Luận án TS vấn đề phát triển lực lượng sản xuất ở miền núi phía bắc nước ta hiện nay - Pdf 15

mở đầu
1. Tính cấp bách của đề tài
Theo quan điểm duy vật lịch sử, sự vận động và phát triển của xã
hội loài ngời, xét đến cùng, do sản xuất xã hội quyết định, trong đó lực lợng
sản xuất là yếu tố giữ vai trò tiên quyết. Vì vậy, để thúc đẩy sự phát triển
kinh tế - xã hội, mọi con đờng, mọi biện pháp đều phải dẫn đến thúc đẩy sự
phát triển của lực lợng sản xuất.
Sau 15 năm thực hiện đờng lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam
khởi xớng và lãnh đạo, đất nớc ta đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội,
đã đạt đợc những thành tựu "rất to lớn và rất quan trọng", thế và lực của đất
nớc đã đủ vững mạnh để chuyển sang một giai đoạn cách mạng mới, giai
đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc, nhằm mục tiêu đến
năm 2020 đa đất nớc về cơ bản trở thành một nớc công nghiệp, từng bớc
hiện thực hóa lý tởng dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và
văn minh nh tinh thần Nghị quyết Đại hội IX của Đảng đã đề ra.
Vào giai đoạn mới, trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và
kinh tế tri thức, lực lợng sản xuất của đất nớc cần phải phát triển nhanh hơn
so với trớc đây. Việc phát triển mạnh mẽ lực lợng sản xuất đồng thời từng
bớc cải tạo quan hệ sản xuất sao cho phù hợp trình độ phát triển mới của nó
là một yêu cầu tất yếu khách quan với những khó khăn và thách thức rất
lớn. Chúng ta đang chú trọng phát triển các yếu tố cơ bản của lực lợng sản
xuất nh nguồn nhân lực, khoa học, kỹ thuật và công nghệ nhằm tạo ra một
chất lợng mới cho lực lợng sản xuất, và trên thực tế, những năm gần đây,
chúng ta đã thu đợc những thắng lợi đáng kể. Tuy nhiên, sự phát triển của
các vùng, các khu vực trong nớc vẫn cha đồng đều và còn một khoảng cách
tơng đối lớn. Khu vực miền núi mặc dù chiếm đến 3/4 diện tích tự nhiên cả
1
nớc, nhng lại là vùng có các chỉ số phát triển thấp và rất thấp. Trong giai
đoạn cách mạng mới, mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ
chỉ thực sự thành công khi chúng ta làm giảm đợc khoảng cách phát triển
giữa khu vực này với khu vực đồng bằng và thành thị.

với trình độ của lực lợng sản xuất đã đợc quan tâm nghiên cứu từ nhiều khía
cạnh khác nhau ở cả trong và ngoài nớc.
ở Liên xô và một số nớc xã hội chủ nghĩa trớc đây, nhiều nhà khoa
học đã có những nghiên cứu khá sâu về lực lợng sản xuất, quan hệ sản xuất
và ứng dụng quy luật này vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhiều
vấn đề lý luận đã đợc giải quyết. Nhng cũng còn nhiều vấn đề thực tiễn cha
có câu trả lời, đặc biệt là từ giữa những năm 80 trở lại đây, khi chế độ xã
hội chủ nghĩa ở một số nớc lâm vào khủng hoảng.
ở Việt Nam, việc nghiên cứu về lực lợng sản xuất trong sự nghiệp
cách mạng xã hội chủ nghĩa đã đợc Đảng ta hết sức chú ý. Từ nhiều năm tr-
ớc đây, những bài học về sự cần thiết phải tôn trọng quy luật khách quan, về
những sai lầm do quá nhấn mạnh ý nghĩa mở đờng của các quan hệ sản
xuất, do sự tuyệt đối hóa vai trò của công nghiệp nặng đã đợc phân tích và
rút kinh nghiệm. Tuy vậy, với các công trình ở những năm trớc đây, vấn đề
đặt ra và cách giải quyết cũng có khác so với hiện nay, khi tình hình thế
giới đã có nhiều thay đổi và đất nớc ta đã bớc vào một giai đoạn mới của sự
phát triển.
Khoảng hơn 15 năm gần đây, ở nớc ta, đã có nhiều luận án tiến sĩ,
trực tiếp bàn đến vấn đề này. Chẳng hạn, luận án của Nguyễn Tĩnh Gia -
nghiên cứu biểu hiện đặc thù của quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản
xuất với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất và trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Qua đó, tác giả đã khái quát những định hớng
3
cơ bản cho thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và đề xuất một số nhiệm vụ
cụ thể để các yếu tố của quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lợng
sản xuất, tạo điều kiện cho lực lợng sản xuất phát triển. Luận án của Hồ
Anh Dũng - khai thác một yếu tố cụ thể của lực lợng sản xuất là yếu tố con
ngời trong lực lợng sản xuất và việc phát huy yếu tố đó ở nớc ta hiện nay.
Qua công trình của mình, tác giả đã trình bày vấn đề con ngời trong nội
dung của lực lợng sản xuất, phân tích đặc điểm của ngời lao động Việt Nam

ở khuynh hớng thứ hai, chúng tôi thấy có nhiều công trình và bài
viết phân tích vấn đề lực lợng sản xuất ở khu vực miền núi và vùng đồng
bào các dân tộc thiểu số với những đặc thù của khu vực này. Cần phải kể
đến những tác giả với các bài viết đáng chú ý sau: Lê Xuân Đình, Ưu tiên
phát triển lực lợng sản xuất, Tạp chí Cộng sản, số 5 (3-1999); Nông Thị
Mồng, Phát triển lực lợng sản xuất - yếu tố tạo đà đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa miền núi phía Bắc nớc ta, Tạp chí Triết học, số 3 (6-1999);
Chu Tuấn Nhạ, Khoa học- công nghệ phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, Tạp chí Cộng sản, số 2 (1-1999);
Lê Huy Ngọ, Khoa học- công nghệ phải là động lực mạnh mẽ đa nông
nghiệp, nông thôn sang bớc phát triển mới, Tạp chí Cộng sản, số 3 (2-1999);
Phan Xuân Dũng, Phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, Tạp chí Cộng sản, số 17 (9-1997); Mai Quốc Chánh,
Nâng cao chất lợng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999; Hoàng Đức Nghi, Thực
hiện một số nhiệm vụ chủ yếu để vùng dân tộc miền núi đi lên công nghiệp
hóa, hiện đại, Tạp chí Cộng sản, số 18(9-1997); Lê Du Phong, Hoàng Văn
Hoa, Phát triển kinh tế- xã hội các vùng dân tộc và miền núi theo hớng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998; Kinh tế thị
trờng và sự phân hóa giàu nghèo ở vùng dân tộc và miền núi phía Bắc nớc
ta, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999; Nguyễn Tiến Mạnh, Dơng Ngọc
5
Thí, Phát triển nông lâm nghiệp theo hớng sản xuất hàng hóa ở trung du
miền núi phía Bắc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 1996; v.v
Thời gian gần đây, cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hóa, đã
có một số bài báo và công trình bàn về lực lợng sản xuất cũng nh về quan
hệ sản xuất trong loại hình kinh tế trang trại ở khu vực miền núi và trung
du, chẳng hạn nh: Nguyễn Điền, Tổ chức quản lý kinh tế trang trại trên thế
giới và Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 251 (4-1999); Hoàng
Minh Ký - Bùi Minh Vũ, Về kinh tế trang trại lâm nghiệp, Tạp chí Nghiên

- Chỉ ra những yếu tố ảnh hởng đến sự phát triển của lực lợng sản
xuất miền núi phù hợp với yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất n-
ớc và những mặt, những yếu tố còn yếu kém đang cản trở sự phát triển của
lực lợng sản xuất miền phía Bắc nớc ta.
- Đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển
lực lợng sản xuất, góp phần thực hiện thắng lợi chiến lợc phát triển kinh tế -
xã hội ở miền núi phía Bắc.
4. Phơng pháp luận và phơng pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu và trình bày của luận án dựa trên các nguyên tắc
phơng pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh và những
quan điểm của Đảng ta, đặc biệt là những quan điểm Mác - Lênin về lý
luận hình thái kinh tế - xã hội. Luận án có kế thừa, tiếp thu những thành quả
của các công trình nghiên cứu khoa học đi trớc nh các bài viết, các luận án
và các t liệu điều tra khảo sát
Luận án sử dụng các phơng pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử, các phơng pháp phân tích và tổng hợp, lôgic và lịch sử,
so sánh, thống kê ; luận án chú ý đặc biệt đến quan điểm thực tiễn là tiêu
chuẩn của chân lý và quan điểm về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
trong nghiên cứu cũng nh trong trình bày.
7
5. Đóng góp của luận án
- Đề cập đến vấn đề phát triển lực lợng sản xuất, một vấn đề cấp
bách ở khu vực miền núi phía Bắc nớc ta - một khu vực đặc thù, có trình độ
phát triển thấp, đang gặp nhiều khó khăn trong quá trình phát triển. Vấn đề
đợc giải quyết trong luận án không chỉ có ý nghĩa khoa học, mà còn có ý
nghĩa chính trị trong bối cảnh phức tạp của tình hình trong nớc và quốc tế.
Việc giải quyết vấn đề đặt ra không những nhằm giảm bớt sự chênh lệch về
trình độ phát triển giữa các vùng, miền, mà còn nhằm đẩy nhanh sự phát
triển chung của cả nớc.
- Thông qua phân tích thực trạng của lực lợng sản xuất ở khu vực

mối quan hệ phức tạp đó trong quá trình sản xuất). Mặc dù quan hệ sản
xuất là tiêu chuẩn giúp chúng ta phân biệt đợc những chế độ xã hội khác
nhau của lịch sử, phân biệt hình thái kinh tế - xã hội này với hình thái kinh
tế - xã hội khác, song xét đến cùng, trong phơng thức sản xuất, lực lợng sản
xuất là yếu tố quyết định hơn cả. C.Mác đã từng nói: "Chúng ta không cần
phải xét ngời lao động trong mối quan hệ với ngời lao động khác. Một bên
là con ngời và lao động của con ngời, bên kia là tự nhiên và vật liệu của tự
nhiên,- thế là đủ" [64, tr. 276]. Vậy, lực lợng sản xuất là gì? Các nhà sáng
lập chủ nghĩa duy vật lịch sử đánh giá, xem xét nh thế nào?
1.1. Khái niệm lực lợng sản xuất và kết cấu của nó
Trong nghiên cứu sự vận động, phát triển của xã hội loài ngời, điểm
cơ bản làm cho C. Mác thành công và trở thành khác về chất so với các nhà
triết học trớc C. Mác là ở chỗ, ông đã vận dụng phép biện chứng duy vật để
giải quyết những vấn đề của lịch sử. Cụ thể hơn, ông đã xuất phát từ những "sự
9
thật giản đơn" trong đời sống vật chất của con ngời và xã hội để giải thích các
hiện tợng của đời sống xã hội. Ph. Ăngghen đã nhận xét: "Cái sự thật hiển
nhiên là trớc hết con ngời cần phải ăn, uống, ở và mặc, nghĩa là phải lao
động, trớc khi có thể đấu tranh để giành quyền thống trị, trớc khi có thể
hoạt động chính trị, tôn giáo, triết học " [62, tr. 166]. Nhờ đó mà C.Mác đã
phát hiện hàng loạt các quy luật của lịch sử, đó là các quy luật: tồn tại xã
hội quyết định ý thức xã hội, cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thợng tầng,
quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ của lực lợng sản xuất,
v.v Trong đó quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ của lực
lợng sản xuất là quy luật cơ bản nhất, nó chi phối mọi quy luật khác của xã
hội, bởi vì mỗi con ngời, mặc dù có những mục đích riêng và đều cố gắng
theo đuổi những mục đích đó bằng nhiều cách khác nhau, song những mục
đích này không nằm ngoài nhu cầu ăn, mặc, ở và các nhu cầu khác của
chính con ngời. Về cơ bản, các hoạt động của con ngời đều do những nhu
cầu đó thúc đẩy, và con ngời phụ thuộc vào mức độ đáp ứng những nhu cầu

Qua ý kiến của các nhà kinh điển, chúng ta có thể hiểu rằng: muốn
chinh phục đợc tự nhiên, con ngời phải sử dụng tổng hợp những sức mạnh
vật chất và tinh thần có thể có, trong đó bao gồm cả sức mạnh cơ bắp, trí
tuệ và những tác nhân khác tác động lên tự nhiên, làm cho tự nhiên biến đổi
ở một mức độ nhất định. Cho nên, "lực lợng sản xuất" trớc hết phải là một
"lực lợng vật chất". Lực lợng vật chất này nảy sinh và phát triển do con ng-
ời và xã hội chinh phục tự nhiên, vì những mục đích, nhu cầu của con ngời.
Những sản phẩm mà con ngời cần có để phục vụ cho nhu cầu của mình,
thông thờng không sẵn có nh là sản phẩm có thể đáp ứng ngay những nhu
cầu của con ngời, mà nó nằm trong tự nhiên; thậm chí một phần đáng kể
còn tiềm ẩn trong tự nhiên. Muốn có nó, con ngời và xã hội loài ngời phải
11
tác động đến tự nhiên, can thiệp vào tự nhiên, làm biến đổi giới tự nhiên. Vì
vậy, lực lợng sản xuất là biểu hiện của mối quan hệ qua lại giữa con ngời
với tự nhiên. Nhng trong mối quan hệ này, chỉ có quan hệ vật chất giữa con
ngời với tự nhiên mới là biểu hiện trực tiếp của lực lợng sản xuất; còn các
quan hệ khác của con ngời với tự nhiên nh quan hệ thích nghi, quan hệ
nhận thức, quan hệ thẩm mỹ, v.v không trực tiếp tạo ra của cải vật chất
phục vụ cho những nhu cầu của con ngời, do đó không thể coi đó là biểu
hiện trực tiếp của lực lợng sản xuất.
Con ngời đã tạo ra những yếu tố của lực lợng sản xuất, trong đó có
những bộ phận đã sẵn có trong tự nhiên, cũng có những bộ phận con ngời phải
cải tạo nhiều lần, qua nhiều thế hệ, khi đó vật liệu tự nhiên mới trở thành các
yếu tố của lực lợng sản xuất. Tức là cùng với vật liệu tự nhiên, trong lực lợng
sản xuất còn có sự đóng góp sức lực "vật chất" của con ngời. Nh vậy, lực lợng
sản xuất là sản phẩm của các hoạt động vật chất của con ngời đợc tổng hợp,
gom góp, phát triển có kế thừa từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nh C. Mác đã
viết: "Mỗi thế hệ sau có đợc những lực lợng sản xuất do thế hệ trớc tạo ra,
và những lực lợng sản xuất ấy là nguyên liệu cho thế hệ sau ấy để thực hiện
một hoạt động sản xuất mới,- nhờ hiện tợng ấy mà hình thành nên mối liên

Mặc dù vậy, trong định nghĩa này cũng còn nhiều vấn đề phải tranh
luận. Trong nội dung của định nghĩa cha đặt ra một cách đầy đủ các yếu tố
của lực lợng sản xuất và giới hạn nội dung của các yếu tố đó, nhất là trong
tình hình hiện nay, khoa học - công nghệ ngày càng có vai trò lớn hơn trong
lực lợng sản xuất, hàm lợng trí tuệ ngày càng chiếm u thế trong tổng chi phí
của một sản phẩm và đợc coi là một yếu tố trực tiếp của lực lợng sản xuất,
định nghĩa cha đặt nó thành vấn đề cơ bản trong cấu trúc của nó. Mặt khác,
trong định nghĩa trên cũng cha phản ánh đợc tính kế thừa, tính liên tục, tính
13
cách mạng trong quá trình phát triển của lực lợng sản xuất, làm cho ngời
đọc khó có thể hình dung ra toàn bộ nội dung sinh động của nó.
Chúng tôi hiểu lực lợng sản xuất bao gồm các yếu tố sau đây:
1.1.1. Ngời lao động
Ngời lao động là yếu tố quan trọng bậc nhất của lực lợng sản xuất.
V.I Lênin đã từng viết: "Lực lợng sản xuất hàng đầu của toàn nhân loại là
ngời công nhân, là ngời lao động" [52, tr. 430]. Con ngời là chủ thể tích
cực, sáng tạo và quyết định hoạt động tác động đến tự nhiên. Trong hoạt
động sản xuất, con ngời không tác động một cách đơn giản, chỉ bằng sức
mạnh cơ bắp của mình đến tự nhiên, mà con ngời với trí tuệ là chủ đạo, biết
vận dụng tri thức khoa học - kỹ thuật, chuyên môn, kỹ xảo, v.v còn biết
tạo ra những công cụ bổ trợ cho các khí quan của mình, và sử dụng những
công cụ đó làm cho tự nhiên thay đổi theo mục đích, yêu cầu có sẵn hình
ảnh trong t duy từ trớc đó. Do đó, trong lực lợng sản xuất, con ngời phải là
một yếu tố đặc biệt và đợc xem xét ở những mặt cơ bản nh sức lao động,
bao gồm cả sức cơ bắp và sức thần kinh (trí tuệ) tham gia vào quá trình lao
động. Sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học - công nghệ đã và đang đòi hỏi
con ngời sử dụng sức mạnh thần kinh - trí tuệ ngày một nhiều hơn. Sức
mạnh thần kinh - trí tuệ của con ngời là một loại nguồn lực đặc biệt.
A.Toffler trong tác phẩm "Thăng trầm quyền lực" đã cho rằng, mọi nguồn
lực khác của thiên nhiên đều có thể bị khai thác cạn kiệt, còn "tri thức có

những khí quan của cơ thể mình, và do đó mà kéo dài cái tầm thớc tự nhiên
của cơ thể đó" [64, tr. 268].
Rõ ràng, công cụ lao động là những vật thể hay những phức hợp vật
thể do con ngời và xã hội tạo ra để "đặt" giữa con ngời và đối tợng lao
động. Chúng có vai trò truyền dẫn sức lực và trí tuệ của con ngời đến đối t-
ợng lao động, cải biến những vật liệu tự nhiên thành những vật phẩm theo
15
mục đích, yêu cầu có trớc của một quy trình sản xuất cụ thể nào đó. Tùy
thuộc vào loại công cụ và trình độ kỹ thuật của nó mà con ngời có thể bằng
những bộ phận khí quan nào của cơ thể mình để sử dụng nó. Đơng nhiên,
trong quá trình sử dụng, con ngời điều khiển công cụ lao động phải có sự
tham gia của trí tuệ, của t duy để đảm bảo cho những thao tác chính xác,
phù hợp với công cụ lao động và tác động đến đối tợng lao động theo một
nhịp độ, một trình tự khách quan. Có những công cụ lao động có kết cấu
đơn giản nh: công cụ thô sơ, công cụ thủ công; có những công cụ phức tạp,
tinh xảo nh máy móc cơ khí, máy móc bán tự động hoặc tự động, v.v
Trình độ phát triển của công cụ lao động chỉ rõ trình độ phát triển của lực l-
ợng sản xuất, mức độ tinh xảo của công cụ lao động giúp chúng ta phân biệt
đợc lực lợng sản xuất đó ở nền văn minh nào, ở giai đoạn lịch sử nào. Nếu
công cụ lao động càng tinh xảo, nó càng truyền dẫn đợc nhiều sức lực của
con ngời tác động đến đối tợng lao động thì năng suất lao động càng cao.
Vì thế có thể gọi công cụ lao động là "hệ thống xơng cốt" của nền sản xuất
xã hội. Hiện nay, khoa học - công nghệ đã đặc biệt quan tâm rất sâu và rất
rộng vào các yếu tố cụ thể của công cụ lao động, nên nhiều khi ngời ta đã
sử dụng khái niệm công nghệ sản xuất để thay thế cho khái niệm công cụ
lao động. Nhng trong thực tế khái niệm công nghệ sản xuất còn chứa đựng
nội dung rộng lớn hơn khái niệm công cụ lao động, bởi khái niệm đó còn đ-
ợc hiểu bao gồm cả các quá trình tổ chức và quản lý sản xuất.
Con ngời thờng xuyên tìm cách làm giảm chi phí sức lao động của
mình nhng lại muốn sản xuất ra ngày càng nhiều những vật phẩm cần thiết, vì

công nghệ càng cao, sản xuất - xã hội càng phát triển, thì khả năng cải tạo
tự nhiên của con ngời ngày càng cao, khi đó càng nhiều những dạng vật
chất trong tự nhiên trở thành đối tợng lao động hơn.
Đối tợng lao động rất phong phú, đa dạng và có nhiều cấp độ khác
nhau. Trong quá trình sản xuất, có những vật phẩm trong tự nhiên con ngời
17
chỉ việc khai thác mang về là có thể đáp ứng ngay đợc những nhu cầu nào
đó của mình, cũng có những loại vật phẩm lại phải qua nhiều lần cải tạo,
nhiều khâu trung gian, mới trở thành sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con
ngời. Khi nền sản xuất xã hội càng phát triển, khoa học - công nghệ càng
cao, thì loại đối tợng phải cải tạo nhiều lần càng đợc mở rộng, điều này là
do nhu cầu ngày càng cao của con ngời quy định.
Chúng ta đã biết rằng, trong sản xuất con ngời thờng xuyên tự cải
tạo mình về mọi mặt, cũng nh liên tục cải tiến công cụ lao động, để ngày
càng làm ra nhiều sản phẩm nhằm đáp ứng những nhu cầu ngày càng tăng
của con ngời và xã hội. Ngợc lại, nhu cầu của xã hội cũng tác động làm cho
sản xuất ngày càng phát triển, kéo theo các lĩnh vực phục vụ cho hoạt động
sản xuất cũng phát triển theo. Đặc biệt là sự phát triển của công cụ lao động
và việc ứng dụng các thành tựu của khoa học để cải tiến, sáng chế, phát
minh những công cụ lao động đó, đã làm cho con ngời ngày càng có vai trò
to lớn, càng có sức mạnh ghê gớm trớc tự nhiên. Sức mạnh của con ngời
phát triển ở cả chiều sâu lẫn chiều rộng trong việc tác động, khai thác đối t-
ợng lao động. Vì thế mà hiện nay, vấn đề đối tợng lao động cần phải đợc
xem xét và quan tâm đặc biệt, để tránh những hiểm họa do chính sự phát
triển của nó gây ra nh tài nguyên cạn kiệt, môi trờng suy thoái và ô nhiễm
làm cho sự sống của con ngời đang bị đe dọa
Hoạt động lao động, nói theo C.Mác, là sự trao đổi chất giữa con
ngời với tự nhiên, con ngời phải kiểm tra và điều tiết một cách hợp lý các
hoạt động ấy, nhng phần lớn con ngời mới chỉ quan tâm phần nhiều đến
việc khai thác tự nhiên, lấy ở tự nhiên là chính, ít khi trả lại cho tự nhiên

chi phí giao dịch, chi phí cho vận chuyển nguyên vật liệu, bảo quản các sản
phẩm, đó là những chi phí cũng đợc lấy ra từ giá trị của sản phẩm. Đối với
19
những vùng còn lạc hậu, càng cần phát triển các điều kiện và phơng tiện
này nhiều hơn, bởi vì nó còn góp phần lôi kéo đầu t, lu thông các yếu tố
phục vụ sản xuất.
1.1.3. Khoa học - công nghệ
Khoa học - công nghệ là tri thức của nhân loại, ở một phạm vi nhất
định nào đó nó đợc xem nh một yếu tố thuộc lĩnh vực tinh thần của đời sống
xã hội, nhng ngày nay ngời ta đã thừa nhận khoa học - công nghệ là một
nhân tố đặc biệt của lực lợng sản xuất, nhân tố này chỉ thực sự phát huy đợc
vai trò của nó khi đợc kết hợp với con ngời và các yếu tố của t liệu lao
động. Do khoa học - công nghệ đang ngày càng có vai trò to lớn trong các
yếu tố của lực lợng sản xuất, cho nên chúng tôi xét riêng nó nh một yếu tố
tơng đối độc lập để một mặt đánh giá đúng vai trò to lớn khoa học - công
nghệ, tránh những t tởng quá coi thờng hoặc quá đề cao vai trò của nó dẫn
đến làm lu mờ các yếu tố khác trong cấu trúc của lực lợng sản xuất; mặt khác
qua đó có điều kiện để xét đến những yếu tố bên ngoài lực lợng sản xuất
đang tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của lực lợng sản xuất, mà sự tác
động đó cũng là nhờ có sự xâm nhập của khoa học - công nghệ.
Khoa học - công nghệ đợc ra đời trên cơ sở nhu cầu và mục đích
của đời sống thực tiễn xã hội, chính thực tiễn là động lực thúc đẩy nó phát
triển. Khoa học công nghệ bao gồm toàn bộ các quá trình phản ánh đúng
đắn hiện thực khách quan và các quá trình cải tạo thế giới khách quan đó.
Về tổng thể, có thể coi khoa học - công nghệ là một hệ thống những tri thức
căn bản phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan và những tri thức về các
giải pháp hành động để cải tạo hiện thực đã đợc thực tiễn kiểm nghiệm; đợc
ứng dụng nhanh chóng vào quá trình sản xuất vật chất. Nh vậy, khoa học -
công nghệ có nội dung khá phong phú, trong đó bao hàm các nhân tố thuộc
lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội và cả các nhân tố vật chất và cải tạo

21
Thứ nhất: Công nghệ điện tử, tin học và viễn thông. Bằng kỹ thuật
số và ứng dụng rộng rãi tin học vào đời sống và sản xuất: từ tổ chức, quản
lý, điều hành cho đến mua bán các sản phẩm, tạo mẫu mã, v.v Quá trình
sản xuất vật chất và hoạt động của con ngời đã ngày càng tự động hóa cao,
trong đời sống - xã hội đã xuất hiện nhiều thuật ngữ mới nh: nền kinh tế ảo,
thị trờng ảo hoặc kinh tế mạng, kinh tế tri thức Sự toàn cầu hóa thông tin
và thị trờng kinh tế làm cho thế giới dờng nh trở nên nhỏ bé hơn đối với con
ngời. Điều đó cho phép những quốc gia chậm phát triển có cơ hội tránh đợc
các bớc phát triển tuần tự không cần thiết trong lịch sử để đi tắt, đón đầu tạo
ra sự phát triển mới của mình. Nhng đó cũng chính là rào cản lớn nhất, làm
giãn khoảng cách phát triển giữa các nớc phát triển cao với các nớc đang
phát triển và các nớc chậm phát triển nếu nh không có các chiến lợc phát
triển đúng đắn, không có các chính sách và biện pháp đi tắt đón đầu một
cách phù hợp.
Thứ hai: Công nghệ vật liệu, năng lợng mới. Nhờ các thành tựu của
khoa học - công nghệ, hàng loạt các loại vật liệu mới ra đời nh: vật liệu
cách điện cao cấp, vật liệu siêu dẫn, siêu bền, siêu cứng, siêu nhẹ, và các
dạng năng lợng mới nh năng lợng nguyên tử, năng lợng mặt trời, năng lợng
gió, cũng đã đợc khai thác theo công nghệ mới, giúp con ngời làm tăng
giá trị các vật liệu tự nhiên lên nhiều lần, thay thế đợc nhiều vật liệu gây ô
nhiễm môi trờng và khan hiếm mà trớc đây con ngời quen sử dụng.
Thứ ba: Công nghệ sinh học. Chỉ vài thập kỷ gần đây, công nghệ
sinh học đã chứng tỏ sức mạnh kỳ diệu của mình đối với sự phát triển kinh
tế - xã hội nói chung, đối với lực lợng sản xuất nói riêng. Bằng những phát
hiện mới về công nghệ tế bào, công nghệ sinh sản, công nghệ gen và các
phơng pháp sinh học mới, con ngời tạo ra những giống cây trồng và vật
nuôi mới có nhiều u điểm lớn cả về chất lợng cũng nh năng suất và giá
thành. Đặc biệt nhờ công nghệ sinh học, làm cho con ngời ngày càng khỏe
22

Do những đòi hỏi của đời sống thực tiễn và của quá trình sản xuất
vật chất, lực lợng sản xuất đã thờng xuyên vận động, phát triển một cách
liên tục, khách quan. Trong quá trình vận động, phát triển của lực lợng sản
xuất, có những nhân tố tác động tích cực tạo điều kiện cho nó đi lên, nhng
cũng có những nhân tố cản trở sự đi lên đó. Vì vậy, muốn thúc đẩy lực lợng
sản xuất phát triển buộc chúng ta phải nhận thức, phải tác động đến các nhân
tố, các điều kiện và các quá trình có ảnh hởng đến sự vận động, phát triển
của lực lợng sản xuất, nhằm hạn chế tối đa những cản trở, những "xiềng
xích" có thể có từ nhiều góc cạnh khác nhau. Trong đó cần xác định cả những
nhân tố bên trong và bên ngoài của lực lợng sản xuất, vai trò của từng nhân
tố đó đối với tiến trình vận động, phát triển của lực lợng sản xuất, trên cơ sở
đó cải tạo để nó tạo điều kiện cho lực lợng sản xuất phát triển.
Sản xuất vật chất là điều kiện quyết định sự tồn tại và phát triển của
xã hội loài ngời. Các nhân tố khác nhau của đời sống xã hội đều có quan hệ
mật thiết với hoạt động sản xuất vật chất nói chung và với lực lợng sản xuất
nói riêng. Do đó đối với lực lợng sản xuất, có rất nhiều nhân tố trực tiếp
hoặc gián tiếp ảnh hởng đến sự vận động và phát triển của nó, có thể tổng
hợp lại một số yếu tố cơ bản nh sau:
1.2.1. Tác động của chính các nhân tố cấu thành lực lợng sản xuất
Lực lợng sản xuất phát triển đợc trớc hết là do các nhân tố bên trong
nó quan hệ biện chứng với nhau và thờng xuyên vận động, phát triển không
ngừng. Nhng mỗi nhân tố đó lại có hình thức, cách thức và những động lực
thúc đẩy sự phát triển của nó một cách tơng đối khác biệt. Trong đó có một
số nhân tố nhạy cảm, năng động, có thể thúc đẩy sự phát triển của lực lợng
sản xuất một cách nhanh nhất. Đó là các yếu tố:
24
Thứ nhất là: Con ngời là động lực thúc đẩy lực lợng sản xuất phát
triển bền vững.
Con ngời là một bộ phận hợp thành lực lợng sản xuất, không những
thế mà còn là một bộ phận đặc biệt, thiếu nó thì tất cả mọi nhân tố khác đều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status