LUẬN án TIẾN sĩ vấn đề PHÁT TRIỂN lực LƯỢNG sản XUẤT ở MIỀN núi PHÍA bắc nước TA HIỆN NAY - Pdf 40

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp bách của đề tài
Theo quan điểm duy vật lịch sử, sự vận động và phát triển của xã
hội loài người, xét đến cùng, do sản xuất xã hội quyết định, trong đó lực
lượng sản xuất là yếu tố giữ vai trò tiên quyết. Vì vậy, để thúc đẩy sự phát
triển kinh tế - xã hội, mọi con đường, mọi biện pháp đều phải dẫn đến thúc
đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Sau 30 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt
Nam khởi xướng và lãnh đạo, đất nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, đã đạt được những thành tựu "rất to lớn và rất quan trọng", thế và
lực của đất nước đã đủ vững mạnh để chuyển sang một giai đoạn cách
mạng mới, giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
nhằm mục tiêu sớm đưa đất nước về cơ bản trở thành một nước công
nghiệp, từng bước hiện thực hóa lý tưởng dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ và văn minh như tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của
Đảng đã đề ra.
Vào giai đoạn mới, trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế
và kinh tế tri thức, lực lượng sản xuất của đất nước cần phải phát triển
nhanh hơn so với trước đây. Việc phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất
đồng thời từng bước cải tạo quan hệ sản xuất sao cho phù hợp trình độ phát
triển mới của nó là một yêu cầu tất yếu khách quan với những khó khăn và
thách thức rất lớn. Chúng ta đang chú trọng phát triển các yếu tố cơ bản của
lực lượng sản xuất như nguồn nhân lực, khoa học, kỹ thuật và công nghệ...
nhằm tạo ra một chất lượng mới cho lực lượng sản xuất, và trên thực tế,
những năm gần đây, chúng ta đã thu được những thắng lợi đáng kể. Tuy
nhiên, sự phát triển của các vùng, các khu vực trong nước vẫn chưa đồng


2

nhiều đặc thù "Tây Nguyên" nhất khi bắt đầu đón nhận cơ chế kinh tế mới.
Luận án của Đoàn Văn Khái - nghiên cứu nguồn lực con người trong quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; tác giả đã làm rõ khái niệm


5

nguồn lực con người và vai trò quyết định của nguồn lực con người trong
so sánh với các nguồn lực khác của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và những năng lực, phẩm chất cần có của người lao động trong quá trình
này...
Có thể nhận xét rằng, với các công trình đã viết về lực lượng sản
xuất và về quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất, các tác giả đã khai thác những vấn đề theo hai hướng cơ
bản. Thứ nhất, sự hoạt động của quy luật này trong từng thời kỳ, ở từng
điều kiện, với từng khu vực địa lý cụ thể; thứ hai, đi sâu khai tác các yếu tố
của lực lượng sản xuất, đặc biệt là yếu tố con người đã được nhiều công trình
nghiên cứu, lý giải vai trò to lớn của nó và tìm cách phát huy vai trò đó.
Ở khuynh hướng thứ hai, chúng tôi thấy có nhiều công trình và bài
viết phân tích vấn đề lực lượng sản xuất ở khu vực miền núi và vùng đồng
bào các dân tộc thiểu số với những đặc thù của khu vực này. Cần phải kể
đến những tác giả với các bài viết đáng chú ý sau: Lê Xuân Đình, Ưu tiên
phát triển lực lượng sản xuất, Tạp chí Cộng sản, số 5 (3-1999); Nông Thị
Mồng, Phát triển lực lượng sản xuất - yếu tố tạo đà đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa miền núi phía Bắc nước ta, Tạp chí Triết học, số 3 (6-1999);
Chu Tuấn Nhạ, Khoa học- công nghệ phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, Tạp chí Cộng sản, số 2 (11999); Lê Huy Ngọ, Khoa học- công nghệ phải là động lực mạnh mẽ đưa
nông nghiệp, nông thôn sang bước phát triển mới, Tạp chí Cộng sản, số 3 (21999); Phan Xuân Dũng, Phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, Tạp chí Cộng sản, số 17 (9-1997); Mai Quốc
Chánh, Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp

những công trình vừa nêu, nhằm tổng kết, đánh giá sự vận động, phát triển
của các yếu tố của lực lượng sản xuất ở khu vực miền núi và vùng đồng
bào các dân tộc thiểu số; trên cơ sở đó làm rõ những vấn đề đang đặt ra, tìm
hướng giải quyết, đồng thời khuyến nghị một số giải pháp có tính định


7

hướng để thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất miền núi trong thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Phân tích thực trạng lực lượng sản xuất của các tỉnh miền núi phía
Bắc. Chỉ ra những vấn đề cấp bách đang nảy sinh từ sự vận động và phát
triển của lực lượng sản xuất ở các vùng này. Nêu kiến nghị và đề xuất một
số giải pháp thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất ở miền nhằm đáp
ứng những yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Để thực hiện mục đích đó, luận án có những nhiệm vụ sau:
- Trình bày những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử
về vai trò của lực lượng sản xuất trong sự phát triển xã hội.
- Phân tích tình hình kinh tế - xã hội các tỉnh miền núi phía Bắc.
Làm rõ thực trạng, đặc điểm và những xu hướng biến đổi của lực lượng sản
xuất vùng này.
- Chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của lực lượng
sản xuất miền núi phù hợp với yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước và những mặt, những yếu tố còn yếu kém đang cản trở sự phát
triển của lực lượng sản xuất miền phía Bắc nước ta.
- Đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển
lực lượng sản xuất, góp phần thực hiện thắng lợi chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội ở miền núi phía Bắc.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

6. Ý nghĩa thực tiễn của luận án
Luận án góp phần củng cố nhận thức lý luận về học thuyết hình thái
kinh tế - xã hội, về vai trò của các nhân tố của lực lượng sản xuất đối với sự
phát triển xã hội, nhất là đối với những vùng chậm phát triển. Luận án có
thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho các hoạt động nghiên cứu,


9

giảng dạy lý luận Mác- Lênin ở các trường Đại học, Cao đẳng và các
trường Đảng, đặc biệt là các trường khu vực miền núi và đồng bào các dân
tộc thiểu số phía Bắc. Luận án có thể sử dụng vào việc nghiên cứu những
vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc trong giai đoạn hiện nay ở nước ta.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo và
phụ lục, luận án chia làm ba chương với 7 tiết.


10

Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT

Để tồn tại và phát triển, con người phải tiến hành lao động sản xuất
vật chất. Muốn hoạt động đó của con người được tiến hành bình thường, cần
phải có một số điều kiện nhất định như: môi trường địa lý, điều kiện dân
số, phương thức sản xuất. Các yếu tố kể trên đều có sự tác động qua lại lẫn
nhau và ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất vật chất nói chung;
nhưng trong đó phương thức sản xuất là yếu tố cơ bản và có ý nghĩa quyết
định nhất.

là các quy luật: tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, cơ sở hạ tầng quyết
định kiến trúc thượng tầng, quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với
trình độ của lực lượng sản xuất, v.v... Trong đó quy luật quan hệ sản xuất
phải phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất là quy luật cơ bản nhất, nó
chi phối mọi quy luật khác của xã hội, bởi vì mỗi con người, mặc dù có
những mục đích riêng và đều cố gắng theo đuổi những mục đích đó bằng
nhiều cách khác nhau, song những mục đích này không nằm ngoài nhu cầu
ăn, mặc, ở và các nhu cầu khác của chính con người. Về cơ bản, các hoạt
động của con người đều do những nhu cầu đó thúc đẩy, và con người phụ
thuộc vào mức độ đáp ứng những nhu cầu đó, nói cách khác là phụ thuộc
vào hoạt động sản xuất vật chất và các quy luật của nó.
Khi bàn về hoạt động sản xuất vật chất, C.Mác, Ph.Ăngghen cũng
như V.I.Lênin không dành nhiều công sức cho việc định nghĩa các khái
niệm lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, mà các ông sử dụng và trình
bày các khái niệm này thông qua phân tích nội dung của quy luật quan hệ
sản xuất phải phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất và các hình thức
biểu hiện của nó trong những chế độ xã hội khác nhau. Tuy nhiên, qua việc
các nhà kinh điển sử dụng những khái niệm này, phần nào chúng ta đã có


12

thể hiểu nội dung, cấu trúc của các khái niệm đó. Với khái niệm "lực lượng
sản xuất", theo tư tưởng các nhà kinh điển, có thể hiểu những nội dung cơ
bản của nó như sau:
Lực lượng sản xuất là khái niệm của chủ nghĩa duy vật lịch sử,
phản ánh một hiện tượng xã hội tồn tại, tác động, vận động trong mọi giai
đoạn lịch sử của xã hội loài người. Khái niệm này dùng để chỉ quan hệ giữa
con người với tự nhiên và là sự biểu hiện của mối quan hệ phức tạp đó
trong quá trình sản xuất. Thuật ngữ "lực lượng sản xuất" lần đầu tiên được

hệ qua lại giữa con người với tự nhiên. Nhưng trong mối quan hệ này, chỉ
có quan hệ vật chất giữa con người với tự nhiên mới là biểu hiện trực tiếp
của lực lượng sản xuất; còn các quan hệ khác của con người với tự nhiên
như quan hệ thích nghi, quan hệ nhận thức, quan hệ thẩm mỹ, v.v... không
trực tiếp tạo ra của cải vật chất phục vụ cho những nhu cầu của con người,
do đó không thể coi đó là biểu hiện trực tiếp của lực lượng sản xuất.
Con người đã tạo ra những yếu tố của lực lượng sản xuất, trong đó có
những bộ phận đã sẵn có trong tự nhiên, cũng có những bộ phận con người
phải cải tạo nhiều lần, qua nhiều thế hệ, khi đó vật liệu tự nhiên mới trở thành
các yếu tố của lực lượng sản xuất. Tức là cùng với vật liệu tự nhiên, trong lực
lượng sản xuất còn có sự đóng góp sức lực "vật chất" của con người. Như
vậy, lực lượng sản xuất là sản phẩm của các hoạt động vật chất của con
người được tổng hợp, gom góp, phát triển có kế thừa từ thế hệ này sang thế hệ
khác. Như C. Mác đã viết: "Mỗi thế hệ sau có được những lực lượng sản
xuất do thế hệ trước tạo ra, và những lực lượng sản xuất ấy là nguyên liệu
cho thế hệ sau ấy để thực hiện một hoạt động sản xuất mới,- nhờ hiện
tượng ấy mà hình thành nên mối liên hệ trong lịch sử loài người" [65, tr.
657-658].
Qua đó, có thể hiểu khái niệm lực lượng sản xuất được các nhà kinh
điển sử dụng với những nội dung cơ bản như sau:


14

Thứ nhất: Lực lượng sản xuất là biểu hiện của mối quan hệ giữa
con người với tự nhiên, đó là một hệ thống lực lượng vật chất do con người
và xã hội loài người tạo ra để cải tạo, chinh phục tự nhiên. Hệ thống lực
lượng vật chất này đồng thời biểu hiện luôn cả sức mạnh, năng lực chinh
phục tự nhiên của con người.
Thứ hai: Lực lượng sản xuất là một thể thống nhất bao gồm yếu tố

lực lượng sản xuất, định nghĩa chưa đặt nó thành vấn đề cơ bản trong cấu
trúc của nó. Mặt khác, trong định nghĩa trên cũng chưa phản ánh được tính
kế thừa, tính liên tục, tính cách mạng trong quá trình phát triển của lực
lượng sản xuất, làm cho người đọc khó có thể hình dung ra toàn bộ nội
dung sinh động của nó.
Chúng tôi hiểu lực lượng sản xuất bao gồm các yếu tố sau đây:
1.1.1. Người lao động
Người lao động là yếu tố quan trọng bậc nhất của lực lượng sản
xuất. V.I Lênin đã từng viết: "Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn nhân
loại là người công nhân, là người lao động" [52, tr. 430]. Con người là chủ
thể tích cực, sáng tạo và quyết định hoạt động tác động đến tự nhiên. Trong
hoạt động sản xuất, con người không tác động một cách đơn giản, chỉ bằng
sức mạnh cơ bắp của mình đến tự nhiên, mà con người với trí tuệ là chủ
đạo, biết vận dụng tri thức khoa học - kỹ thuật, chuyên môn, kỹ xảo, v.v...
còn biết tạo ra những công cụ bổ trợ cho các khí quan của mình, và sử dụng
những công cụ đó làm cho tự nhiên thay đổi theo mục đích, yêu cầu có sẵn
hình ảnh trong tư duy từ trước đó. Do đó, trong lực lượng sản xuất, con
người phải là một yếu tố đặc biệt và được xem xét ở những mặt cơ bản như
sức lao động, bao gồm cả sức cơ bắp và sức thần kinh (trí tuệ) tham gia
vào quá trình lao động. Sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học - công nghệ
đã và đang đòi hỏi con người sử dụng sức mạnh thần kinh - trí tuệ ngày


16

một nhiều hơn. Sức mạnh thần kinh - trí tuệ của con người là một loại
nguồn lực đặc biệt. A.Toffler trong tác phẩm "Thăng trầm quyền lực" đã
cho rằng, mọi nguồn lực khác của thiên nhiên đều có thể bị khai thác cạn
kiệt, còn "tri thức có tính lấy không bao giờ hết". Để tiến hành lao động
được, đòi hỏi người lao động phải có một mức độ hiểu biết nhất định về thế


tượng lao động, chỉ có những dạng vật chất nào có khả năng tạo thành những
vật phẩm theo những mục đích, yêu cầu và đáp ứng được những nhu cầu
nào đó của con người, đã và đang được con người tác động, cải tạo, khai thác
chúng thì dạng vật chất tự nhiên đó mới là đối tượng của lao động xã hội.
Chẳng hạn, những loại vật liệu, khoáng sản như than đá, dầu mỏ, v.v... khi
con người chưa biết sử dụng nó để phục vụ đời sống và sản xuất, thì khi đó
bản thân các yếu tố đó chưa trở thành đối tượng lao động của xã hội loài
người. Trình độ khoa học - công nghệ càng cao, sản xuất - xã hội càng phát
triển, thì khả năng cải tạo tự nhiên của con người ngày càng cao, khi đó
càng nhiều những dạng vật chất trong tự nhiên trở thành đối tượng lao động
hơn.
Đối tượng lao động rất phong phú, đa dạng và có nhiều cấp độ khác
nhau. Trong quá trình sản xuất, có những vật phẩm trong tự nhiên con người
chỉ việc khai thác mang về là có thể đáp ứng ngay được những nhu cầu nào
đó của mình, cũng có những loại vật phẩm lại phải qua nhiều lần cải tạo,
nhiều khâu trung gian, mới trở thành sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con
người. Khi nền sản xuất xã hội càng phát triển, khoa học - công nghệ càng
cao, thì loại đối tượng phải cải tạo nhiều lần càng được mở rộng, điều này
là do nhu cầu ngày càng cao của con người quy định.
Chúng ta đã biết rằng, trong sản xuất con người thường xuyên tự
cải tạo mình về mọi mặt, cũng như liên tục cải tiến công cụ lao động, để
ngày càng làm ra nhiều sản phẩm nhằm đáp ứng những nhu cầu ngày càng
tăng của con người và xã hội. Ngược lại, nhu cầu của xã hội cũng tác động
làm cho sản xuất ngày càng phát triển, kéo theo các lĩnh vực phục vụ cho
hoạt động sản xuất cũng phát triển theo. Đặc biệt là sự phát triển của công
cụ lao động và việc ứng dụng các thành tựu của khoa học để cải tiến, sáng
chế, phát minh những công cụ lao động đó, đã làm cho con người ngày




21

tật, v.v... đã trở thành vấn đề toàn cầu, thách thức toàn nhân loại, bắt buộc
mọi quốc gia, mọi dân tộc, mọi khu vực phải xem xét lại những vấn đề
thuộc về đối tượng lao động của mình.
Trong tư liệu sản xuất, ngoài các yếu tố công cụ lao động và đối
tượng lao động, còn cần phải có rất nhiều các điều kiện, phương tiện khác
hỗ trợ cho hoạt động sản xuất như đường sá, các phương tiện vận chuyển,
bến bãi, nhà kho, thông tin phối hợp sản xuất, v.v... Mặc dù những yếu tố
này không trực tiếp làm ra sản phẩm, nhưng có những ảnh hưởng lớn đến
sản xuất, sản xuất càng phát triển đòi hỏi những điều kiện và phương tiện
phục vụ sản xuất càng phải phát triển theo. Đặc biệt, trong sản xuất hàng
hóa nếu như không chú ý thỏa đáng đến những điều kiện đó, nó sẽ ảnh
hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất xã hội vì những yếu tố này góp phần
làm tăng hay giảm các chi phí giao dịch, chi phí cho vận chuyển nguyên
vật liệu, bảo quản các sản phẩm, đó là những chi phí cũng được lấy ra từ
giá trị của sản phẩm. Đối với những vùng còn lạc hậu, càng cần phát triển
các điều kiện và phương tiện này nhiều hơn, bởi vì nó còn góp phần lôi kéo
đầu tư, lưu thông các yếu tố phục vụ sản xuất.
1.1.3. Khoa học - công nghệ
Khoa học - công nghệ là tri thức của nhân loại, ở một phạm vi nhất
định nào đó nó được xem như một yếu tố thuộc lĩnh vực tinh thần của đời
sống xã hội, nhưng ngày nay người ta đã thừa nhận khoa học - công nghệ là
một nhân tố đặc biệt của lực lượng sản xuất, nhân tố này chỉ thực sự phát
huy được vai trò của nó khi được kết hợp với con người và các yếu tố của
tư liệu lao động. Do khoa học - công nghệ đang ngày càng có vai trò to lớn
trong các yếu tố của lực lượng sản xuất, cho nên chúng tôi xét riêng nó như
một yếu tố tương đối độc lập để một mặt đánh giá đúng vai trò to lớn khoa
học - công nghệ, tránh những tư tưởng quá coi thường hoặc quá đề cao vai

của con người. Hơn nữa, nhờ có những thành quả của khoa học - công
nghệ, chức năng của người sản xuất đã thay đổi, con người ngày càng ít


23

phải tham gia vào các hoạt động sản xuất vật chất mà chủ yếu là điều
khiển, nghiên cứu các quá trình sản xuất đó. Trước sức mạnh và hiệu quả
kỳ diệu của nó làm cho nhiều người lầm tưởng rằng với khoa học - công
nghệ thì có thể thay thế tất cả, nhưng cần hiểu rằng bản thân khoa học công nghệ không thể tách khỏi con người, chúng chỉ biểu hiện được sức
mạnh của nó thông qua công cụ lao động và thông qua hoạt động thực tiễn
của con người. Mọi lý lẽ khác, muốn dựa vào khoa học - công nghệ để giải
thích, để lảng tránh một nội dung nào khác, hay muốn thay thế vai trò to
lớn của con người trong sản xuất... đều không có cơ sở tồn tại.
Nhân loại đã từng chứng kiến nhiều biến đổi to lớn trong sản xuất
vật chất do những cuộc cách mạng về khoa học - công nghệ đem lại. Càng
về sau, khoa học càng đem lại cho con người những đổi thay mạnh mẽ và
sâu sắc. Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ ngày nay, vừa phát triển
mạnh về chiều sâu, vừa mở rộng ra nhiều lĩnh vực và đang được đặc biệt
quan tâm ở ba mũi nhọn cơ bản là:
Thứ nhất: Công nghệ điện tử, tin học và viễn thông. Bằng kỹ thuật
số và ứng dụng rộng rãi tin học vào đời sống và sản xuất: từ tổ chức, quản
lý, điều hành cho đến mua bán các sản phẩm, tạo mẫu mã, v.v... Quá trình
sản xuất vật chất và hoạt động của con người đã ngày càng tự động hóa
cao, trong đời sống - xã hội đã xuất hiện nhiều thuật ngữ mới như: nền kinh
tế ảo, thị trường ảo hoặc kinh tế mạng, kinh tế tri thức... Sự toàn cầu hóa
thông tin và thị trường kinh tế làm cho thế giới dường như trở nên nhỏ bé
hơn đối với con người. Điều đó cho phép những quốc gia chậm phát triển
có cơ hội tránh được các bước phát triển tuần tự không cần thiết trong lịch
sử để đi tắt, đón đầu tạo ra sự phát triển mới của mình. Nhưng đó cũng

xuất là một thời gian rất dài, thậm chí nó đủ để làm lu mờ vai trò của khoa
học. Ngày nay sự phát triển của khoa học vượt trước rất xa so với nhu cầu
của sản xuất, điều đó tác động rất mạnh đến mọi mặt của quá trình sản xuất


25

nói chung. Dưới góc độ đó thì có thể nói rằng khoa học đã trở thành lực
lượng sản xuất. Nhưng trong thực tế chỉ khi khoa học đã thẩm thấu vào các
yếu tố của lực lượng sản xuất thì chúng ta mới nhận rõ vai trò trực tiếp và
to lớn của khoa học đối với lực lượng sản xuất. Những thành tựu của khoa
học - công nghệ đem lại sự phát triển vượt bậc cho lực lượng sản xuất, song
chính nó cũng có mặt trái đáng phải lưu tâm, nhất là những người sử dụng
những thành tựu này một cách phi nhân tính, chạy theo một vài lợi ích các
nhân. Tất nhiên ở đây không chỉ nói về khoa học tự nhiên mà ngay cả khoa
học xã hội cũng đang dần trong quá trình trở thành như vậy.
Cùng với những thành tựu của khoa học tự nhiên, khoa học xã hội
và nhân văn cũng đang ngày một phát huy vai trò to lớn của mình trong đời
sống - sản xuất vật chất xã hội. Một mặt, khoa học xã hội và nhân văn
nghiên cứu các quá trình tâm, sinh lý của con người và tìm cách phát huy
cao độ tính tích cực, sáng tạo của con người trong sản xuất vật chất. Mặt
khác, nó còn tìm ra những khuynh hướng vận động của xã hội nói chung và
của nền kinh tế nói riêng, nhờ đó có những chính sách, định hướng phát
triển kinh tế - xã hội một cách phù hợp.
1.2. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN
Do những đòi hỏi của đời sống thực tiễn và của quá trình sản xuất
vật chất, lực lượng sản xuất đã thường xuyên vận động, phát triển một cách
liên tục, khách quan. Trong quá trình vận động, phát triển của lực lượng
sản xuất, có những nhân tố tác động tích cực tạo điều kiện cho nó đi lên,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status