp đắp đê đập ở các khu vực đã
khai thác xong tạo thành nhiều bậc thang để giữ đất nằm lại trong các con đê này về mùa
mưa nhờ đó các bãi thải và đáy mỏ khai thác dần trở lại bằng phẳng sau đó chỉ cần cải
tạo sơ bộ và sử dụng cho các mục đích khác nhau (như ở Xí nghiệp thiếc Sơn Dương).
- Lựa chọn những khu vực phù hợp, thuận tiện cho việc hoàn thổ như không
cần phải san gạt đất đá hoặc khối lượng đất đá san lấp ít để cải tạo cho phù hợp với
mục tiêu sử dụng đất như:
+ Cải tạo bãi thải đất đá thành nơi xây dựng nhà nghỉ giữa ca cho công nhân,
xây dựng kho chứa vật liệu (ở mỏ thiếc Tĩnh Túc);
+ San gạt, cải tạo các bãi thải đất đá thành các khu vực xây dựng các công
trình phúc lợi, xây dựng trường học, nhà ở (ở Xí nghiệp thiếc Sơn Dương); thành
các khu vực trồng cây công nghiệp (ở Công ty TNHHNN một thành viên kim loại
màu Nghệ Tĩnh).
+ Cải tạo phần hồ thải quặng đuôi đã được thải đầy thành nơi trồng lúa nước
(như ở Công ty TNHHNN một thành viên kim loại màu Nghệ Tĩnh).
16
+ Cải tạo các hố khai thác xong thành ao nuôi cá (ở Xí nghiệp thiếc Sơn
Dương, mỏ pyrit Giáp Lai).
Tuy nhiên việc hoàn thổ ở các khu vực khai thác và chế biến khoáng sản thuộc
các đơn vị hoạt động t trước khi có các luật cũng chỉ mới giới hạn trên một diện
đến 60
0
), không đủ điều kiện để bố trí đường ô tô trên sườn núi, nên lựa
chọn hệ thống khai thác hỗn hợp: Khai thác theo lớp dốc - gạt chuyển, khai thác
theo lớp bằng - xúc chuyển và khai thác theo lớp bằng - vận tải trực tiếp.
Khi khai thác phần sâu của mỏ Bãi Voi - Cây Xoài dùng hệ thống khai thác lớp
nghiêng phục vụ cho thoát nước; khai thác đồng thời trên một số tầng (tối thiểu là 2
tầng). Công nghệ khai thác, áp dụng như phương pháp khấu theo lớp bằng vận tải trực
tiếp được thể hiện qua bảng thông số khai thác tại bảng 1.1.