LỜI CẢM ƠN
Luận văn Thạc sĩ với đề tài: “Nghiên cứu cơ sở khoa học và đề xuất các giải
pháp cải tạo, nâng cấp hệ thống tiêu Dậu Dương thuộc Huyện Tam Nông và
Huyện Thanh Thủy Tỉnh Phú Thọ” được hoàn thành tại Trường Đại học Thủy lợi
Hà Nội với sự giúp đỡ, chỉ bảo, hướng dẫn nhiệt tình của các thầy giáo, cô giáo, của
các đồng nghiệp và bạn bè.
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy PGS. TS Nguyễn Tuấn Anh,
người hướng dẫn khoa học đã rất chân tình hướng dẫn tác giả hoàn thành luận văn
này. Xin chân thành cảm ơn: Ban giám hiệu, các thầy cô giáo trong Khoa Kỹ thuật
tài nguyên nước, các thầy giáo cô giáo các bộ môn – Trường Đại học Thủy lợi Hà
Nội. Xin chân thành cảm ơn đến các cơ quan đoàn thể, đồng nghiệp, bạn bè đã giúp
đỡ và góp những ý kiến quý báu trong luận văn này.
Cuối cùng xin cảm tạ tấm lòng của những người thân trong gia đình, đã tin
tưởng động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
này. Do hạn chế về trình độ cũng như thời gian và tài liệu thu thập, luận văn chắc
chắn không thể tránh khỏi các thiếu sót, tác giả rất mong nhận được sự thông cảm,
góp ý chân tình của các thầy cô và đồng nghiệp quan tâm tới vấn đề này.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Công Viễn
Nguyễn Công Viễn Luận văn Thạc sĩ
BẢN CAM KẾT
Tên tác giả: Nguyễn Công Viễn
Học viên cao học: 19CTN
hai huyện Tam Nông và Thanh Thủy đến cống tiêu tự chảy Dậu Dương ra sông
Hồng thuộc địa phận xã Dậu Dương huyện Tam Nông.
Tình trạng hiện nay của kênh Dậu Dương:
- Về chiều rộng mặt thoáng ngòi tiêu Dậu Dương kể từ khi hình thành đến nay
chưa được tôn tạo, nạo vét, lòng sông hiện nay bị thu hẹp nghiêm trọng trung bình
còn từ 3 đến 8m.
- Chất lượng nước: Toàn bộ mặt thoáng của sông bị bèo tây che phủ dày đặc,
bèo tây đã tích tụ ở sông năm này qua năm khác không được vớt làm cho nguồn
nước bị ô nhiễm, hôi thối ảnh hưởng dân sinh kinh tế trong vùng.
- Tác động của con người vào ngòi tiêu Dậu Dương: Con người dần dần đã
làm biến mất tính tự nhiên của ngòi tiêu, hai bên bờ của ngòi đang bị thu hẹp để làm
đất trồng rau màu. Dọc theo tuyến ngòi người dân còn đóng các cọc làm đăng bắt
cá, các cọc đăng bắt cá, các cọc đăng này đã gây tác hại khôn lường về mặt tiêu
nước.
Từ các nguyên nhân trên dẫn đến hiện trạng lòng ngòi tiêu Dậu Dương hiện
nay đang bị báo động về sự co hẹp mặt cắt ngang và mức độ bồi lắng lớn, tuyến
kênh quanh co uốn khúc do vài chục năm qua chưa được đề cập đến vấn đề nạo vét,
nắn chỉnh khơi thông dòng chảy, mặt cắt ngang và sự bồi lắng của ngòi Dậu Dương
đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hình hình tưới, tiêu nước trong vùng.
Nguyễn Công Viễn Luận văn Thạc sĩ
2
Về mùa lũ, kênh không còn đáp ứng được yêu cầu tiêu tự chảy, không chôn,
trữ được nước tiêu trong thời đoạn khó khăn về tiêu.
Về mùa kiệt, kênh cũng không còn đủ khả năng dẫn nước tự chảy, từ đầm Dị
Nậu về cấp cho các kênh nhánh, cống nước, trạm bơm cục bộ trong hệ thống để
tưới.
Vì vậy việc nghiên cứu mô phỏng, đánh giá hệ thống nhằm tạo các cơ sở khoa
học để đề xuất các giải pháp cải tạo, nâng cấp hệ thống tiêu Dậu Dương là hết sức
cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn.
- Đề xuất được giải pháp cải tạo nâng cấp hệ thống tiêu Dậu Dương – Phú Thọ
V. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
- MỞ ĐẦU
- CHƯƠNG I: Tình hình chung của khu vực nghiên cứu và hiện trạng của hệ
thống tiêu nước
- CHƯƠNG II: Cơ sở khoa học của các giải pháp cải tạo, nâng cấp hệ thống
tiêu Dậu Dương
- CHƯƠNG III: Đề xuất giải pháp cải tạo, nâng cấp hệ thống tiêu
- KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
- TÀI LIỆU THAM KHẢO
- PHỤ LỤC
Nguyễn Công Viễn Luận văn Thạc sĩ
4
CHƯƠNG 1: TÌNH HÌNH CHUNG CỦA KHU VỰC NGHIÊN
CỨU VÀ HIỆN TRẠNG CỦA HỆ THỐNG TIÊU NƯỚC
1.1. Điều kiện tự nhiên
1.1.1. Vị trí địa lý
Hệ thống tiêu Dậu Dương nằm bên bờ hữu sông Hồng, là địa phận giáp ranh
giữa hai huyện Tam Nông và Thanh Thủy.
Hình 1.1: Bản đồ vị trí hệ thống tiêu Dậu Dương
Tổng diện tích tự nhiên của lưu vực tiêu là 8.612,96 ha, gồm diện tích của 7 xã
và 1 thị trấn là: Cổ Tiết, Thị trấn Hưng Hóa, Hương Nộn, Thọ Văn, Dị Nậu, Dậu
Dương, Thượng Nông (Huyện Tam Nông), Đào Xá (Huyện Thanh Thủy). Vùng dự
Nguyễn Công Viễn Luận văn Thạc sĩ
5
án nằm dọc tuyến đê hữu sông Hồng dài trên 11km, là vùng trũng nhất của khu vực,
về phía Tây đồi núi càng dày và độ cao tăng dần, có đỉnh ở độ cao trên 200m; phía
Bề dày đã khoan của lớp này khoảng 7.0m ( xem bản vẽ địa chất).
Lớp 4: Lớp 4 phân bố chuyển trực tiếp dưới lớp 3, thành phần là đất sét màu
xám hồng, đốm xám vàng. Trạng thái dẻo mềm. Bề dày đã khoan của lớp này
khoảng 2.0m (xem bản vẽ địa chất).
Lớp 5: Lớp 5 phân bố chuyển trực tiếp dưới lớp 4, sét màu xám nâu, xám
xanh, nâu tím. Trạng thái dẻo cứng đến nửa cứng. Bề dày đã khoan của lớp này
trung bình khoảng hơn 9.0m (xem bản vẽ địa chất).
Lớp 6: Lớp 6 phân bố chuyển trực tiếp dưới lớp 4, sét màu xám nâu, xám đen
lẫn hữu cơ. Trạng thái dẻo chảy. Bề dày đã khoan của lớp này trung bình khoảng
hơn 3.0m (xem bản vẽ địa chất).
Lớp TK: Lớp TK là thấu kính bùn sét màu xám nâu, chỉ bắt gặp tại hố khoan
LK3. Bề dày đã khoan của thấu kính bùn sét này trung bình khoảng hơn 2.0m (xem
bản vẽ địa chất).
Lớp 7: Lớp 7 phân bố chuyển trực tiếp dưới thấu kính bùn sét, là lớp sét pha
lẫn dăm sạn màu nâu vàng, xám xanh, xám đen đốm trắng. Trạng thái từ dẻo cứng
đến nửa cứng. Bề dày đã khoan của lớp này trung bình khoảng hơn 5.0m (xem bản
vẽ địa chất).
1.1.4. Vật liệu xây dựng
Khu vực dự án nằm tiếp giáp với sông Hồng và cách sông Đà 4,5km, qua khảo
sát sơ bộ, chúng tôi thấy có khá nhiều bãi bồi cát sỏi. Tại một số nơi đang được
nhân dân, doanh nghiệp địa phương khai thác, quan sát thấy cát ở đây khá sạch, đa
phần là cát hạt nhỏ đến trung. Với vị trí địa lý như trên thì trữ lượng là không đáng
ngại để đáp ứng nhu cầu về vật liệu cát sỏi cho công trình.
1.1.5. Khí tượng, thủy văn
a. Lưới trạm thủy văn
Nguyễn Công Viễn Luận văn Thạc sĩ
7
Lưu vực vùng dự án nằm ở vùng trung du ven sông Hồng nên số lượng trạm
khí tượng phân bố tương đối dày, thời gian hoạt động dài, số liệu đáng tin cậy. Do
Phú Thọ
x
b. Yếu tố khí tượng
- Đặc điểm khí hậu:
Lưu vực vùng dự án nằm ở vùng trung du đồi núi thấp, là vùng chuyển tiếp từ
đồng bằng Bắc bộ với vùng núi cao, bởi đặc điểm địa hình và tính chất của vùng
nhiệt đới gió mùa. Do tác động của hai hệ thống gió mùa nên về mùa đông thường
chịu ảnh hưởng hoạt động của gió mùa Đông Bắc xuất phát từ áp cao Xiberi gây ra
thời tiết lạnh và khô. Nhưng mùa hè chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây nam từ xích
đạo hoặc Nam bán cầu hoặc vùng Tây Á thường vượt qua biển nên nóng ẩm gây
mưa nhiều. Vùng dự án giống như vùng đồng bằng hay vùng núi cao đều biến trình
nhiệt phân biệt rõ rệt theo hai mùa, hoặc đều có biến trình nhiệt ngày chênh lệch
khá lớn. Tình hình mùa đông thường lạnh và khô, còn mùa hè nóng ẩm mưa nhiều.
Đồng thời vùng lưu vực thường xuyên chịu ảnh hưởng của bão hoặc áp thấp nên
thường gây ra mưa lũ rất lớn. Vì lưu vực không thuộc trung tâm mưa lớn nhưng đột
ngột có năm 1980 xuất hiện 1 ngày mưa lớn nhất là 701,2mm. Tổng lượng mưa
trung bình nhiều năm chỉ là 1680,6mm, nhưng tổng lượng mưa mùa mưa chiếm tới
Nguyễn Công Viễn Luận văn Thạc sĩ
8
81% tổng lượng mưa năm. Đặc trưng khí tượng ở khu vực dự án được biểu hiện qua
số liệu thực đo của trạm Phú Hộ trình bày ở các mục sau.
- Nhiệt độ không khí:
28,6
28,0
27,0
24,9
21,4
18,0
23,5
T
max
29,5
30,0
35.3
37,4
41,2
39,7
38,8
37,2
36,4
34,5
33,0
31,6
41,2
T
min
5,2
6,3
9,6
13,0
Năm
τ
tb
%
84,7
86,6
88,0
87,0
84,0
84,4
85,5
86,8
84,5
84,0
81,8
83,2
85,0
Τ
min
%
29,0
30,0
32,0
43,0
34,0
39,0
47,0
49,0
28,0
29,0
Z
p
55,3
50,7
56,8
70,9
94,6
89,9
85,3
72,5
76,8
78,6
75,3
64,4
871,2
- Gió:
Do ảnh hưởng của địa hình hướng gió thịnh hành chung cho toàn khu vụ dự án
theo số liệu của trạm Dậu Dương là hướng Tây bắc hoặc Đông Nam. Trong năm có
hai mùa gió phân biệt, gió mùa đông thường bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 4 năm
sau với hướng chủ yếu là gió mùa Đông Bắc mang không khí lạnh và khô, gió mùa
hè với chủ yếu là gió tây nam hoặc gió tây xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 9. Tốc độ
gió lớn nhất tại Phú Hộ đo được là 24m/s xuất hiện vào năm 1994 và 1996. Kết quả
thống kê tốc độ gió từ chuỗi thực đo trạm Phú Hộ trình bày ở Bảng 1.5.
Bảng 1.5: Tốc độ gió trung bình, lớn nhất và hướng tại trạm Phú Hộ
(Đơn vị: m/s)
Tháng
I
II
13
14
14
18
20
24
16
18
13
14
12
24
24
Hướng
SE
SE,ESE
SE
NE
N
NW
NW
E
NW
SE
SE
SW
NW,SW
Nguyễn Công Viễn Luận văn Thạc sĩ
C
s
50%
75%
85%
90%
1673,6
0,25
1,00
1605,8
1368,8
1264,5
1202,2
d. Mực nước
- Mực nước trong đồng:
Mực nước lớn nhất trong đồng theo kết quả điều tra vết lũ lịch sử như sau:
+ Mực nước lũ lớn nhất năm 1971 tại vị trí trạm bơm Dậu Dương là: 17,20m
(nguyên nhân là do năm 1971 có xảy ra vỡ đê ở huyện Tam Nông nên mực nước
trong đồng mới lên đến 17,2m).
Nguyễn Công Viễn Luận văn Thạc sĩ
11
+ Mực nước lũ lớn nhất năm 1996 tại vị trí trạm bơm Dậu Dương là: 15,70m
- Mực nước ngoài sông:
Lựa chọn mực nước thiết kế ngoài sông Hồng tại vị trí cống thoát ra sông của
kênh tiêu Dậu Dương ứng với tần suất lũ 10%.
Sử dụng chuỗi tài liệu mực nước ngày trạm Phú Thọ trên sông Hồng nằm về
phía thượng lưu tuyến công trình, tiến hành thống kê, tính toán tần suất, kết quả như
sau:
183,9
1951,5
1914,2
Theo đề tài nghiên cứu lũ sông Hồng phục vụ bài toán phòng lũ hạ du sông
Hồng, độ dốc thường mực nước ứng trung bình với lũ 5% từ đoạn trạm thủy văn
Phú Thọ về tuyến kênh ra Dậu Dương là J
s
= 1,8x10
-4
.
Khoảng cách từ trạm thủy văn Phú Thọ về đến cửa ra của kênh Dậu Dương là
20.000m. Tương ứng chênh cao cột nước tại Dậu Dương xác định theo Bảng 1.8.
Bảng 1.8: Mực nước 1 ngày max sông Hồng tại vị trí trạm bơm tiêu Dậu
Dương
H
max
1%
(cm)
H
max
5%
(cm)
H
max
10%
(cm)
H
max
20%
(cm)
Tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp giai đoạn 2001-2007 bình quân đạt
8,77%. Đóng góp cho tốc độ tăng trưởng chung của ngành nông nghiệp phải kể đến
tốc độ tăng trường mạnh của ngành chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản. Tốc độ tăng
trưởng bình quân lĩnh vực chăn nuôi giai đoạn 2001-2007 là 11,38%, lĩnh vực thủy
sản là 15,49%. Lĩnh vực trồng trọt có tốc độ tăng trưởng bình quân là 6,68%.
1.2.4. Về cơ cấu sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nội bộ ngành nông nghiệp từ năm 2001 trở lại đây
diễn ra nhanh theo hướng tăng mạnh tỷ trọng GTSX lĩnh vực thủy sản, chăn nuôi và
giảm dần tỷ trọng lĩnh vực lâm nghiệp, trồng trọt. Chuyển dịch cơ cấu ngành nông
nghiệp cụ thể như sau:
a. Chuyển dịch cơ cấu lĩnh vực trồng trọt
Nguyễn Công Viễn Luận văn Thạc sĩ
13
Về sản xuất lương thực: Diện tích đất sản xuất lương thực tăng 5,22% trong
khi mặt bằng đất canh tác giảm 146 ha, diện tích tăng chủ yếu là do tăng vụ. Đã tích
cực triển khai đưa nhanh giống mới có năng suất cao nên đã đưa năng suất lúa từ
41,5 tạ/ha năm 2001, lên 44,0 tạ/ha năm 2007. Lương thực bình quân đầu người từ
321 kg năm 2001 lên 335 kg vào năm 2007, so với năm 2001 đã tăng 34,0 kg và
gấp 1,1 lần.
Đối với sản xuất lúa: đã chuyển dịch mạnh cơ cấu các trà lúa, giống lúa. Ở vụ
Đông xuân, đến nay toàn huyện chiếm trên 56% diện tích. Vụ mùa tăng trà lúa sớm
lên 55% tổng diện tích để mở diện tích cây trồng vụ đông. Vụ đông được chú trọng
chỉ đạo mở rộng qua các năm, đến nay đã là vụ sản xuất chính, diện tích cây trồng
vụ đông từ 1.389,5 ha năm 2001 lên 1.490,1 ha năm 2007, góp phần nâng cao thu
nhập trên đơn vị diện tích. Sự chuyển cơ cấu sản xuất trong nông nghiệp đã xuất
trong nông nghiệp đã xuất hiện nhiều mô hình sản xuất đạt hiệu quả kinh tế cao.
Cây công nghiệp dài ngày như cây sơn, diện tích trồng sơn năm 2007 là 445
ha, tăng 317,9 ha so với năm 2001, sản lượng nhựa sơn tăng 3,5 lần (tăng bình quân
mỗi năm 21%), giá trị tăng 3,1 lần.
tăng bình quân 15,49%/năm. Trong cơ cấu giá trị sản xuất thủy sản, tỷ trọng nuôi
trồng chiếm 90,6%, tỷ trọng khai thác tự nhiên giảm xuống còn 9,4%. Hình thức
sản xuất và nuôi trồng thủy sản đã chuyển từ quảng canh , phân tán sang tập trung
và thâm canh, bước đầu đưa các giống có năng suất, chất lượng cao vào sản xuất.
Đã có 27 trang trại nuôi trồng thủy sản chiếm 49% tổng số trang trại trên địa bàn,
trong đó khoảng 19 trang trại có doanh thu trên 50 triệu đồng/năm.
1.2.5. Các ngành kinh tế khác
Ngoài sản xuất nông, lâm nghiệp, trong tiểu lưu vực còn có một số nghề
nghiệp khác như: làm gạch, ngói, mộc, nề, dịch vụ, kinh doanh nhỏ. Tuy vậy số lao
động tham gia và tỷ trọng kinh tế không lớn.
Tóm lại, nền kinh tế trong vùng hiện tại nông nghiệp vẫn là chủ yếu. Tuy
nhiên sản xuất nông nghiệp còn nhiều hạn chế: năng suất cây trồng, vật nuôi chưa
cao. Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi còn gặp nhiều khó khăn có nhiều
nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân về hệ thống công trình thủy lợi chưa hoàn
Nguyễn Công Viễn Luận văn Thạc sĩ
15
chỉnh, không thường xuyên được duy tu bảo dưỡng, nạo vét với hệ thống kém hệ
quả.
1.3. Phương hướng phát triển kinh tế, xã hội trong vùng
Với mục tiêu chuyển Tam Nông và Thanh Thủy từ các huyện nông nghiệp
hiện nay trở thành một huyện trọng điểm về công nghiệp của tỉnh Phú Thọ giai đoạn
2010 – 2020, phương hướng và mục tiêu phát triển kinh tế cho vùng như sau:
- Phát triển dịch vụ, thương mại, du lịch và đô thị gắn liền với phát triển công
nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực, cải thiện rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa, tinh
thần của nhân dân, thay đổi căn bản bộ mặt nông thôn, bảo vệ môi trường và cảnh
quan khu vực, đưa Tam Nông là một huyện phát triển mạnh về kinh tế, ổn định về
chính trị, an toàn xã hội được đảm bảo.
- Tốc độ tăng trưởng GTSX trên địa bàn bình quân thời kỳ 2008 - 2020 là
16,8% /năm, trong đó giai đoạn 2008 – 2010 là 16,8% /năm, giai đoạn 2011 – 2015
3718 ha, năng suất bình quân đạt 53÷55 tạ/ha/vụ (khả năng phấn đấu có thể đạt 60
tạ/ha/vụ) để có sản lượng lúa trên 19.772 tấn.
- Bố trí sản xuất ngô
Giai đoạn 2011-2020 diện tích gieo trồng ngô tiếp tục có xu hướng giảm dần
tiến tới tương đối ổn định khoảng 900-1000 ha.
- Sản xuất cây công nghiệp ngắn ngày
Cây công nghiệp ngắn ngày: tập trung ổn định diện tích cây sắn, phát triển
mạnh cây đậu tương, cây lạc với các giống tốt có năng suất, chất lượng để làm hàng
hóa và nguyên vật liệu cho công nghiệp chế biến nông, lâm sản. Tập trung phát
triển nhiều ở xã: Thanh Uyên, Thượng Nông, Hương Nộn, Hưng Hóa, Cổ Tiết, Tề
Lễ.
- Sản xuất rau thực phẩm
Phát triển sản xuất rau thực phẩm theo hướng chuyên canh rau an toàn, tiến tới
sản xuất rau sạch, chất lượng cao bằng công nghệ trồng trong nhà và trực tiếp ngoài
trời nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ nội huyện và khu vực lân cận.
b. Về lĩnh vực chăn nuôi
Nguyễn Công Viễn Luận văn Thạc sĩ
17
- Đưa tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất lĩnh vực chăn nuôi đạt 6,2% năm giai
đoạn 2008-2020.
- Đưa tỉ trọng giá trị sản xuất lĩnh vực chăn nuôi trong nông nghiệp đạt
33,65% vào năm 2010 và đạt trên 33÷35% vào năm 2020.
- Xây dựng vùng sản xuất chăn nuôi tập trung quy mô hộ gia đình, trang trại,
an toàn để có khối lượng sản phẩm chăn nuôi từ các vùng này đạt trên 20% tổng giá
trị sản lượng chăn nuôi trên địa bàn toàn huyện vào năm 2010 và đạt trên 30% vào
năm 2020.
1.4. Hiện trạng các công trình tiêu nước
1.4.1 Đặc điểm hiện trạng
Hệ thống tiêu Dậu Dương được hình thành tự nhiên, có chiều rộng khá lớn:
STT
Đoạn
Chiều dài
(m)
Hiện trạng mặt cắt
Từ… đến…
B
đáy
Cao trình
đáy
1
Từ đầm Dị Nậu (Co) đến
trạm bơm Dị Nậu (C29)
2864 15 ÷ 15
11,86
→
11,42
2
Từ trạm bơm Dị Nậu
(C29) đến cống Dậu
Dương (D101)
2976 3 ÷ 8
11,42
→
7,8
3
Từ cống Dậu Dương ra
mép bờ sông Hồng
89 3 ÷ 5
STT Xã
Tổng diện tích ngập úng (ha)
Giảm
sản
lượng
%(ha)
Mất
trắng
(ha)
Lúa
chiêm
Lúa mùa Hoa màu Ao Hồ
1
Cổ Tiết
41,2
27,5
16,6
70%
4,2
2
Hương Nộn
172,7
116
104
27,3
70%
66
3
Thọ Văn
7
Thượng Nông
32,2
13,5
8,8
54%
285
8
Đào Xá
199,3
40
100%
199,3
Tổng cộng
710
556,0
267,1
169,8
682,9
(Nguồn: Phòng nông nghiệp và phát triển Nông thôn huyện Tam Nông cấp)
Nguyễn Công Viễn Luận văn Thạc sĩ
20
Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trên là do kênh dẫn tuy rộng nhưng
3,5 x 5,2 x 16,7
16,67
Giao thông
4
Cầu Mười
K3 + 103,2
1,5 x 5,2 x 8,5
15,87
Giao thông
Các cầu giao thông qua ngòi tiêu Dậu Dương cơ bản đã được đảm bảo vận
hành bình thường, các công trình còn tốt, đảm bảo phục vụ giao thông vận tải và
dân sinh kinh tế. Riêng Cầu Mươi được xây dựng từ năm 2002 với nguồn kinh phí
của địa phương với kích thước BxHxL=1,5x5,2x8,5m nhằm tạo điều kiện thuận lợi
cho nhân dân hai xã Thượng Nông và Dậu Dương đi lại canh tác ở hai bên bờ kênh
Dậu Dương.
Kết luận về hiện trạng tiêu: Hiện tại chưa giải quyết được về tiêu, nạn úng
ngập xảy ra thường xuyên và nghiêm trọng khi mưa lớn, ảnh hưởng thiệt hại đến
sản xuất nông nghiệp và môi trường sống. Vì vậy cần phải giải quyết ngay vấn đề
tiêu cho khu vực.
Để tiêu chủ động và triệt để, giải quyết nạn ngập úng, giải pháp duy nhất cho
khu vực là tiến hành xây dựng cải tạo các trạm bơm tiêu có công suất đủ lớn, đảm
nhận tiêu nước của khu vực ra nguồn tiêu. Ngoài ra cần cải tạo, sửa chữa, nâng cấp
Nguyễn Công Viễn Luận văn Thạc sĩ
21
hệ thống kênh mương nội đồng nhằm đảm bảo dẫn nước, tiêu thoát nước được tốt
phù hợp với lưu lượng của công trình đầu mối.
1.5. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 đã đưa ra bức tranh tổng quát về những đặc điểm tự nhiên, thực
trạng và các vấn đề cấp bách cần giải quyết của vùng nghiên cứu là vùng tiêu Dậu
Việc chọn trạm khí tượng có ảnh hưởng lớn đến kết quả tính toán, tính chính
xác của việc tính toán và chọn ra mô hình khí tượng thiết kế. Vì vậy trạm đo khí
tượng phải thỏa mãn các yêu cầu sau:
- Trạm phải nằm gần khu vực quy hoạch, tốt nhất là nằm trong khu vực
- Trạm có tài liệu đo phải đủ dài (từ 15 đến 20 năm trở lên)
- Tài liệu của trạm đã được chỉnh biên xử lý và đảm bảo tính chính xác
Qua quá trình thu thập tài liệu thì ta chọn tài liệu mưa ngày được đo tại trạm
Ba Vì- Thành phố Hà Nội vì trạm cách lưu vực tiêu Dậu Dương 10km và gần lưu
vực Dậu Dương hơn trạm Phú Hộ, liệt tài liệu đo từ năm 1970-2004 thỏa mãn các
điều kiện trên.
2.1.1.2. Chọn tần suất thiết kế
Theo QCVN 04-05: 2012/BNNPTNT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. công
trình thủy lợi, các quy định chủ yếu về thiết kế, đối với diện tích lưu vực tiêu từ 2-
10.10
3
ha thuộc công trình cấp 3, vì vậy tần suất thiết kế cho hệ thống tiêu Dậu
Dương là P = 10%.
2.1.1.3. Chọn mô hình mưa tiêu thiết kế
Theo số liệu mưa của trạm Ba Vì từ năm 1970-2004, mùa mưa thường tập
trung hầu hết vào tháng 5 cho đến tháng 10 hàng năm.
Bảng 2.1: Lượng mưa trong thời đoạn ngắn trong năm của trạm BaVì
Năm
Tổng lượng mưa
Tỷ lệ
X1
X3
X5
X7
X1/X3
X3/X5
484.9
544.2
575.2
63%
89%
95%
1974
253.7
276.6
306.4
329.3
92%
90%
93%
1975
140.6
169.7
196
316
83%
87%
62%
1976
102
179.4
210.2
228.9
57%
85%
92%
96%
99%
1981
163.3
315
315
388.6
52%
100%
81%
1982
121
212.3
274.1
297.6
57%
77%
92%
1983
222
357.3
424.1
430.6
62%
84%
98%
1984
159.8
253.3
323.8
124.2
158.8
185.2
71%
78%
86%
1989
275.9
304.3
304.8
304.9
91%
100%
100%
1990
144.3
211.9
252.8
271.6
68%
84%
93%
1991
95
118.5
132.1
152.3
80%
90%
87%
72%
90%
1996
209
383.7
397.5
424.8
54%
97%
94%
1997
178.2
337.9
404.5
451.1
53%
84%
90%
Nguyễn Công Viễn Luận văn Thạc sĩ