Kiểm tra và xử lý đối với văn bản quy phạm pháp luật của hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân trên địa bàn tỉnh thanh hóa - Pdf 10

Kiểm tra và xử lý đối với văn bản quy phạm
pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban
nhân dân trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

Doãn Đình Tiến

Khoa Luật
Luận văn ThS ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật; Mã số: 60 38 01
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Hoàng Anh
Năm bảo vệ: 2012

Abstract: Tổng hợp những thành tựu lý luận cơ bản về hoạt động ban hành, kiểm
tra văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL). Phân tích thực trạng hoạt động ban
hành, kiểm tra VBQPPL của chính quyền địa phương qua khảo sát thực tiễn tại
tỉnh Thanh Hóa, từ đó rút ra các kết luận đánh giá và kinh nghiệm đúc kết. Xây
dựng và kiến giải các biện pháp nhằm hoàn thiện hoạt động kiểm tra VBQPPL của
chính quyền địa phương.
Keywords: Luật hành chính; Pháp luật Việt Nam; Quy phạm pháp luật; Hội đồng
Nhân dân; Ủy ban nhân dân

Content
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, xây dựng Nhà nước pháp
quyền, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế, chủ động hội nhập quốc tế là những quyết
sách quan trọng đã được Đảng ta xác định và khẳng định trong nhiều văn kiện quan trọng
như: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị về một số
nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới; Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày
24 tháng 5 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống
pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; Nghị quyết số 49-NQ/TW
ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020; Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX Nhằm triển khai thực hiện các

Trong thời kỳ đổi mới chính quyền địa phương đang rất quan tâm tới việc xây dựng
và ban hành VBQPPL theo thẩm quyền, các văn bản này được ban hành chủ yếu để cụ
thể hóa và thực hiện những quy định của các VBQPPL của cơ quan nhà nước ở Trung
ương cho phù hợp với tình hình thực tiễn ở địa phương hoặc quy định những vấn đề mà
chính quyền địa phương được ủy quyền ban hành. Tuy nhiên, trong quá trình ban hành
VBQPPL, ở một số nơi chính quyền các cấp vẫn còn ban hành văn có nội dung trái pháp
luật, không đúng thẩm quyền, sai về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản, trình tự thủ
tục ban hành…
Trong bối cảnh đó, việc tăng cường công tác kiểm tra VBQPPL là trách nhiệm của
các cơ quan hành pháp nhằm hoàn thiện các VBQPPL, trước hết là các VBQPPL do các
bộ, cơ quan ngang bộ, HĐND và UBND các cấp ban hành, bảo đảm văn bản của các cơ
quan hành chính nhà nước từ trung ương tới địa phương, tôn trọng thứ bậc hiệu lực của văn
bản pháp luật - một trong những nguyên tắc quan trọng của nhà nước pháp quyền.
Do tính thời sự, cấp bách của vấn đề nên tác giả đã chọn đề tài: "Kiểm tra và xử lý đối
với văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và ?y ban nhân dân (qua thực tiễn
trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa)" cho luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở nước ta hiện nay, các vấn đề về VBQPPL, văn bản hành chính, quyết định quản lý
nhà nước đã và đang được nhiều nhà khoa học (luật học, hành chính học, ngôn ngữ
học ) quan tâm và có nhiều công trình nghiên cứu, như:
- GS.TS Nguyễn Đăng Dung, GS.TS Hoàng Trọng Phiến, Hướng dẫn soạn thảo văn
bản, Nxb Thống kê, Hà Nội, 1998.
- Nguyễn Chí Dũng, "Những nội dung cần làm khi lấy ý kiến nhân dân về các dự thảo
văn bản quy phạm pháp luật", Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 12/2005.
- Phạm Tuấn Khải, "Nhà khoa học với công tác xây dựng pháp luật: vai trò, ý nghĩa
và thực trạng", Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 14, 6/2006).
- Uông Chu Lưu (Chủ biên), Bình luận Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật,
Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2005.
- Nguyễn Công Long, Hoàn thiện thủ tục xây dựng và ban hành văn bản quy phạm
pháp luật của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ Quản lý Hành chính

Để thực hiện mục đích trên, tác giả tập trung thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Tổng hợp những thành tựu lý luận cơ bản về hoạt động ban hành, kiểm tra
VBQPPL;
- Phân tích thực trạng hoạt động ban hành, kiểm tra VBQPPL của chính quyền địa
phương qua khảo sát thưc tiễn tại tỉnh Thanh Hóa, từ đó rút ra các kết luận đánh giá và
kinh nghiệm đúc kết;
- Xây dựng và kiến giải các biện pháp nhằm hoàn thiện hoạt động kiểm tra VBQPPL
của chính quyền địa phương.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống các VBQPPL do HĐND và UBND các cấp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa ban
hành; các hoạt động ban hành, kiểm tra VBQPPL của HĐND và UBND tỉnh Thanh Hóa
* Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa với 27 huyện, thị xã, thành phố
trong tỉnh.
- Phạm vi thời gian: trong 7 năm (từ năm 2004 khi Nghị định 135/2003/NĐ-CP của
Chính phủ về kiểm tra và xử lý VBQPPL được ban hành có hiệu lực cho đến nay).
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác -
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, về Chính phủ phục vụ nhân
dân; quán triệt các quan điểm, chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt
Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Trong quá trình tiếp cận, xúc tiến nghiên cứu đề tài, tác giả đồng thời sử dụng tổng
hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học khác như: các phương pháp phân tích - tổng
hợp, phương pháp điều tra chọn mẫu, phương pháp thống kê - so sánh, phương pháp
chuyên gia trong việc thu thập và xử lý các thông tin liên quan đến nội dung đề tài.
6. Những đóng góp mới và ý nghĩa của luận văn
Từ góc độ khoa học quản lý hành chính nhà nước, có thể xem đây là một trong những
cố gắng đầu tiên trong việc nghiên cứu vấn đề kiểm tra đối với VBQPPL của chính quyền
địa phương một cách chuyên sâu và toàn diện. Vì vậy luận văn có ý nghĩa:

thủ tục luật định; do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành; được nhà nước bảo đảm
thi hành.
1.1.2. Vai trò của văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban
nhân dân trong quản lý nhà nước và phát triển
Dưới góc độ xã hội, tác giả đã nêu lên tầm quan trọng của VBQPPL của chính quyền
địa phương đối với vấn đề quản lý và phát triển, cụ thể:
- VBQPPL có thể điều tiết những vấn đề thực tiễn của địa phương;
- VBQPPL thể chế hóa và bảo đảm thực hiện các chính sách của cơ quan nhà nước
cấp trên;
- VBQPPL có thể tạo ra, phân bổ, phát huy các nguồn lực nhằm phát triển kinh tế;
- VBQPPL góp phần làm ổn định trật tự xã hội, tạo cơ hội quản lý tốt và phát triển.
Tóm lại, VBQPPL có vai trò vô cùng quan trọng không chỉ quy định các giá trị mà
người quản lý coi đó là giá trị cơ bản của xã hội, không chỉ đưa ra các biện pháp khuyến
khích thực thi pháp luật, đem lại ổn định trật tự xã hội mà còn bảo đảm cho xã hội phát
triển.
1.2. Khái quát về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp pháp luật của Hội
đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
1.2.1. Khái niệm kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
Đi từ khái niệm chung "kiểm tra", phân tích các dấu hiệu đặc trưng của hoạt động
kiểm tra VBQPPL của chính quyền địa phương, tác giả đi đến định nghĩa: Kiểm tra văn
bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND các cấp ban hành là hoạt động được tiến
hành thường xuyên của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các văn bản quy phạm
pháp luật theo quy định của pháp luật, qua đó, phát hiện những dấu hiệu trái pháp luật
về hình thức, về nội dung để kịp thời xử lý, hoặc đề xuất với cơ quan có thẩm quyền xử lý
văn bản trái pháp luật nhằm góp phần bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất
của hệ thống pháp luật.
1.2.2. Mục đích, ý nghĩa của công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật
Từ khái niệm kiểm tra VBQPPL, tác giả đã chỉ ra mục đích cũng như ý nghĩa của
hoạt động kiểm tra văn bản, đó là:
Thứ nhất, phát hiện những nội dung trái pháp luật của văn bản;

bản và can thiệp vào quá trình xử lý văn bản trái pháp luật.
- Sau khi kiểm tra, cơ quan kiểm tra văn bản phải có kết luận về việc kiểm tra và
thông báo cho cơ quan, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản được kiểm tra theo
quy định của pháp luật.
- Cơ quan, người có thẩm quyền xử lý văn bản phải chịu trách nhiệm trước pháp luật
về kết luận và quyết định xử lý của mình; nếu quyết định xử lý trái pháp luật thì phải
khắc phục hậu quả pháp lý do quyết định đó gây ra.
1.3.2. Đối tượng của hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật
Đối tượng kiểm tra là các VBQPPL do HĐND và UBND các cấp ban hành. Điều này
đã được pháp luật quy định khá rõ. Tuy vậy, trong thực tiễn, còn có những văn bản có
chứa quy phạm pháp luật do địa phương ban hành bằng hình thức không đúng với hình
thức VBQPPL do luật định (ví dụ: ban hành dưới hình thức thông báo, công văn hoặc
giấy tờ hành chính khác…) hoặc văn bản có chứa quy phạm pháp luật do cơ quan, tổ
chức, cá nhân không có thẩm quyền ban hành VBQPPL ban hành (cơ quan chuyên môn
thuộc UBND…). Do vậy, đối tượng kiểm tra bao gồm cả các văn bản có chứa quy phạm
pháp luật.
1.3.3. Nội dung kiểm tra văn bản
Nội dung kiểm tra văn bản là xem xét, đánh giá, kết luận về tính hợp hiến, hợp pháp
của văn bản dựa trên năm tiêu chí theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 40/2010/NĐ-CP:
- Được ban hành đúng căn cứ pháp lý;
- Được ban hành đúng thẩm quyền;
- Nội dung phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành;
- Được ban hành đúng thể thức và kỹ thuật trình bày;
- Tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về thủ tục xây dựng, ban hành và đăng
Công báo, đưa tin hoặc công bố văn bản.
1.3.4. Phương thức tiến hành kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
Hoạt động kiểm tra văn bản được tiến hành bằng các phương thức: tự kiểm tra của cơ
quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản và kiểm tra của cơ quan, người có thẩm quyền
kiểm tra văn bản theo nhiệm vụ được phân công.
1.3.5. Thẩm quyền kiểm tra, xử lý đối với văn bản quy phạm pháp luật của Hội

THỰC TRẠNG KIỂM TRA VÀ XỬ LÝ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ỦY BAN NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
THANH HÓA
2.1. Những thành tựu và hạn chế trong công tác kiểm tra và xử lý văn bản quy
phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân trên địa bàn tỉnh
Thanh Hóa
2.1.1. Những kết quả đạt được trong hoạt động xây dựng, ban hành; kiểm tra, xử
lý văn bản quy phạm pháp luật
Thông qua các số liệu ban hành văn bản và các số liệu đã kiểm tra, tác giả thấy rằng
công tác kiểm tra và xử lý VBQPPL trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa từ khi bắt đầu triển khai
(từ năm 2004) đến nay đã đạt được những kết quả, góp phần tích cực trong việc đảm bảo
tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
Từ kết quả đạt được trong thực tiễn hoạt động xây dựng, ban hành và kiểm tra, xử lý
VBQPPL của HĐND và UBND trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, tác giả đã đánh giá một số
ưu điểm nổi bật trong xây dựng, ban hành và kiểm tra, xử lý văn bản.
2.1.2. Những bất cập trong việc xây dựng, ban hành và kiểm tra, xử lý đối với văn
bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân trên địa bàn tỉnh
Thanh Hóa
Mặc dù đã đạt được những kết quả rất đáng ghi nhận trong công tác ban hành, kiểm
tra và xử lý VBQPPL. Song, so với yêu cầu và nhiệm vụ đặt ra, công tác ban hành văn
bản của UBND các cấp còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập cần khắc phục kịp thời. Có thể
thấy rõ những bất cập này qua các dẫn chứng phân tích cụ thể về những sai sót trong hệ
thống VBQPPL của HĐND, UBND như: sai căn cứ ban hành văn bản; sai thẩm quyền
ban hành văn bản; về nội dung văn bản; về thể thức và kỹ thuật trình bày; về quy trình
xây dựng, thông qua và ban hành văn bản.
Đồng thời tác giả cũng chỉ ra những hậu quả pháp lý của việc ban hành văn bản trái
pháp luật và đánh giá những nhược điểm trong hệ thống VBQPPL của HĐND, UBND.
2.2. Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại trong công tác xây dựng, ban hành;
kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
Thông qua những kết quả và hạn chế trong xây dựng, ban hành và kiểm tra, xử lý văn

4. Chú trọng việc xây dựng quy trình, phương pháp kiểm tra VBQPPL của chính
quyền địa phương dựa trên các nguyên tắc, tiêu chí khách quan, khoa học, sát thực tế, đưa
ra những kỹ năng, nghiệp vụ tiến hành trong từng công đoạn tiếp thu và vận dụng đúng
đắn các kinh nghiệm đánh giá văn bản của các nước để tiếp cận với chuẩn mực chung
trong điều kiện hội nhập.
5. Đầu tư đúng mức các nguồn lực, phương tiện thực hiện công tác kiểm tra VBQPPL
của chính quyền địa phương.
Để nâng cao hơn nữa chất lượng công tác xây dựng, ban hành VBQPPL và thực hiện tốt
công tác kiểm tra, xử lý VBQPPL nhằm góp phần hoàn thiện thể chế, bảo đảm tính hợp
hiến, hợp pháp của văn bản; bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất và tính khả thi của
VBQPPL của các cấp chính quyền địa phương với hệ thống pháp luật hiện hành; góp
phần đẩy nhanh tiến trình cải cách hành chính, tác giả đề xuất một số giải pháp sau đây.
3.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp
luật
3.1.1. Sửa đổi, bổ sung một số văn bản hiện hành
- Cần tiếp tục sửa đổi, bổ sung Nghị định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của
Chính phủ về kiểm tra và xử lý VBQPPL theo hướng: quy định cụ thể hơn về trách
nhiệm của các cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản trái pháp luật, xử lý đối
với các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm trong quá trình tham mưu, soạn thảo, ký, ban
hành VBQPPL trái pháp luật; rà soát, sửa đổi những quy định không còn phù hợp; thống
nhất các loại biểu mẫu về kiểm tra văn bản.
- Sửa đổi Thông tư liên tịch số 158/2007/TTLT-BTC-BTP ngày 28/12/2007 của Bộ
Tài chính và Bộ tư pháp về việc quản lý và sử dụng kinh phí đảm bảo cho công tác kiểm
tra VBQPPL theo hướng quy định thêm các mục chi, mức chi và chế độ thù lao cho đội
ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra văn bản.
- Bên cạnh việc hoàn thiện những văn bản trực tiếp quy định về công tác kiểm tra, xử
lý VBQPPL, cần nhanh chóng bổ sung hoàn thiện hệ thống VBQPPL về việc soạn thảo,
ban hành, rà soát, hệ thống VBQPPL nhằm hỗ trợ cho công tác kiểm tra văn bản.
Đối với địa phương tỉnh Thanh Hóa, trên cơ sở Quyết định số 2398/2002/QĐ-UB
ngày 26/7/2002 của UBND tỉnh về việc quy định trình tự, thủ tục soạn thảo và ban hành

VBQPPL nhằm cụ thể hóa các quy định của Trung ương áp dụng cho địa phương mình
như quy chế kiểm tra văn bản, Quy chế tổ chức quản lý đội ngũ cộng tác viên; Chỉ thị
đôn đốc công tác kiểm tra văn bản…Đối với những địa phương chưa ban hành VBQPPL
về kiểm tra, xử lý văn bản hoặc ban hành nhưng chưa đầy đủ thì cần phải đẩy nhanh việc
xây dựng, ban hành; tuyệt đối không được ban hành văn bản cá biệt thay thế. Đồng thời
khi thể chế ở trung ương sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới thì cần nhanh chóng sửa
đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế tại các địa phương.
3.1.3. Tăng cường hoạt động rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật
Để khắc phục những mâu thuẫn, chồng chéo, đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính
thống nhất của hệ thống pháp luật, xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ để từ đó làm cơ
sở phục vụ tốt cho hoạt động xây dựng ban hành văn bản và kiểm tra VBQPPL, trong
thời gian tới cần phải đẩy mạnh hoạt động rà soát, hệ thống hóa VBQPPL thường xuyên,
mỗi cấp, mỗi ngành phải tự rà soát văn bản của cấp mình, ngành mình và coi đây là một
nhiệm vụ trọng tâm; Các VBQPPL khi được ban hành phải quy định rõ, cụ thể những văn
bản, điều khoản tương ứng của văn bản khác bị bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung theo đúng quy
định;
3.2. Giải pháp xây dựng quy trình kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật
của chính quyền địa phương
Tác giả đề xuất xây dựng quy trình kiểm tra, xử lý VBQPPL của chính quyền địa
phương, bao gồm các bước sau đây.
3.2.1. Xác định văn bản cần kiểm tra, mục đích, phạm vi kiểm tra
Lên danh mục văn bản cần kiểm tra; Xác định mục đích kiểm tra và Phạm vi đánh giá
trong kiểm tra.
3.2.2. Lập kế hoạch kiểm tra
Kế hoạch kiểm tra văn bản được xây dựng nhằm sử dụng có hiệu quả thời gian và các
nguồn lực để đảm bảo đạt được mục đích đề ra. kế hoạch kiểm tra sau khi thông qua phải
được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
3.2.3. Thu thập thông tin và minh chứng
Các thông tin và minh chứng thu được phục vụ 2 mục đích: mô tả được những điểm
đạt và không đạt của văn bản trên những phương diện đánh giá: tính khả thi, tính chất

cần được thực hiện theo hướng sau đây:
Một là, cần được thực hiện dựa trên những quy định pháp luật hướng dẫn về chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức các cơ quan chuyên môn giúp UBND quản
lý nhà nước về công tác tư pháp ở địa phương (xác định số lượng cán bộ, công chức và
cơ cấu phòng chuyên môn thực hiện kiểm tra văn bản tai địa phương.
Hai là, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho công tác kiểm tra VBQPPL: Cần xây dựng
chiến lược đào tạo lâu dài những kiến thức cơ bản về công tác kiểm tra văn bản tại các
trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, trường đào tạo cử nhân luật và trường
đào tạo các chức danh tư pháp. Nhưng trước mắt tập trung vào hoạt động tập huấn
chuyên môn, bồi dưỡng nghiệp vụ ngắn hạn, tại chỗ về công tác kiểm tra văn bản cho các
đối tượng có liên quan.
Ba là, xây dựng cơ chế thu hút, nâng cao chất lượng kiểm tra VBQPPL của cộng tác viên.
3.4. Giải pháp về tài chính, ngân sách và các điều kiện khác đảm bảo cho công
tác kiểm tra
3.4.1. Về tài chính, ngân sách
Cần phải bảo đảm ưu tiên về tài chính, ngân sách cho hoạt động kiểm tra VBQPPL.
Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ và kế hoạch công tác hàng năm của cơ quan chuyên
trách kiểm tra VBQPPL để bố trí kinh phí và nguồn kinh phí bảo đảm cho công tác kiểm
tra văn bản được dự toán chung trong kinh phí hoạt động thường xuyên của cơ quan có
trách nhiệm kiểm tra văn bản.
3.4.2. Về kinh phí, trang thiết bị làm việc
Các cơ quan kiểm tra cần lập dự toán kinh phí bảo đảm cho công tác kiểm tra trong
năm. Đồng thời yêu cầu các cấp, các ngành trang bị máy móc, thiết bị phục vụ công tác
kiểm tra văn bản, tiến hành tin học hóa công tác kiểm tra văn bản.
3.4.3. Tổ chức mạng lưới thông tin
- Cơ quan kiểm tra của các bộ, ngành, địa phương phải tổ chức xây dựng kênh tiếp
nhận và xử lý các kiến nghị, yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân và phản ánh của
dư luận về văn bản có dấu hiệu trái pháp luật; có cơ chế phù hợp để địa phương có
điều kiện khai thác, sử dụng hiệu quả hệ cơ sở dữ liệu VBQPPL thuộc Bộ Tư Pháp,
cũng như các hệ cơ sở dữ liệu quốc gia có liên quan đến công tác kiểm tra văn bản.

các văn bản pháp luật khác như luật, pháp lệnh, nghị định Đặc biệt, khi chúng ta đã trở
thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO, công tác kiểm tra, xử lý
VBQPPL ngày càng có ý nghĩa thiết thực. Đây là tiền đề quan trọng để chúng ta hoàn
thiện thể chế, xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn thiện, đồng bộ, công khai, minh
bạch, phù hợp với tình hình thực tiễn, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế của đất nước
trong giai đoạn hiện nay.
Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn, công tác soạn thảo, ban hành, kiểm tra và xử
lý VBQPPL của HĐND, UBND trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn hiện nay để
tiếp tục thực hiện có hiệu quả công cuộc cải cách nền hành chính Nhà nước, trọng tâm là
cải cách thể chế, thủ tục hành chính, xây dựng nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
trong sạch, vững mạnh theo tinh thần các Nghị quyết của Đảng. Công tác soạn thảo, ban
hành, kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm của chính quyền địa phương cần phải được đổi
mới, nâng cao chất lượng.
Ở tỉnh Thanh Hóa, HĐND và UBND đã có những động thái tích cực trong triển khai
chỉ đạo của Trung ương, bước đầu đã quán triệt tầm quan trọng của vấn đề, chú trọng
công tác chỉ đạo, xây dựng khung pháp lý, thiết lập cơ cấu tổ chức, đưa ra kế hoạch, giải
pháp vận dụng phù hợp với tình hình của tỉnh. Từ những kết quả đạt được, những việc
còn chưa làm được của tỉnh, có thể rút ra kinh nghiệm đúc kết có ý nghĩa tham khảo cho
các địa phương khác trong cả nước.
Cần hoàn thiện hệ thống pháp luật quy định hoạt động kiểm tra VBQPPL của chính
quyền địa phương trên cơ sở rà soát, hệ thống hóa, khảo sát một cách khoa học chính quy
về nhu cầu thực tiễn để xác định chương trình sửa đổi, bổ sung; xây dựng, ban hành mới
theo hướng minh bạch về thẩm quyền, rõ ràng về cơ chế và chắc chắn về tính khả thi.
Trong công tác triển khai, chú trọng việc xây dựng quy trình, phương pháp kiểm tra
văn bản dựa trên các nguyên tắc, tiêu chí khách quan, khoa học, sát thực tế, đưa ra những
kỹ năng nghiệp vụ tiến hành trong từng công đoạn, tiếp thu và vận dụng đúng đắn các
kinh nghiệm đánh giá văn bản của các nước để tiếp cận với chuẩn mực chung trong điều
kiện hội nhập.
Cần tăng cường công tác chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện công tác kiểm tra,
biến công tác này thành hoạt động thường xuyên, có kế hoạch, lộ trình triển khai chủ

7. Bộ Tư pháp (2006), Báo cáo số 2711/BTP-KHPL ngày 31/7 tổng kết Chương trình
đổi mới công tác xây dựng, ban hành và nâng cao chất lượng văn bản quy phạm
pháp luật, Hà Nội.
8. Bộ Tư pháp (2010), Thông tư số 20/2010/TT-BTP ngày 30/11 quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 40/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của
Chính phủ, Hà Nội.
9. Chính phủ (2000), Quyết định số 69/2000/QĐ-TTg ngày 19/6 của Thủ tướng Chính
phủ ban hành Quy chế quản lý và sử dụng kinh phí hỗ trợ xây dựng văn bản quy
phạm pháp luật, Hà Nội.
10. Chính phủ (2002), Quyết định số 40/2002/QĐ-TTg ngày 18/3 của Thủ tướng Chính
phủ về thẩm quyền ký ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện quản lý
nhà nước đối với ngành, lĩnh vực do các cơ quan thuộc Chính phủ quản lý, Hà Nội.
11. Chính phủ (2003), Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21/10 về chế độ, chính sách
đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn, Hà Nội.
12. Chính phủ (2003), Nghị định số 143/2003/NĐ-CP ngày 28/11 quy định chi tiết thi
hành một số điều của Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi, Hà Nội.
13. Chính phủ (2004), Nghị định số 104/2004/NĐ-CP ngày 23/3 về Công báo nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội.
14. Chính phủ (2004), Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày 08/4 về công tác văn thư, Hà
Nội.
15. Chính phủ (2004), Quyết định số 933/QĐ-TTg ngày 28/7 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt Đề án nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật của Chính phủ,
Hà Nội.
16. Chính phủ (2004), Nghị định số 171/2004/NĐ-CP ngày 29/9 quy định tổ chức các cơ
quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Hà
Nội.
17. Chính phủ (2004), Nghị định số 135/2003/NĐ-CP ngày 14/11 về kiểm tra và xử lý
văn bản quy phạm pháp luật, Hà Nội.
18. Chính phủ (2005), Chỉ thị số 32/2005/CT-TTg ngày 10/10 của Thủ tướng Chính phủ
về việc tăng cường công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, Hà Nội.

trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2010, định
hướng đến năm 2020, Hà Nội.
32. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6 của Bộ Chính
trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội.
33. Phạm Tuấn Khải (2006), "Nhà khoa học với công tác xây dựng pháp luật: vai trò, ý
nghĩa và thực trạng", Nghiên cứu lập pháp, (14).
34. Nguyễn Lân (2002), Từ điển Từ và Ngữ Hán - Việt, Nxb Từ điển Bách Khoa, Hà
Nội.
35. Uông Chu Lưu (Chủ biên), Bình luận Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật,
Nxb Tư pháp, Hà Nội.
36. "Nhà khoa học đang và sẽ ở đâu trong hoạt động lập pháp?" (2006), Nghiên cứu lập
pháp, (14).
37. Quốc hội (1992), Hiến pháp, Hà Nội.
38. Quốc hội (1992), Nghị quyết kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XI về công tác xây dựng
pháp luật, Hà Nội.
39. Quốc hội (1996), Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Hà Nội.
40. Quốc hội (2002), Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi, bổ sung), Hà
Nội.
41. Quốc hội (2003), Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, Hà Nội
42. Quốc hội (2004), Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân
dân và Ủy ban nhân dân, Hà Nội.
43. Quốc hội (2008), Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Hà Nội.
44. Đinh Dũng Sĩ (2006), "Thực trạng và giải pháp khắc phục vấn đề "Luật khung" ở
Việt Nam", Nghiên cứu lập pháp, (4).
45. Lê Hồng Sơn (Chủ biên), Tình huống nghiệp vụ kiểm tra văn bản quy phạm pháp
luật, Tập I, II, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
46. Lê Hồng Sơn (Chủ biên) (2005), 100 câu hỏi - đáp về kiểm tra và xử lý văn bản quy
phạm pháp luật, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
47. Lê Hồng Sơn (Chủ biên) (2010), Nghiệp vụ kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp
luật, Nxb Tư pháp, Hà Nội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status