Phát triển lực lượng sản xuất ở tỉnh Thái
Nguyên thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
hiện nay Hữu Thị Hồng Hoa Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị
Luận văn ThS. ngành: Triết học; Mã số: 60 22 80
Người hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Trọng Tuấn
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về lực lượng sản xuất và vai trò của
phát triển lực lượng sản xuất đối với công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Thái
Nguyên hiện nay. Chỉ ra các nhân tố cơ bản quyết định đến sự phát trriển của lực
lượng sản xuất. Phân tích, đánh giá thực trạng sự phát triển lực lượng sản xuất của
Thái Nguyên trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Kiến nghị một số giải
pháp nhằm phát triển lực lượng sản xuất ở tỉnh Thái Nguyên đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Keywords. Triết học; Lực lượng sản xuất; Công nghiệp hóa; Thái Nguyên; Hiện đại
hóa
Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Học thuyết hình thái KT- XH của chủ nghĩa duy vật lịch sử do Mác xây dựng, trong đó có
quy luật về sự phù hợp của QHSX với trình độ phát triển của LLSX là lý luận khoa học, là
thế giới quan và phương pháp luận cách mạng cho việc nghiên cứu và giải quyết các vấn đề
Cùng với cả nước, tỉnh Thái Nguyên đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa với
những đặc điểm riêng của mình. Là một tỉnh miền núi Đông Bắc, có nhiều dân tộc anh em,
tỉnh Thái Nguyên có nhiều tiềm năng về kinh tế, có vị trí quan trọng về chính trị, quốc phòng
và an ninh. Do vậy, Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đã nhận thức đúng và bước đầu vận dụng sát
hợp quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất vào đặc điểm kinh tế - xã hội địa phương.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, việc nhận thức và vận dụng quy luật này
còn có nhiều hạn chế nhất định: Kinh tế chậm phát triển; Việc huy động và sử dụng các
nguồn lực của tỉnh còn kém hiệu quả; Trình độ khoa học công nghệ còn lạc hậu; Kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội chưa đáp ứng kịp với nhu cầu phát triển của tỉnh; hội nhập kinh tế quốc
tế còn hạn chế…
Từ thực trạng trên đã đặt ra yêu cầu phải tổng kết thực tiễn, vận dụng lý luận vào cuộc
sống rút ra những bài học, kinh nghiệm để phát triển lực lượng sản xuất ở tỉnh TN trong thời
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa là vấn đề có ý nghĩa quan trọng và cấp thiết đối với cả lý
luận và thực tiễn.
Xuất phát từ suy nghĩ trên, tôi chọn vấn đề: "Phát triển lực lượng sản xuất ở tỉnh Thái
Nguyên thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay" làm đề tài luận văn thạc sỹ, với hy
vọng sẽ đóng góp một phần nhỏ của mình cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và
địa phương.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua liên quan đến vấn đề "Phát triển lực lượng sản xuất thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa" đã có rất nhiều công trình khoa học đề cập. Những kết quả nghiên
cứu này có giá trị lịch sử nhất định. Tuy nhiên, thực tiễn luôn vận động biến đổi và phát triển
nên mọi kết luận tổng kết vẫn cần được bổ sung, phát triển.
Ở Liên xô và một số nước xã hội chủ nghĩa trước đây, nhiều nhà khoa học đã có những
nghiên cứu khá sâu về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và ứng dụng quy luật này vào
công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhiều vấn đề lý luận đã được giải quyết. Nhưng cũng
còn nhiều vấn đề thực tiễn chưa có câu trả lời, đặc biệt là từ giữa những năm 80 trở lại đây,
khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở một số nước lâm vào khủng hoảng.
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu về lực lượng sản xuất trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ
đặt ra, tìm hướng giải quyết, đồng thời khuyến nghị một số giải pháp có tính định hướng để
thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất ở một tỉnh miền núi trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích:
Trên cơ sở phân tích thực trạng vấn đề phát triển lực lượng sản xuất ở tỉnh Thái Nguyên
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, luận văn đã chỉ ra những nhân tố tác
động đến sự phát triển của lực lượng sản xuất cũng như những vấn đề nảy sinh, đồng thời đưa
ra những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển lực lượng sản xuất, thúc đẩy tiến trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh Thái Nguyên.
* Nhiệm vụ:
Luận văn tập trung giải quyết một số vấn đề sau:
- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về lực lượng sản xuất và vai trò của phát triển lực
lượng sản xuất đối với công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay.
- Chỉ ra các nhân tố cơ bản quyết định đến sự phát trriển của lực lượng sản xuất.
- Phân tích, đánh giá thực trạng sự phát triển lực lượng sản xuất của Thái Nguyên trong
thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Kiến nghị một số giải pháp nhằm phát triển lực lượng sản xuất ở tỉnh Thái Nguyên đáp
ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn tập này tập trung làm rõ vai trò của phát triển lực lượng sản xuất đối với công
nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Thái Nguyên. Từ đó chỉ ra những thực trạng của việc phát triển
lực lượng sản xuất và kiến nghị một số giải pháp nhằm phát triển lực lượng sản xuất của tỉnh
Thái Nguyên.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh, lý luận hình thái kinh tế - xã hội. Cùng với các quan điểm của Đảng
Cộng sản Việt Nam, những chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển lực
lượng sản xuất. Đề tài còn kế thừa có chọn lọc những kết quả nghiên cứu của các công trình
khoa học, các bài viết đã được công bố có liên quan đến đề tài.
THỰC CHẤT CỦA SỰ PHÁT TRIỂN LỰC LƢỢNG SẢN XUẤT
THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
1.1. Thực chất của phát triển lực lƣợng sản xuất
1.1.1. Khái niệm lực lượng sản xuất và kết cấu của nó
Có thể hiểu khái niệm lực lượng sản xuất với những nội dung cơ bản như sau:
Thứ nhất: Lực lượng sản xuất là biểu hiện của mối quan hệ giữa con người với tự nhiên,
đó là một hệ thống lực lượng vật chất do con người và xã hội loài người tạo ra để cải tạo,
chinh phục tự nhiên. Hệ thống lực lượng vật chất này đồng thời biểu hiện luôn cả sức mạnh,
năng lực chinh phục tự nhiên của con người.
Thứ hai: Lực lượng sản xuất là một thể thống nhất bao gồm yếu tố người và các yếu tố
vật, trong đó con người là yếu tố đặc biệt. Bởi vì, con người là chủ thể sáng tạo, chế tạo ra
những công cụ, các phương tiện bổ trợ cho các khí quan của mình, tác động đến khách thể -
đối tượng lao động để tạo ra những vật phẩm đáp ứng những nhu cầu của bản thân và của xã
hội. Trong quá trình đó, con người đồng thời tự cải tạo bản thân mình cả về sinh thể và trí
tuệ. Ngày nay, yếu tố trí tuệ đang ngày càng trở nên chiếm ưu thế và được coi là lực lượng
sản xuất trực tiếp.
Thứ ba: Lực lượng sản xuất là yếu tố động nhất, cách mạng nhất trong phương thức sản
xuất, nó thường xuyên vận động và phát triển; nó quyết định sự vận động, phát triển của lịch
sử xã hội loài người.
Lực lượng sản xuất bao gồm các yếu tố sau đây:
- Người lao động
- Tư liệu sản xuất
1.1.2. Phát triển lực lượng sản xuất, yếu tố quyết định cho sự phát triển của xã hội
Sự phát triển của lực lượng sản xuất là sự yêu cầu trình độ của lực lượng sản xuất phải
có mối quan hệ với tính chất của lực lượng sản xuất, nó biểu hiện trạng thái tiến hành hoặc
động thái phát triển của lực lượng sản xuất.
Như đã biết, lực lượng sản xuất được cấu thành từ các yếu tố, như người lao động, tư
liệu sản xuất và một số điều kiện, phương tiện phục vụ sản xuất khác. Ngoài ra trong điều
kiện hiện nay, lực lượng sản xuất còn có một yếu tố dặc biệt, đó là khoa học - công nghệ.
Như vậy thực chất của quá trình thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển chính là quá trình tác
Thứ nhất: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ cơ cấu
đơn ngành sang đa ngành, từ cơ cấu kinh tế nông nghiệp chiếm ưu thế sang công nghiệp và
dịch vụ chiếm ưu thế.
Thứ hai: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình trang bị và trang bị lại công nghệ
hiện đại cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân, trước hết là các ngành có vị trí quan trọng.
Thực hiện công nghiệp hóa trong điều kiện cách mạng khoa học kỹ thuật ngày nay phải gắn
bó với quá trình hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân về phương diện công nghệ. Hiện đại hóa
dưới góc độ kinh tế - kỹ thuật là mục tiêu vươn tới của quá trình công nghiệp hóa, nhưng
chúng còn bị ràng buộc bởi yêu cầu đảm bảo hiệu quả kinh tế - xã hội. Giải quyết mối quan
hệ này chính là tìm ra bước đi thích hợp với quá trình hiện đại hóa nhưng theo điều kiện cụ
thể của từng nước. Hiện đại hóa ở Việt Nam cần sự tính toán, tiến hành một cách hợp lý, để
thích ứng và bắt nhịp xu thế chung của thời đại, nhưng phải phát huy được ưu thế của nguồn
lực lao động.
Thứ ba: Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bất cứ giai đoạn nào cũng là quá
trình kinh tế - kỹ thuật, kinh tế - xã hội và phải đặt trong bối cảnh chung.
Thứ tư: Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn liền với quá trình đô thị hóa khu vực
kinh tế nông thôn.
Thứ năm: Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đồng thời là quá trình mở rộng quan hệ
kinh tế quốc tế. Ngày nay, thị trường lao động mang tính quốc tế và quốc tế hóa đời sống
kinh tế đã trở thành xu thế của thời đại.
1.2.2. Yêu cầu của sự phát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở Việt Nam
Lực lượng sản xuất có vai trò to lớn đối với công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chính vì
vậy việc phát triển lực lượng sản xuất chính là để tạo ra các điều kiện thuận lợi để thực hiện
thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta.
Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, lực lượng sản
xuất thấp lại trải qua nhiều năm chiến tranh với những hậu quả nặng nề, những tàn dư của xã
hội cũ để lại còn nhiều và cả sự chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa và nền độc lập dân tộc
của các thế lực thù địch. Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng “tiếp tục nâng cao ý trí tự
lực tự cường, phát huy mọi tiềm năng vật chất và trí tuệ của dân tộc đồng thời mở rộng quan
cuộc cách mạng - cách mạng khoa học - công nghệ đã đánh dấu một bước ngoặt trong tiến
trình kinh tế của nhân loại. Tác dụng của nó đối với đời sống xã hội đã trở thành động lực,
thành sức sản xuất hiện đại thúc đẩy sự phát triển nhảy vọt của lực lượng sản xuất.
1.3.3. Tác động kìm hãm hoặc thúc đẩy của quan hệ sản xuất đến lực lượng sản xuất
Quan hệ sản xuất được thể hiện ở ba mặt đó là:
- Quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất.
- Quan hệ tổ chức và quản lý quá trình sản xuất.
- Quan hệ phân phối sản phẩm lao động.
Chƣơng 2
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM PHÁT TRIỂN
LỰC LƢỢNG SẢN XUẤT Ở TỈNH THÁI NGUYÊN TRONG THỜI KỲ CÔNG
NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
2.1. Thực trạng phát triển lực lƣợng sản xuất ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay
2.1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội
* Về điều kiện tự nhiên tỉnh Thái Nguyên.
* Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên trong quá trình thực hiện công nghiệp
hoá - hiện đại hoá.
2.1.2. Thực trạng nguồn nhân lực ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay
- Về số lượng nguồn nhân lực:
Như vậy, nguồn lao động có xu hướng ngày càng tăng, số lao động trong độ tuổi lao động
trên tổng dân số toàn tỉnh tính đến năm 2009 là 54,3%. Trong đó, số người mất khả năng lao
động hàng năm chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ. Tỷ lệ lao động trẻ (dưới 35 tuổi) chiếm tỷ lệ lớn
(58%) trong tổng số lao động. Đây là lực lượng lao động dồi dào tạo điều kiện thuận lợi cho
phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhưng cũng đặt ra nhiều khó khăn trong giải quyết việc
làm vì hiện tại nhiều lao động chưa được bố trí công việc hợp lý. Mặc dù tỉnh đã rất quan tâm
đến chính sách việc làm, cụ thể: số lao động được tạo việc làm trong năm ngày càng tăng:
năm 2004 là 13.320 người thì đến năm 2010 đã tăng lên 16.150 người, nhưng do tốc độ tăng
dân số của tỉnh nhanh, trong khi nền sản xuất còn chưa đáp ứng đủ nhu cầu phân công lao
động của xã hội.
* Thực trạng khoa học công nghệ ở Thái Nguyên.
Khoa học - công nghệ có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của lực lượng sản xuất. Một
nền sản xuất với trình độ công nghệ lạc hậu thì nền sản xuất ấy không thể đem lại hiệu quả
cao. Điều này chứng tỏ rằng phát triển khoa học -công nghệ là sự tác động trực tiếp để cho
lực lượng sản xuất phát triển. Chính vì vậy, trong những năm qua Thái Nguyên đã rất quan
tâm đến đổi mới trang thiết bị và ứng dụng công nghệ tiên tiến vào các lĩnh vực của sản xuất.
Các chương trình khoa học và công nghệ phần lớn đều xuất phát từ yêu cầu thực tế, phục vụ
trực tiếp cho các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Hàng loạt các dự án xây dựng
mô hình trình diễn ứng dụng tiến bộ kỹ thuật quy mô lớn trên nhiều lĩnh vực. Cụ thể:
Tóm lại: Thực tiễn cho thấy, yêu cầu bức thiết hiện nay của tỉnh là phát triển nhanh lực
lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với sự phát triển của lực lượng
sản xuất. Để làm được điều này, Thái Nguyên đã và đang có những cơ chế, chính sách nhằm
phát huy tối đa sự gắn kết tự nhiên giữa các yếu tố của lực lượng sản xuất, thúc đẩy lực lượng
sản xuất phát triển, khi mà các yếu tố của lực lượng sản xuất ở Thái Nguyên vẫn ở trình độ
thấp so với các vùng khác trong nước và quốc tế.
2.2. Một số vấn đề đặt ra đối với phát triển lực lƣợng sản xuất ở tỉnh Thái Nguyên
hiện nay
2.2.1. Mâu thuẫn giữa yêu cầu cao của việc phát triển lực lượng sản xuất với trình độ
con người của tỉnh còn có mặt chưa tương xứng
2.2.2. Mâu thuẫn giữa yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa cao với những trang
thiết bị công nghệ phục vụ sản xuất còn thiếu và yếu
2.2.3. Mâu thuẫn giữa yêu cầu cao của việc phát triển lực lượng sản xuất với sự non
yếu trong việc thiết kế một quan hệ sản xuất phù hợp
2.2.4. Mâu thuẫn giữa điều kiện kết cấu hạ tầng của tỉnh còn có hạn với yêu cầu công
nghiệp hoá, hiện đại hoá ngày càng cao
2.3. Một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển lực lƣợng sản xuất ở tỉnh Thái Nguyên
trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá
2.3.1. Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của toàn Đảng bộ, tăng cường
năng lực quản lý ủy ban nhân dân đối với sự phát triển lực lượng sản xuất ở Thái Nguyên
Để làm tốt vai trò lãnh đạo của mình, trước hết Đảng bộ và chính quyền tỉnh cần phải tự
- Đối với kinh tế nhà nước: Phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Đẩy mạnh tiến
độ sắp xếp, đổi mới các doanh nghiệp nhà nước hiện có, đồng thời nghiên cứu phát triển thêm
một số doanh nghiệp trong lĩnh vực cần ưu tiên để phát huy tiềm năng, thế mạnh của tỉnh.
Khuyến khích phát triển các sản phẩm mới, kiểu dáng, mẫu mã hàng hoá mới thể hiện được
những đặc điểm và tiềm năng của tỉnh.
- Đối với kinh tế tập thể: Tiếp tục đổi mới và phát triển các loại hình kinh tế tập thể, trong
đó lấy hợp tác xã làm nòng cốt. ở Thái Nguyên, kinh tế hợp tác xã có vai trò quan trọng, nó
không chỉ có khả năng giải quyết những khó khăn trong quá trình sản xuất và kinh doanh, tạo
ra sức cạnh tranh lớn mà nó còn là một trong những thách thức giúp Thái Nguyên xoá bỏ
phương thức sản xuất tự cung, tự cấp tiến tới xây dựng quan hệ sản xuất hàng hoá theo định
hướng xã hội chủ nghĩa. Để kinh tế hợp tác phát huy được vai trò quan trọng của mình đòi
hỏi tỉnh phải tập trung những giải pháp sau:
- Đối với kinh tế tư nhân: Tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho các loại hình kinh tế tư
nhân trong nước phát triển sản xuất kinh doanh ở địa bàn tỉnh. Khuyến khích mọi người dân
bỏ vốn đầu tư không hạn chế, tôn vinh những người lao động giỏi, những người làm giàu
chính đáng đi đôi với chống làm giàu phi pháp, chống tham nhũng, gian lận thương mại.
- Đối với kinh tế hộ gia đình: Cần tạo điều kiện để kinh tế hộ gia đình phát huy tối đa khả
năng sản xuất và kinh doanh. Bởi vì kinh tế hộ gia đình phát triển là cơ sở để hình thành nền
sản xuất hàng hóa và chuyên môn hóa. Vì vậy, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng vùng
và địa hình, có thể xây dựng các mô hình kinh tế hộ gia đình theo các hướng như: rừng +
ruộng + vườn + ao; rừng + nương + ruộng + ao; rừng + chăn nuôi + nương hoặc các mô hình
ruộng + vườn + ao + chuồng; v.v Để tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế hộ gia đình phát
triển, Tỉnh cần tăng cường các nguồn vốn đầu tư tạo việc làm cho nhân dân, trong đó phải có
các biện pháp quản lý nguồn vốn, sao cho sử dụng vốn đúng mục đích và có hiệu quả; có các
biện pháp đẩy mạnh hoạt động khuyến nông, khuyến lâm và chuyển giao kỹ thuật tới hộ nông
dân. Các hình thức khuyến nông, khuyến lâm và chuyển giao công nghệ phải được lựa chọn
phù hợp với điều kiện của từng vùng, tổ chức theo cụm và đa dạng; cố gắng tạo điều kiện để
phân công lao động và chuyên môn hóa lao động.
- Đối với kinh tế tư bản nhà nước: Phải phát triển đa dạng kinh tế tư bản nhà nước dưới
các hình thức liên doanh, liên kết giữa kinh tế nhà nước ở địa phương với kinh tế tư bản tư
nghệ và khả năng ứng dụng vào sản xuất, kinh doanh, v.v Qua đó rút kinh nghiệm các hoạt
động tổ chức quản lý ở địa phương, có sự điều chỉnh những sách lược, chiến lược phù hợp
trong thời gian tiếp theo.
+ Phải chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, cất nhắc cán bộ miền núi và dân tộc. Mặc dù một số
cán bộ người dân tộc thiểu số có nhược điểm là hay tự ti, ngại tham gia các hoạt động xã hội,
không thích hoạt động ở những chỗ đông, v.v song, ở một tỉnh miền núi nhiều dân tộc sinh
sống thì về lâu dài phải có những cán bộ là người dân tộc thiểu số. Đồng thời kết hợp với
chính sách luân chuyển cán bộ, khuyến khích cán bộ đến vùng sâu, vùng xa công tác.
+ Có chính sách thu hút nhân tài.
- Củng cố và phát triển hệ thống giáo dục phổ thông là một trong những giải pháp cơ bản
nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đây là giai đoạn trang bị cho học sinh một hệ
thống những kiến thức cơ bản, phổ thông, để học sinh có khả năng bước vào học tập các
chuyên ngành và các bậc học cao hơn. Hệ thống giáo dục phổ thông ở nước ta nói chung, ở
Thái Nguyên nói riêng còn nhiều điểm chưa cập với yêu cầu của thời đại, của sự phát triển về
kinh tế - xã hội và tri thức hiện nay, do đó cần phải có những giải pháp sau:
+ Tiếp tục có cơ chế, chính sách ưu tiên cho đối tượng nghèo, con em các gia đình chính
sách được miễn học phí và các khoản đóng góp khác đề khuyến khích họ đến trường.
+ Sử dụng có hiệu quả nguồn vốn từ Chương trình 135 của Chính phủ để thay thế phòng
học tạm bằng phòng học kiên cố. Thực hiện có kết quả việc xây dựng các trường đạt chuẩn
quốc gia của các cấp học, bậc học.
+ Nâng cao chất lượng và số lượng đội ngũ giáo viên. Tạo điều kiện vật chất đáp ứng được
những nhu cầu về vật chất và tinh thần một cách thỏa đáng cho giáo viên miền núi và dân tộc
nhằm thu hút giáo viên có năng lực từ nơi khác về phục vụ miền núi và những vùng khó khăn.
Khuyến khích giáo viên đi học để nâng cao trình độ chuyên môn, mở rộng hình thức đào tạo
theo địa chỉ.
+ Về chương trình: Phải đảm bảo các môn nằm trong khung chương trình phổ thông
chung với cả nước, kết hợp lựa chọn một số môn học thuộc ưu thế, tiềm năng của tỉnh để đào
tạo sâu hơn.
- Đào tạo nghề và giáo dục đại học: Đây khâu trực tiếp hình thành nên chất lượng nguồn
nhân lực, cho nên nó phải được xem là một trong những giải pháp cơ bản phát triển nguồn
Đồng thời tạo ra vùng chuyên cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến và xuất
khẩu.
- Tỉnh phải tăng cường đầu tư và có hướng nghiên cứu để cải tiến, đưa công cụ lao động
vào phục vụ sản xuất kinh doanh ở các xã vùng núi, vùng đặc biệt khó khăn . Đi tắt đón đầu ở
một số lĩnh vực chế biến khai thác nông lâm nghiệp, công nghiệp.
- Có chính sách phát triển mạnh các ngành nghề và kết cấu hạ tầng ở nông thôn. Khôi
phục các nghề cũ, tạo thêm ngành nghề mới, có thị trường tiêu thụ sản phẩm. Phát triển mạnh
mẽ tiểu thủ công nghiệp trong nông thôn để sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông, lâm
sản, làm cơ khí nhỏ phục vụ sản xuất. Mở mang dịch vụ để tạo việc làm, chuyển một bộ phận
lao động nông nghiệp sang các ngành nghề khác. Đẩy mạnh điện khí hoá, cơ giới hoá, phát
triển giao thông nông thôn.
2.2.6. Tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các doanh nghiệp trong nước và ngoài nước,
các chuyên gia nước ngoài để phát triển lực lượng sản xuất khơi dậy tiềm năng vốn có của
tỉnh.
Thái Nguyên là tỉnh có tiềm năng về nguồn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên phong phú,
nhưng tỉnh vẫn chưa phát huy hết những thế mạnh này. Chính vì vậy, để phát triển kinh tế -
xã hội, tỉnh cần có chính sách thu hút các nguồn đầu tư trong và ngoài nước. Để làm được
như vậy, tỉnh cần có những giải pháp cụ thể sau:
- Cải thiện được môi trường đầu tư, tạo lập môi trường pháp lý ổn định, lâu dài, tiếp tục
cải cách các thủ tục hành chính theo cơ chế “1 cửa”, “1 đầu mối” tại các cơ quan chức năng.
Đặc biệt là ổn định chính trị - xã hội nói chung và khu vực vùng sâu, vùng xa nói riêng để tạo
niềm tin, sự yên tâm cho các nhà đầu tư. Ngoài ra, phải tạo được tính “minh bạch” trong các
kế hoạch, định hướng, chiến lược phát triển, đảm bảo quyền tự do kinh doanh của các chủ thể
kinh doanh, quyền bảo hộ hợp pháp.
- Tỉnh cần ban hành cơ chế chính sách ưu đãi đầu tư trong nước và khuyến khích ưu đãi
đầu tư nước ngoài vào tỉnh Thái Nguyên.
- Đầu tư xây dựng, hoàn thiện kết cấu hạ tầng giao thông, hệ thống dịch vụ để tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho các đối tác đầu tư.
- Đào tạo đội ngũ lao động có trình độ tay nghề phù hợp với yêu cầu triển khai các dự án,
chương trình với nguồn vốn bên ngoài.
đặt ra; còn nhiều cản trở chưa được tháo gỡ; việc đầu tư vào các lĩnh vực này vẫn chưa phát
huy tối đa tác dụng của nó. Riêng về đối tượng lao động, vẫn còn tình trạng chưa khai thác
đúng với tiềm năng vốn có với những yêu cầu của một nền kinh tế - sinh thái và môi trường.
Những điều kiện và phương tiện phục vụ cho phát triển lực lượng sản xuất còn rất thấp kém.
Đó cũng là một trong những cản trở lớn nhất đối với sự phát triển kinh tế - xã hội trong tỉnh.
Trong điều kiện toàn cầu hoá đang diễn ra một cách nhanh chóng, thì việc phát triển lực
lượng sản xuất ở Thái Nguyên càng có nhiều điều kiện để đi tắt, đón đầu những thành tựu của
khoa học - công nghệ hiện đại nhằm trang bị những yếu tố cần thiết để nhanh chóng trở thành
tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại trước năm 2020. Để làm được điều này thì giải pháp
trọng tâm của tỉnh là phải phát triển con người; cần khắc phục những nhận thức, lề lối, tác
phong lạc hậu do nền sản xuất tự cấp, tự túc chi phối người lao động, cố gắng đào tạo ra
những con người đáp ứng những yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa xã hội
chủ nghĩa. Đồng thời phải có những đầu tư lớn vào khoa học - công nghệ để đưa tỉnh thoát
khỏi sự tụt hậu so với các tỉnh khác trong nước và quốc tế, tạo ra sự phát triển ổn định và bền
vững. Khoa học - công nghệ phải tập trung vào các khâu: xây dựng và phát triển hệ thống kết
cấu hạ tầng; cải tiến công cụ lao động; tận dụng, khai thác và phát triển đối tượng lao động
theo những tiềm năng thế mạnh của từng tiểu vùng; hạn chế những rào cản đối với sự phát
triển của lực lượng sản xuất như: điều kiện tự nhiên phức tạp, các yếu tố giao thông - vận tải,
thủy lợi, điện sinh hoạt và sản xuất, v.v còn thấp kém, lạc hậu.
Từ thực trạng lực lượng sản xuất của tỉnh Thái Nguyên đòi hỏi phải tìm ra phương thức
phát triển lực lượng sản xuất sao cho tối ưu trên cơ sở điều chỉnh, đổi mới quan hệ sản xuất
phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất ngày càng phát triển. Phấn đấu trong thời gian
tới Thái Nguyên trở thành một trong những tỉnh dẫn đầu cả nước về công nghiệp. References
1. Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2002),
Con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn Việt Nam, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
2. Hoàng Chí Bảo (1993), "Ảnh hưởng của văn hóa đối với việc phát huy nguồn lực con
17. Đảng Lao động Việt Nam (1960), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III,
Nxb. Sự thật, Hà Nội.
18. Đảng Lao động Việt Nam (1976), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV,
Nxb. Sự thật, Hà Nội.
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (1982), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, Nxb.
Sự thật, Hà Nội.
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI,
Nxb. Sự thật, Hà Nội.
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ
khóa VII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
24. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành trung
ương khóa VII, Lưu hành nội bộ, Hà Nội.
25. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị Trung ương lần thứ VII (khóa
VII), Nxb. Sự thật, Hà Nội.
26. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
27. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Nghị quyết Trung ương hai khóa VIII, Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
28. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
29. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên
lần thứ XVIII.
30. Lê Xuân Đình (1999), "Ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất", Tạp chí Cộng sản, (5),
tr.23-27.
31. Phạm Văn Đồng (1999), Về vấn đề giáo dục - đào tạo, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
Nội.
sản, (6), tr.40-43.
46. Nguyễn Hoa Thiếu Huyền (2000), "Chương trình 135 - ý Đảng lòng dân", Tạp chí
Cộng sản, (2), tr.39-43.
47. Đặng Hữu (2000), "Khoa học và công nghệ phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp và phát triển nông thôn", Tạp chí Cộng sản, (17), tr.32-37.
48. Đoàn Văn Khái (2000), Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, Luận án tiến sĩ Triết học, Hà Nội.
49. Phạm Gia Khiêm (1997), "Xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học đầu đàn", Tạp chí Cộng
sản, (14), tr.15-17.
50. Phan Thanh Khôi (1997), "Củng cố và phát triển đội ngũ tri thức các dân tộc thiểu số",
Tạp chí Cộng sản, (4), tr.40-43.
51. Bùi Chí Kiên (1996), Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và
trình độ của lực lượng sản xuất trong phát triển nền kinh tế hàng hóa theo định hướng
xã hội chủ nghĩa ở Lâm Đồng, Luận án tiến sĩ Triết học, Hà Nội.
52. Đỗ Thị Ngọc Lan (1993), "Vai trò của lao động trong mối quan hệ giữa thích nghi và
cải tạo môi trường tự nhiên của con người", Tạp chí Triết học, (1), tr.32-36.
53. Vi Thái Lang (2002), Vấn đề phát triển lực lượng sản xuất ở miền núi phía Bắc nước ta,
Luận án tiến sĩ Triết học, Viện Triết học, Hà Nội.
54. Hà Quế Lâm (2002), Xóa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta hiện nay - Thực
trạng và giải pháp, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
55. V.I.Lênin (1970), Toàn tập, tập 32, Nxb. Sự thật, Hà Nội.
56. V.I.Lênin (1977), Toàn tập, tập 38, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva.
57. V.I.Lênin (1978), Toàn tập, tập 41, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva.
58. V.I.Lênin (1978), Toàn tập, tập 43, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva.
59. V.I.Lênin (1978), Toàn tập, tập 44, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva.
60. V.I.Lênin (1978), Toàn tập, tập 45, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva.
61. C.Mác và Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
62. C.Mác và Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập, tập 6, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
63. C.Mác và Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập, tập 13, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
64. C.Mác và Ph.Ăngghen(1995), Toàn tập, tập 19, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
núi theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
83. Lê Du Phong - Hoàng Văn Hoa (1999), Kinh tế thị trường và sự phân hóa giàu nghèo
ở vùng dân tộc và miền núi phía bắc nước ta hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
Nội.
84. Lê Du Phong - Nguyễn Thành Độ (1999), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong điều kiện
hội nhập với khu vực và thế giới, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
85. Phan Thanh Phố (1998), "Xây dựng quan hệ sản xuất trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa", Tạp chí Cộng sản, (4), tr.13- 27.
86. Đỗ Nguyên Phương (1998), "Chăm sóc sức khỏe nhân dân, nâng cao chất lượng dân
số", Tạp chí Cộng sản, (19), tr.29-32.
87. Đỗ Nguyên Phương (2000), "Y tế miền núi - những thách thức cần vượt qua", Tạp chí
Cộng sản, (22), tr.41-44.
88. Hồ Sĩ Quý (1999), Tìm hiểu về văn hóa và văn minh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
89. Nguyễn Duy Quý (1998), "Phát triển con người tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta", Tạp chí Cộng sản, (19), tr.10-13; 19.
90. Bùi Xuân Sơn (1999), "Một số vấn đề về quản lý và sử dụng đất hiện nay", Tạp chí
Cộng sản, (4), tr.45-48.
91. Trần Hữu Sơn (1997), "Nguyên nhân du canh du cư và những vấn đề đặt ra", Dân tộc
học, (1), tr.3-8.
92. Đoàn Quang Thọ (1995), Lý luận hình thái kinh tế - xã hội với công cuộc đổi mới kinh tế -
xã hội ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ Triết học, Hà Nội.
93. Đặng Hữu Toàn (1997), "Phát triển vì con người trong quan niệm của Mác và sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm mục tiêu phát triển con người ở nước ta",
Tạp chí Triết học, (1), tr.6-10.
94. Tổng cục Thống kê (1998), Niên giám thống kê 1997, Nxb. Thống kê, Hà Nội.
95. Từ điển Triết học (1986), Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva.
96. Từ điển Triết học giản yếu (1987), Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.
97. Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên (2005), Báo cáo tình hình và nhiệm vụ kinh tế - xã
hội của tỉnh Thái Nguyên.
98. Viện Nghiên cứu Chính sách dân tộc và miền núi (2002), Vấn đề dân tộc và định