LUẬN VĂN: Phát triển lực lượng sản xuất ở tỉnh Yên Bái thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay doc - Pdf 15

LUẬN VĂN:

Phát triển lực lượng sản xuất ở tỉnh Yên
Bái thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
hiện nay

Mở đầu 1. Lý do chọn đề tài
Văn kiện Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định một trong những nhiệm
vụ hàng đầu ở nước ta là: "Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa"
[27, tr.9].
Để thực hiện nhiệm vụ trên, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định phát triển lực
lượng sản xuất là vấn đề quan trọng hàng đầu thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh, tạo tiềm lực kinh
tế đủ mạnh từng bước hội nhập kinh tế quốc tế để từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội,
con đường mà chúng ta đã lựa chọn. Trên cơ sở đó từng bước xây dựng quan hệ sản xuất

(03/1999); Lê Huy Ngọ, Khoa học - công nghệ phải là động lực mạnh mẽ đưa nông
nghiệp, nông thôn sang bước phát triển mới, Tạp chí Cộng sản số 3 (02-1999), Nguyễn
Cảnh Hồ, có phải khoa học đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, Tạp chí Triết
học, số 2 (02/2002); Lê Văn Dương, vấn đề đổi mới lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, Tạp chí Triết
học, số 1 (01/2002)…. Lê Du Phong, Hoàng Văn Hoa, Phát triển kinh tế - xã hội các
vùng dân tộc và miền núi theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 1998; Mai Quốc Chánh, Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu
cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999; Lương Xuân
Quỳ, xây dựng quan hệ sản xuất định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện tiến bộ công
bằng, xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002
Song, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào chuyên bàn về việc phát triển
lực lượng sản xuất ở tỉnh Yên Bái thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa dưới dạng một
luận văn khoa học.
3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu - Mục đích đề tài: Trên cơ sở phân tích thực trạng vấn đề phát triển lực lượng sản
xuất ở tỉnh Yên Bái thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, luận văn phát hiện
vấn đề nảy sinh và đưa ra những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển lực lượng sản xuất,
thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh Yên Bái.
- Nhiệm vụ:
+ Hệ thống lại những vấn đề lý luận cơ bản về vai trò của lực lượng sản xuất trong
sự phát triển xã hội.
+ Phân tích, đánh giá sự phát triển lực lượng sản xuất của Yên Bái trong thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chỉ ra những mâu thuẫn trong quá trình phát triển lực
lượng sản xuất ở tỉnh Yên Bái.
+ Phân tích triển vọng, phương hướng và giải pháp nhằm phát triển lực lượng sản
xuất ở tỉnh Yên Bái.
- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu vấn đề phát triển lực lượng sản xuất ở


Chương 1
Vai trò của lực lượng sản xuất đối với
công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

1.1. Vị trí của lực lượng sản xuất trong sự phát triển xã hội
1.1.1. Khái niệm lực lượng sản xuất
Quan niệm duy vật lịch sử chỉ ra rằng: "Cái sự thật hiển nhiên là trước hết con
người cần phải ăn, uống, ở và mặc " [56, tr.166]. Điều đó có nghĩa là để tồn tại và phát
triển, con người phải tiến hành sản xuất vật chất. Hoạt động sản xuất vật chất là hành vi
đầu tiên của con người cũng như lịch sử loài người. Trong quá trình sản xuất con người
biến đổi giới tự nhiên, biến đổi đời sống xã hội, đồng thời biến đổi chính bản thân mình.
Sự sản xuất ra đời sống bản thân mình bằng lao động, cũng như ra đời sống của
người khác bằng việc sinh con đẻ cái biểu hiện ra là một quan hệ "kép"; quan hệ với tự
nhiên và quan hệ với xã hội, quan hệ với xã hội với ý nghĩa đó là sự hợp tác của nhiều
người, kể cả là trong những điều kiện nào, theo cách nào và nhằm mục đích gì ? Trong đó
quan hệ của con người với tự nhiên trong sản xuất được biểu hiện là lực lượng sản xuất,
còn quan hệ giữa người với người trong sản xuất được biểu hiện là quan hệ sản xuất.
Trong quan hệ "kép" này, vai trò quyết định cuối cùng thuộc về lực lượng sản xuất của xã
hội bởi lẽ "Tổng thể những lực lượng sản xuất mà con người đã đạt được quyết định
trạng thái xã hội" [52, tr.42]. Vậy lực lượng sản xuất là gì ? Quan điểm của chủ nghĩa
Mác về vấn đề này như thế nào?
Khi nói tới hoạt động sản xuất vật chất, C.Mác, Ph.ănghen và Lênin không bàn
nhiều về định nghĩa và các khái niệm lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, mà các ông
trình bày thông qua quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ và tính chất của lực
lượng sản xuất. Lực lượng sản xuất là khái niệm của chủ nghĩa duy vật lịch sử. Với việc
vận dụng phép biện chứng duy vật để giải quyết những vấn đề của lịch sử đã làm cho
C.Mác và Ph.ănghen tiến một bước vượt bậc so với những nhà tư tưởng trước.
Thuật ngữ "lực lượng sản xuất" lần đầu tiên được C.Mác nêu lên trong tác phẩm Hệ
tư tưởng Đức và được phát triển làm rõ thêm ở trong các tác phẩm: "Sự khốn cùng của

người với xã hội loài vật là ở chỗ: Loài vật may mắn lắm chỉ hái lượm, trong khi con người
sản xuất" [60, tr.241]. Trong quá trình tác động vào tự nhiên sản xuất ra của cải vật chất, con người không
chỉ với cơ bắp sức lực mà còn dùng cả những tri thức, kinh nghiệm kỹ năng, kỹ xảo để
tác động vào tự nhiên, tạo ra những sản phẩm vật chất có hiệu quả nhất. Chính con người
tạo ra tất cả những phương tiện máy móc, tạo ra công cụ lao động, tác động vào đối
tượng lao động, tạo ra phương tiện sản xuất để cho hoạt động sản xuất của con người
ngày một nâng cao. C.Mác viết: "Một vật do bản thân tự nhiên cung cấp đã trở thành một
khí quan của sự hoạt động của con người, khí quan mà con người đem chắp vào những
khí quan của cơ thể mình, và do đó kéo dài cái tầm thước tự nhiên của cơ thể đó…" [58,
tr.268].
Những tư liệu sản xuất dù quan trọng đến đâu thì riêng bản thân chúng cũng không tạo ra
được của cải vật chất, nó chỉ có tác dụng khi con người sử dụng.
Cùng với việc tạo ra công cụ sản xuất, con người còn sử dụng những công cụ đó để
làm ra của cải vật chất cho xã hội. Từ những công cụ thủ công bằng đá, bằng đồng, bằng
sắt, con người tiến tới chế tạo máy móc với kỹ thuật mới, công nghệ mới. Trên cơ sở vận
dụng những thành tựu mới nhất của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, ngày nay
con người bước những bước kỳ diệu trong việc chinh phục tự nhiên. Cũng chính sự tiến
bộ của khoa học kỹ thuật sản xuất đòi hỏi lao động của con người trở thành lao động có
trí tuệ và lao động trí tuệ. Mà trí tuệ con người không phải là cái gì siêu nhiên, nó là sản
phẩm của tự nhiên của lao động, trí tuệ hình thành và phát triển cùng với lao động làm
cho sản phẩm của lao động ngày càng có hàm lượng trí tuệ cao. Do đó người lao động
cần phải được tăng cường tri thức trên mọi lĩnh vực.
Trong lực lượng sản xuất, con người và tư liệu sản xuất có mối liên hệ hữu cơ. Nó
chính là hệ thống những phương thức kết hợp trong quá trình sản xuất của cải vật chất
của xã hội. Trong lực lượng sản xuất, cụ thể trong tư liệu sản xuất công cụ lao động là
yếu tố quyết định của lực lượng sản xuất, nó chính là tiêu chí cơ bản thể hiện trình độ
trinh phục tự nhiên của con người.

hiện, trong đó lao động của anh ta được triển khai, từ đó và nhờ đó, lao động của anh ta
sản xuất ra sản phẩm" [62, tr.130]. Đối tượng lao động là bộ phận của giới tự nhiên mà
lao động của con người tác động vào làm thay đổi hình thái của nó cho phù hợp với mục
đích của con người. Đối tượng của lao động tồn tại dưới hai dạng, trước hết là dạng có
sẵn trong tự nhiên, con người tách nó ra khỏi mối liên hệ trực tiếp với tự nhiên và biến
thành sản phẩm như gỗ trong rừng nguyên thủy, quặng dưới lòng đất, tôm cá dưới sông biển… Thứ đến là dạng đã trải qua lao động chế biến như than trong nhà máy nhiệt điện,
sắt, thép, để chế tạo máy móc. Đối tượng lao động thuộc dạng này còn gọi là nguyên liệu.
Chúng thuộc đối tượng của các ngành công nghiệp chế biến. Tuy nhiên, không phải mọi
dạng vật chất có sẵn trong tự nhiên đều là đối tượng lao động mà chỉ có những dạng vật
chất có khả năng tạo ra những vật phẩm theo những mục đích, yêu cầu đáp ứng những
nhu cầu nào đó của con người, và được con người tác động, khai thác, cải tạo thì chúng
mới trở thành đối tượng của lao động. Khi khoa học công nghệ càng cao, sản xuất xã hội
càng phát triển, khả năng cải tạo tự nhiên của con người ngày càng lớn thì khi đó ngày
càng nhiều dạng vật chất trở thành đối tượng lao động.
Cũng cần lưu ý rằng mọi nguyên liệu đều là đối tượng của lao động nhưng không
phải mọi đối tượng lao động đều là nguyên liệu. C.Mác nói: "Mọi nguyên liệu đều là đối
tượng lao động, nhưng không phải mọi đối tượng lao động đều là nguyên liệu. Đối tượng
của lao động chỉ trở thành nguyên liệu khi đã trải qua một sự biến đổi nào đó do lao động
gây ra". Trong tương lai nguyên liệu tự nhiên cạn kiệt và được thay bằng những vật liệu
không có trong tự nhiên, tương lai sử dụng những nguyên liệu "nhân tạo" thay thế cho
dạng nguyên liệu truyền thống, tuy nhiên những nguyên liệu "nhân tạo" đó cũng đều bắt
nguồn từ tự nhiên.
Trong tư liệu sản xuất, ngoài công cụ lao động và đối tượng lao động còn có
phương tiện sản xuất, kết cấu hạ tầng bao gồm: hệ thống dịch vụ, đường xá, cầu cống,
bến bãi, nhà kho, thông tin… những yếu tố này không trực tiếp tạo ra sản phẩm. Trước
đây nó chỉ mang nghĩa dịch chuyển giá trị bên ngoài, không được coi trọng thì nay được
nhận thức lại và thấy rằng nó có ảnh hưởng lớn tới giá trị sản phẩm, đến sản xuất, nó là

phá" trong ứng dụng những thành quả của khoa học công nghệ vào sản xuất.
Khoa học chỉ thể hiện được vai trò to lớn của mình khi nó thâm nhập vào các yếu tố
cấu thành lực lượng sản xuất, thẩm thấu vào cả những yếu tố quan hệ sản xuất và kiến
trúc thượng tầng, nâng trình độ người lao động, cải tiến công cụ lao động, cải tạo đối
tượng lao động, phương tiện sản xuất… Nó thâm nhập vào tư duy lãnh đạo quản lý, điều
hành sản xuất và các lĩnh vực khác trong đời sống xã hội để tạo ra sự thay đổi to lớn về
kinh tế xã hội từ đó tìm ra những xu hướng vận động của nền kinh tế để đưa ra những
chính sách phát triển kinh tế - xã hội phù hợp.
Khoa học không chỉ tạo ra những hàng hóa thông thường mà còn tạo ra một loại
hàng hóa đặc biệt, hàng hóa chất xám phi vật thể. Với cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, tri thức trở thành yếu tố không thể thiếu được của lao động sản xuất, lao
động trí tuệ đang dần trở thành lao động chủ yếu. Lao động cơ bắp mặc dù không bị mất
đi nhưng dần dần được thay thế bằng lao động trí tuệ của nền kinh tế tri thức. Nền kinh tế
tri thức đang và sẽ là một nền kinh tế tiết kiệm tài nguyên nhưng vẫn tạo ra một khối
lượng của cải đồ sộ. Điều này khẳng định trí tuệ của con người đang là nguồn lực to lớn
của sản xuất vật chất và hoạt động xã hội. Cho nên con người chính là yếu tố hàng đầu,
chủ yếu của lực lượng sản xuất. Có thể thấy khoa học công nghệ hiện đại đã quyết định
đến sự phát triển sản xuất, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, nhưng nó không phải là
yếu tố quyết định nhất trong lực lượng sản xuất. Công nghệ tiên tiến và hiện đại chỉ làm
tăng thêm khả năng chinh phục tự nhiên của con người, giúp con người ngày càng tạo ra
nhiều của cải vật chất, khám phá những hiện tượng, khả năng mới của con người chứ
không thay thế được hoàn toàn hoạt động sản xuất của con người. Khoa học kỹ thuật hiện
đại chỉ thay thế cho con người những hoạt động nặng nhọc, phức tạp giúp con người có
điều kiện để phát triển trí tuệ, học tập và nghiên cứu.
Trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất, các yếu tố của lực lượng sản xuất
không tách rời nhau mà chúng có quan hệ qua lại tác động hỗ trợ nhau để cùng tồn tại và
phát triển. Với ý nghĩa đó, lực lượng sản xuất trở thành yếu tố động nhất, cách mạng
nhất.

thức phát triển của lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành những
xiềng xích của lực lượng sản xuất. Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cách
mạng xã hội [55, tr.15].
Lực lượng sản xuất phát triển làm thay đổi quan hệ sản xuất. Quan hệ sản xuất thay
đổi cho phù hợp lực lượng sản xuất làm thay đổi cả phương thức sản xuất. Phương thức
sản xuất thay đổi làm thay đổi kiến trúc thượng tầng. Kiến trúc thượng tầng thay đổi phù
hợp với cơ sở hạ tầng làm thay đổi cả hình thái kinh tế xã hội -làm thay đổi toàn bộ xã
hội cả vật chất lẫn tinh thần.
Ngày nay sự phát triển lực lượng sản xuất là nguyên nhân sâu xa của toàn cầu hóa.
Song, toàn cầu hóa lại tác động mạnh mẽ trở lại lực lượng sản xuất. Nó thúc đẩy sự phát
triển nhanh chóng của lực lượng sản xuất, đưa lại sự tăng trưởng ngày càng cao cho nền
kinh tế thế giới. Đầu thế kỷ XX, GDP thế giới tăng 2,7 lần nhưng đến những năm cuối thế kỷ
XX thì GDP đã đạt 5,2 lần, gấp 2 lần so với những năm đầu thế kỷ. Với sự phát triển nhanh
chóng của lực lượng sản xuất , nhất là trong xu thế toàn cầu hóa những nước đang phát triển có thể tiếp nhận các nguồn lực về vốn, công nghệ, về con người để tạo đà phát triển cho
mình. Những năm 70 của thế kỷ XX tốc độ tăng trưởng kinh tế của những nước đang phát
triển từ 2,9%/năm thì đến những năm 90 đã lên đến 5%/năm.
Toàn cầu hóa tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển góp phần từng bước
củng cố hoàn thiện quan hệ sản xuất. Hiện nay dưới tác động của toàn cầu hóa, khu vực
hóa, lực lượng sản xuất phát triển càng nhanh chóng, thúc đẩy nhanh quá trình cải tạo và
phát triển xã hội.
Thực tế đã chứng minh từ khi nhìn nhận lại một cách đúng đắn mối quan hệ giữa quan
hệ sản xuất với trình độ và tính chất của lực lượng sản xuất, chúng ta phát triển lực lượng sản
xuất nhưng đồng thời tiến hành xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp thì nền kinh tế Việt Nam
có những bước tăng trưởng vượt bậc.
1.1.3. Yêu cầu của sự phát triển lực lượng sản xuất thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở Việt Nam
Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước thuộc địa nửa phong kiến bỏ qua chế

nghiệp” [18, tr. 55].
Đảng ta đưa ra chủ trương phát triển lực lượng sản xuất trong Đại hội Đảng lần thứ
V là Đảng ta đã nhận thức được vai trò của lực lượng sản xuất mới là tạo ra được một
năng suất lao động cao hơn, nhưng khi lực lượng sản xuất còn ở trình độ sản xuất nhỏ
manh mún thì phải nhận thức mối quan hệ giữa các yếu tố của lực lượng sản xuất, từ đó
Đảng đưa ra chủ trương đường lối phát triển lực lượng sản xuất:
Điều quan trọng nhất, việc có thể là cần phải làm trước tiên là làm chủ
tập thể để sử dụng hợp lý và có hiệu quả lao động và đất đai, mở rộng ngành
nghề, tại từng cơ sở, trên từng địa phương và trong cả nước; để mọi người lao
động đều có việc làm, mọi đất đai đều được khai thác, mọi ngành nghề đều
được phát triển cả chiều rộng, lẫn chiều sâu, tạo năng suất lao động xã hội cao
hơn, giá trị tổng sản lượng lớn hơn, cơ cấu sản phẩm phong phú hơn. Như vậy,
cần phải tập trung phát triển mạnh nông nghiệp, đưa nông nghiệp một bước
lên sản xuất xã hội chủ nghĩa, trong một cơ cấu kết hợp chặt chẽ và đúng đắn
nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp nặng [18, tr.55-56].
Từ Đại hội VI đến nay, đường lối phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa
của Đảng đã khắc phục những thiếu sót khuyết điểm, từng bước đổi mới phương thức
thực hiện phù hợp với thực tiễn đất nước và tình hình thế giới đã và đang có nhiều biến đổi. Thực hiện phát triển lực lượng sản xuất đồng thời tiến hành xây dựng quan hệ sản
xuất phù hợp với trình độ và tính chất của lực lượng sản xuất.
Với đặc điểm chủ yếu của lực lượng sản xuất nước ta hiện nay là sản xuất nhỏ, thủ
công phân tán, phân bổ không đều. Mà theo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lê nin, lực lượng
sản xuất là nhân tố quyết định cuối cùng đối với sự phát triển xã hội. Một nền sản xuất
phát triển cao trước hết phải dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại. Cho nên phát triển xã
hội trước hết phải ưu tiên tập trung cho phát triển lực lượng sản xuất, xác lập quan hệ sản
xuất cũng nhằm giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất.
Đặc trưng của CNXH là có nền sản xuất cao, dựa trên lực lượng sản xuất tiên tiến
hiện đại. Với đặc điểm của lực lượng sản xuất nước ta, việc tập trung phát triển lực lượng

tâm của cả thời kỳ quá độ:
Đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất, kỹ
thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản
xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp
lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng
công nghiệp và nông nghiệp cả nước thành một cơ cấu kinh tế công nông
nghiệp [17, tr.68].
Đại hội IV đường lối công nghiệp hoá XHCN đã có sự điều chỉnh sát hơn, hợp lý
hơn.
Đại hội III và IV của Đảng đã khẳng định công nghiệp hoá là nhiệm vụ trung tâm
của cả thời kỳ quá độ nhưng đến Đại hội V của Đảng, nội dung công nghiệp hoá XHCN
mới được xác định một cách cụ thể rõ ràng hơn: “Trong 5 năm 1981 - 1985 và những
năm 80 cần tập trung sức phát triển mạnh nông nghiệp, coi nông nghiệp là một mặt trận
hàng đầu, đưa nông nghiệp một bước lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, ra sức đẩy mạnh
sản xuất hàng tiêu dùng và tiếp tục xây dựng một số ngành công nghiệp nặng quan trọng,
kết hợp nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp nặng trong một cơ cấu
công - nông nghiệp hợp lý". Đó là những nội dung chính của công nghiệp hoá trong
chặng đường trước mắt.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI - bước ngoặt trong đổi mới tư duy của Đảng ta
về CNXH. Tư tưởng chủ đạo của các chính sách kinh tế là giải phóng mọi năng lực sản
xuất hiện có, khai thác mọi khả năng tiềm tàng của đất nước và sử dụng có hiệu qủa sự giúp đỡ quốc tế để phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất. Đại hội chỉ rõ: “ nhiệm vụ
bao trùm, mục tiêu khái quát của những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định
mọi mặt tình hình kinh tế xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy
mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo” [19, tr.42].
Đến Đại hội VII của Đảng thông qua cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên CNXH: Các Nghị quyết Trung ương khoá VII đã tiếp tục khẳng định và làm
rõ quan điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cương lĩnh chỉ rõ:

thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu
kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của
sức sản xuất, mức sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng - an ninh vững
chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh [22, tr.70].
Từ khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa, để xác định rõ tại Hội nghị lần thứ VII,
Ban Chấp hành Trung ương khoá VII đến Đại hội VIII và Đại hội IX tiếp tục cụ thể hoá
hơn về nội dung của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đại hội VIII khẳng định nước ta
chuyển sang thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
“Nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền đề cho công
nghiệp hoá đã cơ bản hoàn thành cho phép chuyển sang thời kỳ mới đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" [24, tr.67- 68]. Đại hội IX khẳng định “phát triển kinh
tế công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm” [25, tr.91].
Vậy công nghiệp hoá là gì? hiện đại hoá là gì ? Vì sao nhất thiết phải gắn công
nghiệp hoá với hiện đại hoá. Đã có những thời kỳ chúng ta chỉ có công nghiệp hoá mà
không tính đến hiện đại hoá.
Công nghiệp hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất
kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính, sang sử
dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên
tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năng
suất lao động xã hội cao.
Hiện đại hóa là làm cho các quá trình kinh tế - xã hội mang tính chất hiện đại. Hiện
đại hoá nền kinh tế quốc dân làm cho kỹ thuật và trình độ sản xuất cũng như cơ cấu kinh
tế đạt được trình độ tiên tiến của thời đại. Ngoài mặt kinh tế, kỹ thuật, hiện đại hoá còn
bao gồm cả phương diện kinh tế - xã hội. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là hai khái niệm không hoàn toàn đồng nhất, đã có
thời kỳ chúng ta chỉ nói tới công nghiệp hoá với kỹ thuật cơ bản, với cơ chế quản lý theo
lối hành chính, mệnh lệnh, quan liêu bao cấp thì nay chúng ta nói công nghiệp hoá luôn
gắn với hiện đại hoá. C.Mác đã chỉ ra rằng:

quan trọng hàng đầu để tiến tới xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng đồng
thời là quá trình giải quyết hàng loạt mối quan hệ nhà nước và thị trường, sở hữu và kinh
doanh, giữa việc phát triển các yếu tố của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất, giữa
phát triển kinh tế với tiến bộ công bằng xã hội, phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường
sinh thái, giữa truyền thống và hiện đại, đòi hỏi phải được giải quyết. Nhưng yếu tố quyết
định tác động trực tiếp đến quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đó chính là lực lượng
sản xuất, nó đảm bảo thành công hay thất bại của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và công nghiệp hoá hiện đại hoá cũng chính là nhân tố tạo bước nhảy về chất cho sự phát
triển của lực lượng sản xuất.
1.2.2. Sự tác động của lực lượng sản xuất (xét trong quan hệ với quan hệ sản
xuất) đến quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là để tạo ra những tiền đề cơ sở vật chất để làm
chuyển đổi mọi mặt đời sống xã hội.
Để tiến hành sản xuất, con người không chỉ có quan hệ với giới tự nhiên mà còn có
quan hệ với nhau tức là những quan hệ sản xuất. Trong tác phẩm lao động làm thuê và tư
bản, C.Mác viết:
Trong sản xuất, người ta không chỉ quan hệ với giới tự nhiên, người ta
không thể sản xuất được nếu không kết hợp với nhau theo một cách nào đó để
hoạt động chung và để trao đổi hoạt động với nhau. Muốn sản xuất được
người ta phải có những mối liên hệ và quan hệ nhất định với nhau và quan hệ
của họ với giới tự nhiên, tức là việc sản xuất [54, tr.552].
Trong tác phẩm góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị, C.Mác đã chỉ ra: “Trong
sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người có những quan hệ nhất định, tất yếu,
không tuỳ thuộc vào ý muốn của họ, những quan hệ sản xuất” [54, tr.553].
Có thể thấy quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người và người trong quá trình sản
xuất vật chất, quan hệ tất yếu khách quan không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người. Quan hệ này được biểu hiện trên ba mặt, đó là quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản


hướng của mỗi nền sản xuất cụ thể bằng cách nắm bắt các nhân tố xác định của một nền
sản xuất, điều khiển và tổ chức cách thức vận động của các nhân tố đó, các quan hệ tổ chức
và quan hệ quản lý sản xuất có khả năng đẩy nhanh hoặc kìm hãm các quá trình khách quan
của sản xuất.
Các quan hệ về mặt tổ chức và quản lý sản xuất luôn có xu hướng thích ứng với
kiểu quan hệ sở hữu thống trị của mỗi nền sản xuất cụ thể. Do vậy, việc sử dụng hợp lý
các quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất có khả năng vươn tới tối ưu. Trong trường hợp
ngược lại các quan hệ quản lý và tổ chức có thể làm biến dạng quan hệ sở hữu, ảnh
hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội.
Quan hệ về mặt phân phối sản phẩm cũng là những nhân tố có ý nghĩa hết sức to lớn
đối với sự vận động của toàn bộ nền kinh tế xã hội. Mặc dù bị phụ thuộc vào các quan hệ
sở hữu, vào trình độ tổ chức quản lý sản xuất song, do có khả năng kích thích trực tiếp
vào lợi ích của con người, nên các quan hệ phân phối là “chất xúc tác” của các quá trình
kinh tế - xã hội.
Quan hệ phân phối có thể thúc đẩy tốc độ và nhịp điệu của sự sản xuất, làm năng
động toàn bộ đời sống kinh tế xã hội, hoặc trong trường hợp ngược lại nó có khả năng
kìm hãm sản xuất, kìm hãm sự phát triển của xã hội.
Tuy nhiên, quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất mặc dù giữ vai trò quyết định đối với
quan hệ trong tổ chức quản lý và phân phối sản phẩm nhưng nếu quan hệ tổ chức và phân
phối sản phẩm không giải quyết đúng đắn sẽ tác động tiêu cực đến quan hệ sở hữu, làm
cho quan hệ sở hữu biến dạng. Động lực thúc đẩy hoạt động con người là hoạt động “lợi
ích” mà cơ sở là “lợi ích kinh tế”. Do đó, sở hữu tư liệu sản xuất luôn là cơ sở, phương
tiện, điều kiện của mọi quan hệ lợi ích. Nhưng quan hệ sở hữu không tự thực hiện được
lợi ích của mình mà phải thông qua quan hệ tổ chức quản lý và phân phối. Quan hệ tổ
chức, quản lý và phân phối không đúng, vi phạm lợi ích người lao động thì sở hữu công
cộng, tập thể dù có ý nghĩa to lớn đến đâu cũng đều vô nghĩa.
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, lực lượng sản xuất tác động
mạnh mẽ đến quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhưng bao giờ cũng xét trong mối
quan hệ với quan hệ sản xuất. Vì lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của

xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa phù hợp với nó. Ngoài ra quan hệ sản xuất
còn tạo ra một hệ thống những yếu tố thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng
sản xuất. Khi quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ và tính chất của lực lượng sản xuất nó sẽ thúc đẩy cho lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng. Và khi quan hệ sản xuất không phù
hợp với trình độ và tính chất của lực lượng sản xuất sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng
sản xuất. Đó là biểu hiện tính năng động của lực lượng sản xuất - chính sự biến đổi, phát
triển lực lượng sản xuất là cơ sở, động lực chủ yếu thúc đẩy sự phát triển cả chế độ xã hội và
cũng là cơ sở kinh tế bảo đảm thành công quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Sự tác động của lực lượng sản xuất đến quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thể
hiện ở chính các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, các yếu tố con người, công cụ lao
động, đối tượng lao động, khoa học công nghệ đều có vai trò to lớn đối với quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, chúng là những nhân tố quyết định sự thành công hay thất bại của
công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa công cụ lao động phải nhờ có khoa học
công nghệ hiện đại tác động vào mới làm cho chúng thay đổi về chất. Và người lao động
- cũng như thế phải có khoa học hiện đại tác động vào, nâng hiểu biết của họ lên tầm cao
thì chính họ mới tạo ra và sử dụng những công cụ do họ tạo ra trong thực tiễn sản xuất,
đáp ứng đòi hỏi mới, cao hơn của sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa. Thật vậy, đây
là sự tác động biện chứng. Đối tượng lao động (tư liệu sản xuất và phương tiện sản xuất)
cũng phải nhờ đến con người với khoa học công nghệ mới phát huy được tiềm năng to
lớn của mình phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa một cách hiệu quả nhất.
Nên ở đây luận văn chỉ đề cập sự tác động của lực lượng sản xuất đối với công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, chủ yếu là vai trò của người lao động và khoa học công nghệ.
Con người là chủ thể, là lực lượng sản xuất hàng đầu của xã hội, nên con người
chính là động lực cơ bản nhất của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Với các nguồn
lực khác như: đất, nước… khai thác đến một lúc nào đó sẽ cạn kiệt, chỉ có người lao động
với trí tuệ, chất xám là có thể tự tái tạo đến vô hạn. Các nguồn lực khác không tự mình
trở thành động lực của sự phát triển được mà phải nhờ đến người lao động. Người lao


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status