Pháp luật giải quyết tranh chấp kết nối viễn thông tại việt nam - Pdf 10

Pháp luật giải quyết tranh chấp kết nối viễn
thông tại Việt Nam

Trần Văn Hoàn

Khoa Luật
Luận văn ThS ngành: Luật Kinh tế; Mã số: 60 38 50
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Minh Mẫn
Năm bảo vệ: 2007 Abstract: Khái quát về mạng viễn thông, những vấn đề lý luận cơ bản về kết nối và tranh
chấp kết nối viễn thông, về quá trình hình thành, phát triển của tranh chấp, về bản chất,
đặc điểm của tranh chấp. Thực trạng tranh chấp và pháp luật về giải quyết tranh chấp kết
nối tại Việt Nam thông qua vụ việc điển hình VNPT-VIETEL, làm rõ những phương án
pháp lý có thể vận dụng, giải quyết các tranh chấp kết nối viễn thông theo quy định hiện
hành tại Việt Nam. Phân tích và rút ra nhận xét về một số điểm bất cập của hệ thống pháp
luật hiện tại trong quá trình kết nối viễn thông. Đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện
từng bước hệ thống quy định pháp luật về trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp kết nối
viễn thông tại Việt Nam

Keywords: Luật kinh tế; Pháp luật Việt Nam; Tranh chấp; Viễn thông Content
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Luận văn cao học: “Pháp luật giải quyết tranh chấp kết nối Viễn thông" được chọn làm đề
tài nghiên cứu trên ba đòi hỏi sau đây:
- Đòi hỏi từ thực tiễn tranh chấp và cách giải quyết tranh chấp thời gian qua: Các cơ
quan quản lý thì lúng túng; Các chủ thể tham gia tranh chấp có tâm lý không tin tưởng vào trình
tự, thủ tục giải quyết theo pháp luật hiện hành, thay vào đó, họ lại hành chính hoá tiến trình giải

theo: “Kết nối viễn thông”.
Để đạt được mục đích đó, trong phần này, trên cơ sở phân tích các khái niệm về mạng viễn
thông dưới góc độ kỹ thuật và pháp lý, luận văn đã tiến hành phân loại mạng viễn thông, sau đó
tập trung vào mô tả, khái quát toàn bộ thực trạng mạng lưới viễn thông tại Việt Nam hiện nay
thông qua những thông tin, mô hình chí tiết mạng của một số doanh nghiệp viễn thông lớn như:
VNPT, Vietel, EVN Telcom, Saigon Postel.v.v
Một số khái niệm điển hình về mạng viễn thông:
- “Mạng Viễn thông là phương tiện truyền đưa thông tin từ đầu phát tới đầu thu. Mạng
Viễn thông bao gồm các thành phần chính: Thiết bị chuyển mạch, thiết bị truyền dẫn, môi
trường truyền và thiết bị đầu cuối”.
- “Mạng Viễn thông là một hệ thống gồm các nút chuyển mạch được nối với nhau bằng các
đường truyền dẫn. Nút được phân thành nhiều cấp và kết hợp với các đường truyền dẫn tạo thành
các cấp mạng khác nhau”.
- “Mạng Viễn thông là tập hợp các thiết bị Viễn thông được liên kết với nhau bằng các
đường truyền dẫn bao gồm: Mạng Viễn thông công cộng, Mạng Viễn thông dùng riêng và Mạng
Viễn thông chuyên dùng”
1.2. Kết nối Viễn thông
Mục đích: Làm sáng tỏ bản chất của kết nối viễn thông, đồng thời nghiên cứu mở rộng
một số vấn đề có liên quan để hiểu rõ hơn về kết nối viễn thông.
Để đạt được mục đích đó, trong phần này, ngoài việc đưa ra những khái niệm “Kết nối
viễn thông”, luật văn cũng trình bày về: Phân loại kết nối viễn thông; Ý nghĩa, tầm quan trọng
của kết nối viễn thông; Điểm kết nối; Dùng chung cơ sở hạ tầng và Thoả thuận kết nối viễn
thông.
1.2.1. Một số khái niệm về kết nối viễn thông:
- Khái niệm của Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU): Kết nối Viễn thông là những thoả
thuận về thương mại và kỹ thuật giữa những nhà cung cấp dịch vụ nhằm “nối” thiết bị, mạng và
dịch vụ với nhau để khách hàng của doanh nghiệp viễn thông có thể vào mạng, sử dụng dịch vụ
và thiết bị và khách hàng của doanh nghiệp viễn thông khác.
- Khái niệm của Tổ chức thương mại quốc tế (WTO): Kết nối Viễn thông là sự liên kết
giữa những doanh nghiệp viễn thông hoặc mạng Viễn thông công cộng để cho phép người sử

tạo thuận lợi trong khai thác mạng lưới. Việc sử dụng chung được thực hiện thông qua hợp đồng
trên cơ sở thoả thuận giữa các doanh nghiệp viễn thông. Bộ Bưu chính, Viễn thông giữ quyền
quyết định việc sử dụng chung cơ sở hạ tầng Viễn thông nếu các doanh nghiệp không thoả thuận
được, và xét thấy cần thiết phải bảo vệ lợi ích của nhà nước, của doanh nghiệp và người sử dụng.
1.2.4. Thỏa thuận kết nối (Ineterconnection Agrement)
Về nội dung, một thỏa thuận kết nối thường gồm hai phần cơ bản: Phần thứ nhất là nội
dung chính của thỏa thuận (thỏa thuận khung). Phần này bao gồm những quy định mang tính
tổng quan, nguyên tắc định hướng chung cho toàn bộ phần còn lại như: Loại hình dịch vụ, phạm
vi cung cấp; Nguyên tắc kết nối; Cước dịch vụ kết nối, cước kết nối; Đối soát, hóa đơn, thu cước;
Kinh doanh chăm sóc khách hàng; Những cam kết chung và xử lý tranh chấp.v.v Phần thứ hai
bao gồm những phụ lục chi tiết hóa. Thông thường có thể có 7 phụ lục sau: Phụ lục I: Các văn
bản pháp lý chính của Chính phủ và Bộ Bưu chính Viễn thông (Đây là phụ lục thường có ở các
văn bản mang tính hợp đồng tại Việt Nam); Phụ lục II: Các nội dung cơ bản về kết nối kỹ thuật
cung cấp dịch vụ; Phụ lục III: Qui định phối hợp xử lý sự cố kết nối; Phụ lục IV: Qui định xử lý
các cuộc gọi không bình thường; Phụ lục V: Qui định gửi số liệu cước, đối soát cước kết nối,
cước dịch vụ giữa hai bên; Phụ lục VI: Qui định về thanh toán cước kết nối, cước dịch vụ; Phụ
lục VII: Qui định về phối hợp giải quyết khiếu nại khách hàng. Thông qua bảng minh họa dưới
đây, chúng ta sẽ thấy phần nào về tính phức tạp của một thỏa thuận kết nối.
Về hình thức pháp lý: Thỏa thuận kết nối giữa các nhà cung cấp dịch vụ Viễn thông công
cộng mang bản chất một hợp đồng, tại Việt Nam, đó là hợp đồng thương mại.
1.3. Tranh chấp kết nối Viễn thông
Mục tiêu của phần này là: Làm rõ khái niệm “tranh chấp kết nối viễn thông” và phân
biệt nó với tranh chấp thương mại thông thường.
Hiện chưa có tài liệu chính thức nào đưa ra khái niệm “tranh chấp kết nối viễn thông”.
Trong khi lại có nhiều tài liệu đề cập đến khái niệm “tranh chấp”. Về cơ bản, các tài liệu thống
nhất hiểu “tranh chấp” là một dạng xung đột về lợi ích.
Để làm rõ khái niệm “tranh chấp kết nỗi viễn thông”, luận văn tập trung làm rõ hai vấn đề
cơ bản: 1) Nguyên nhân, điều kiện tồn tại của tranh chấp kết nối Viễn thông; 2) Bản chất, đặc
điểm của tranh chấp kết nối Viễn thông.
1.3.1. Nguyên nhân, điều kiện tồn tại của tranh chấp kết nối viễn thông.

cấp dịch vụ, nhằm mục tiêu tiếp tục duy trì và phát triển quan hệ trên cơ sở một “Thỏa thuận kết
nối” phù hợp với lợi ích các bên, lợi ích nhà nước và lợi ích của cộng đồng người sử dụng dịch
vụ”.
Căn cứ và đặc điểm và khái niệm “Tranh chấp kết nối Viễn thông”, có thể phân biệt được
với tranh chấp thương mại thông thường. Trong số những điểm khác biệt đó, khác biệt cơ bản và
quan trọng nhất là: Tranh chấp thương mại có thể dẫn đến chấm dứt mối quan hệ giữa các bên
(đôi khi mục tiêu của tranh chấp là để chấm dứt quan hệ). Trong khi với tranh chấp kết nối Viễn
thông, quan hệ giữa các bên vẫn tiếp tục được duy trì, trong nhiều trường hợp, việc giải quyết
tranh chấp mới chỉ là điểm bắt đầu của một giai đoạn quan hệ mới.
Chương 2
THỰC TRẠNG TRANH CHẤP VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KẾT
NỐI VIỄN THÔNG TẠI VIỆT NAM
Chương này bao gồm 2 nội dung chính: 1) Thực trạng tranh chấp kết nối viễn thông; 2) Pháp
luật về giải quyết tranh chấp kết nối viễn thông tại Việt Nam hiện nay.
2.1. Thực trạng tranh chấp kết nối Viễn thông tại Việt Nam trong thời gian qua.
Mục tiêu: Đánh giá thực trạng tranh chấp và giải quyết tranh chấp kết nối viễn thông trong
thời gian qua, từ đó rút ra điểm hạn chế, làm cơ sở, tiền đề cho những kiến nghị sửa đổi tại
Chương 3.
Phù hợp với mục tiêu trên, Mục này có 3 nội dung chính: 1) Các giai đoạn phát triển của
tranh chấp kết nối viễn thông tại Việt Nam; 2) Vụ tranh chấp kết nối viễn thông điển hình Vietel-
VNPT; 3) Một số nhận xét quan trọng sau khi khảo sát thực trạng tranh chấp và giải quyết tranh
chấp viễn thông tại Việt Nam.
Quá trình hình thành và phát triển của tranh chấp kết nối viễn thông tại Việt Nam chia
làm ba giai đoạn: Trước năm 1995 (chưa có tranh chấp); Từ 1995-2005 (đã có tranh chấp nhưng
còn manh nha, nhỏ lẻ); Từ 2005 trở về đây: Tranh chấp kết nối viễn thông thực sự xảy ra một
cách phổ biến, công khai và theo nghĩa đầy đủ hơn.
Từ năm 2005 trở lại đây, đã xảy ra một số vụ tranh chấp về kết nối. Điển hình nhất là vụ
tranh chấp giữa Vietel và VNPT. Trên cơ sở phân tích tiến trình giải quyết tranh chấp vụ việc
này, cùng sự nghiên cứu, khái quát những chi tiết từ những vụ việc khác, Luận văn rút ra bảy kết
luận sau đây:

kết nối Viễn thông đã tạm thời lắng xuống.
2.2. Pháp luật giải quyết tranh chấp kết nối Viễn thông tại Việt Nam hiện nay.
Mục tiêu: Trả lời cho câu hỏi, liệu Pháp lệnh Bưu chính, Viễn thông có phải là trình tự,
thủ tục duy nhất giải quyết tranh chấp kết nối viễn thông theo quy định của Pháp luật hiện nay
hay không? Cho phép nhìn nhận một cách tổng quan hơn và rút ra được nhận xét về sự hạn chế
của pháp luật giải quyết tranh chấp kết nối viễn thông tại Việt Nam. Những hạn chế này sẽ được
đặt bên cạnh, trong tương quan so sánh với kinh nghiệm giải quyết của một số quốc gia trên thế
giới, làm tiền đề cho kiến nghị, đề xuất tại Chương 3.
Để đáp ứng được mục tiêu nêu trên, trong phần này, căn cứ vào những quy định pháp lý
trong Bộ luật tố tụng dân sự, Luật Cạnh tranh, Pháp lệnh Trọng tài thương mại và Pháp lệnh Bưu
chính, Viễn thông, Luận văn khẳng định, hiện nay chúng ta có thể giải quyết tranh chấp kết nối
viễn thông theo 4 trình tự: Tố tụng dân sự, Tố tụng cạnh tranh, Tố tụng Trọng tài, Trình tự quy
định trong Pháp lệnh Bưu chính, Viễn thông. Ngoài ra, tranh chấp kết nối viễn thông cũng có thể
giải quyết bằng “Thoả thuận”.
Từ sự khẳng định trên, Luận văn giới thiệu 5 phương án có thể vận dụng để giải quyết
tranh chấp kết nối viễn thông tại Việt Nam hiện nay, bao gồm: 1) Áp dụng Bộ luật tố tụng dân sự
vào giải quyết tranh chấp kết nối viễn thông; 2) Áp dụng Luật Cạnh tranh giải quyết tranh chấp
kết nối viễn thông; 3) Áp dụng Pháp lệnh trọng tài thương mại giải quyết tranh chấp kết nối viễn
thông; 4) Pháp lệnh Bưu chính, Viễn thông và các văn bản hướng dẫn thi hành - Pháp luật
chuyên ngành giải quyết tranh chấp kết nối viễn thông; 5) Thoả thuận để giải quyết tranh chấp
kết nối viễn thông. Với mỗi phương án, Luận văn tập trung vào 4 ý: Một là: Cơ sở pháp lý nào
cho phép giải quyết tranh chấp kết nối viễn thông theo phương án đó; Hai là, những nội dung cơ
bản cần quan tâm khi vận dụng, giải quyết; Ba là, những ưu điểm, nhược điểm với từng phương
án (nếu có); Bốn là, giới thiệu thực tiễn vận dụng từng phương án để giải quyết tranh chấp kết
nối trong thời gian qua đối với các doanh nghiệp viễn thông.
Từ đó, Luận văn rút ra 4 nhận xét quan trọng về pháp luật giải quyết tranh chấp kết nối
viễn thông tại Việt Nam trên cơ sở lồng ghép, so sánh với kinh nghiệm các nước về từng vấn đề.
Cụ thể như sau:
- Nhận xét về cơ quan giải quyết tranh chấp kết nối Viễn thông
Hiện nay, các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp kết nối Viễn thông tại Việt

Như vậy, yêu cầu chung về trình độ nhân lực tham gia giải quyết tranh chấp kết nối Viễn
thông phải đảm bảo hai yếu tố tối thiếu, hiểu biết về Viễn thông và kết nối Viễn thông, nhưng
cũng phải thông thạo những kiến thức pháp lý. Đây là đòi hỏi tất yếu khách quan tại Việt Nam,
đặc biệt khi chúng ta đang đứng trước ngưỡng cửa Hội nhập như hiện nay với sự xuất hiện ngày
càng phổ biết hơn các doanh nghiệp Viễn thông 100% vốn đầu tư nước ngoài.
- Nhận xét về thời hạn giải quyết tranh chấp kết nối Viễn thông.
Đảm bảo sự thông suốt trong liên lạc Viễn thông một mặt bảo vệ quyền lợi chính đáng
của người sử dụng, mặt khác còn liên quan đến mật thiết đến đời sống kinh tế, chính trị, an ninh
quốc phòng của một quốc gia. Chính vì vậy, việc giải quyết tranh chấp phải đảm bảo tính nhanh
chóng, kịp thời. Trong khi, để giải quyết tranh chấp kết nối Viễn thông theo Luật cạnh tranh lên
đến trên 500 ngày, Bộ luật tố tụng dân sự là 600 ngày. Quy định này dẫn đến việc giải quyết vụ
tranh chấp kết nối bị kéo dài, ảnh hướng đến lợi ích các bên cũng như lợi ích chung của cộng
đồng người sử dụng dịch vụ. Không phù hợp với nguyên tắc đảm bảo tính thông suốt, liên tục
của thông tin liên lạc. Trên cơ sở tham khảo pháp luật Viễn thông các quốc gia, căn cứ vào yêu
cầu thực tiễn tại Việt Nam, Pháp lệnh Bưu chính, Viễn thông quy định thời gian thụ lý và hiệp
thương, giải quyết tranh chấp không được quá 120 ngày.
Thời gian này là 6 tháng ở Pháp, 2-5 tháng ở Phần Lan, 10 tuần ở Đức, Tây Ban Nha là 6
tháng, Ấn độ không quá 90 ngày.v.v…Đặc biệt, có nước còn trao quyền ấn định thời gian giải
quyết cho chính cơ quan có thẩm quyền giải quyết, điển hình cho xu hướng này là Australia. Tại
Australia, ACCC được quyền quyết định tiến độ giải quyết trên cơ sở công bằng và hợp lý với
từng vụ việc cụ thể.
- Nhận xét về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp kết nối Viễn thông.
+ Nhận xét thứ nhất: Sự đa dạng về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp kết nỗi viễn
thông tại Việt Nam cũng đặt ra một số vấn đề:
Thứ nhất, chúng ta cần một số lượng lớn những trọng tài viên, người tiến hành tố tụng có
hiểu biết chuyên sâu về kêt nối và tranh chấp kết nối Viễn thông bên cạnh kiến thức pháp luật
vững vàng. Điều này không thể thực hiện trong ngày một, ngày hai.
Ở những quốc gia mạnh về đội ngũ nhân lực thường cho phép tồn tại cùng lúc nhiều trình
tự pháp lý giải quyết khác nhau như: Anh, Mỹ và một số nước bắc Mỹ khác.v.v… Nhưng cũng
có quốc gia lựa chọn xu hướng thành lập một cơ quan duy nhất có thẩm quyền giải quyết tranh

này khác nhau về trình tự giải quyết, về trọng tài viên về việc xem xét lại phán quyết và về thời
gian giải quyết.v.v… Tương tự như vậy, đặc thù này cũng có ở Ấn độ, Jordan, Australia.v.v
Tại Việt Nam, hiện nay, thủ tục giải quyết tranh chấp trong Pháp lệnh Bưu chính, Viễn
thông, Nghị định 160/2004/NĐ-CP và Quyết định 12/2006/QĐ-BBCVT được coi là thủ tục hợp
lý nhất và cũng được các doanh nghiệp Viễn thông áp dụng nhiều nhất. Tuy nhiên, ngay trình tự,
thủ tục này cũng còn bộc lộ một số hạn chế nhất định sau đây:
- Giải quyết thông qua hình thức hiệp thương tại Bộ Bưu chính, Viễn thông có thể dẫn
đến tâm lý e ngại cho các doanh nghiệp Viễn thông vì hai lý do cơ bản: 1) Bộ Bưu chính, Viễn
thông đồng thời cũng là cơ quan quản lý về hành chính lĩnh vực Viễn thông, không doanh nghiệp
nào muốn cơ quan quan quản lý nào hiểu quá rõ về những thông tin nội bộ; 2) Lịch sử phát triển
của ngành Viễn thông dẫn đến nhân sự chủ chốt của Bộ Bưu chính, Viễn thông hiện nay phần
lớn hoặc đã từng làm lãnh đạo của Tổng cục Bưu điện và VNPT, hoặc có quan hệ mật thiết với
VNPT. Do vậy, nhiều ý kiến cho rằng, có thể có sự thiên vị cho VNPT trong giải quyết tranh
chấp kết nối với các doanh nghiệp khác.
- Thực chất của trình tự giải quyết này là thủ tục tố tụng giải quyết tranh chấp kết nối
Viễn thông. Tuy nhiên, nếu so với tố tụng cạnh tranh, tố tụng trọng tài hoặc tố tụng tòa án thì
những quy định trong Pháp lệnh Bưu chính, Viễn thông và những văn bản hướng dẫn thi hành
còn khá đơn giản, chưa đáp ứng được yêu cầu chặt chẽ, khách quan, vẫn có chỗ cho ý chí chủ
quan can thiệp như: Chưa quy định về trình tự của phiên hiệp thương; Vấn đề luật sư tham gia;
Vấn đề thay đổi người tiến hành giải quyết tranh chấp, tiêu chuẩn của chuyên gia giải quyết tranh
chấp, vấn đề kết hợp sử dụng trung gian hòa giải, trọng tài vào trong quá trình giải quyết tranh
chấp.v.v…
- Mặc dù quy định, trường hợp không đồng ý với kết quả giải quyết, các bên có thể tiếp
tục yêu cầu giải quyết hoặc khởi kiện ra tòa để được giải quyết theo quy định pháp luật. Tuy
nhiên, tòa án ở đây là tòa hành chính để xem xét quyết định của Bộ BCVT hay tòa kinh tế để giải
quyêt vụ việc theo trình tự tố tụng dân sự lại chưa được quy định rõ, khiến cho các bên và cơ
quan quản lý còn lúng túng trong việc vận dụng.
- Cơ quan trực tiếp giải quyết – Tổ kết nối Viễn thông - chưa có được sự độc lập cần
thiết. Tổ trưởng Tổ kết nối đồng thời là Vụ trưởng Vụ Viễn thông. Như vậy, cơ quan hoạch định
chính sách đồng thời cũng là cơ quan thực thi chính sách, do vậy tình trạng “vừa đá bóng, vừa

nộp đơn theo từng phương thức nộp đơn kể trên; 3) Quy trình thụ lý đơn và thời điểm được coi là
đã thụ lý đơn; 4) Thời gian quyết định việc thụ lý;
+ Có Điều khoản quy định rõ về việc Tổ kết nối chỉ thụ lý đơn khi các bên đã hòa giải
nhưng không thành.
+ Có điều khoản quy định doanh nghiệp Viễn thông không được ngừng cung cấp dịch vụ
trong quá trình giải quyết tranh chấp nếu không có sự đồng ý của Tổ kết nối và được thông báo
bằng văn bản tới khách hàng liên quan.
+ Có điều khoản quy định về trách nhiệm cung cấp thông tin, hỗ trợ kỹ thuật, nhân lực
khi có yêu cầu của Tổ kết nối đối với doanh nghiệp Viễn thông.
+ Quy định trình tự, thủ tục của hiệp thương: Quy trình hỏi, trình bày chứng cứ, thành
phần tham gia, việc thay đổi người giải quyết, thời gian tổ chức Phiên hiệp thương kể từ thời
điểm thụ lý đơn, thời gian của phiên hiệp thương.
+ Trình tự thông qua Quyết định giải quyết tranh chấp kết nối. Thời gian ra Quyết định
giải quyết tranh chấp kể từ thời điểm kết thúc Hiệp thương.
+ Tương tự như vậy, cần quy định chi tiết trình tự, thủ tục Khiếu nại Quyết định giải
quyết tranh chấp lên Bộ trưởng Bộ BCVT và trình tự giải quyết của Bộ Trưởng.
+ Bỏ quy định có thể tiếp tục yêu cầu giải quyết lại từ đầu.
+ Bổ sung quy định nếu các bên không đồng ý sẽ đưa ra Tòa hành chính để giải quyết về
Quyết định hành chính.
+ Mở rộng phạm vi quy trình giải quyết tranh chấp kết nối liên quan đến từng khía cạnh
cụ thể như: Chất lượng thông tin, sử dụng chung cơ sở hạ tầng, Cước phí, thời hạn kết nối
v.v chứ không chỉ là dung lượng kết nối như hiện nay.
+ Cho phép luật sư tham gia vào giải quyết tranh chấp như một đại diện pháp lý chính
thức cho các bên. Và quy định liên quan đến thay thế người tiến hành tố tụng nếu không đảm bảo
tính khách quan, độc lập cần thiết.
Cùng với việc sửa đổi Quyết định 12/2006/QĐ-BBCVT, chúng ta cũng cần sửa đổi Bộ
Luật tố tụng, Luật cạnh tranh, Pháp lệnh trọng tài thương mại theo hướng bổ sung quy định
hướng dẫn việc giải quyết tranh chấp chỉ được thực hiện theo trình tự, thủ tục tại Pháp lệnh và
những văn bản hướng dẫn thi hành.
Về lâu dài cần nghiên cứu hình thành cơ quan giải quyết tranh chấp theo một trong

quốc tế, cũng như nhận thức của chúng ta mà những quy định pháp lý liên quan đến trình tự, thủ
tục giải quyết tranh chấp kết nối Viễn thông trong những giai đoạn khác nhau cần có sự sửa đổi,
bổ sung cho phù hợp với thực tiễn.
Trong Luận văn này, trên cơ sở khái quát mạng Viễn thông Việt Nam, người thực hiện đã
nghiên cứu những vấn đề lý luận cở bản về kết nối và tranh chấp kết nối Viễn thông, về quá trình
hình thành, phát triển của tranh chấp, về bản chất, đặc điểm của tranh chấp; Đã xem xét thực tiễn
tranh chấp thông qua vụ việc điển hình VNPT-VIETEL, làm rõ những phương án pháp lý có thể
vận dụng, giải quyết các tranh chấp kết nối Viễn thông theo quy định hiện hành tại Việt Nam.
Cùng với sự tiếp thu kinh nghiệm giải quyết tranh chấp của một số nước trên thế giới, Luận văn
đã tập trung phân tích và rút ra nhận xét về một số điểm bất cập của hệ thống pháp luật hiện tại
trong quá trình vận dụng giải quyết tranh chấp kết nối Viễn thông.
Từ đó, Luận văn bước đầu đã đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện từng bước hệ
thống quy định pháp luật về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp kết nối Viễn thông tại Việt
Nam, bao gồm: Những kiến nghị mang tính tạm thời, trước mắt nhằm giải quyết đòi hỏi cấp thiết
hiện tại. Bên cạnh những kiến nghị đó, Luận văn cũng đề cập đến những giải pháp có tính lâu dài
phù hợp với thực tiễn Việt Nam và yêu cầu hội nhập. Ngoài ra, một số kiến nghị mang tính bổ
xung cần thiết như những kiến nghị liên quan đến đào tạo đội ngũ cán bộ giải quyết tranh chấp,
việc trang bị cơ sở vật chất.v.v
Với sự giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn, sự nỗ lực, cố gắng của người viết hy vọng rằng,
những kiến nghị trên đây của Luận văn sẽ góp phần từng bước hoàn thiện pháp luật về giải quyết
tranh chấp kết nối Viễn thông. Tuy nhiên, do giới hạn về nhận thức và thời gian thực hiện, sự
khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn tài liệu, Luận văn không tránh khỏi những hạn chế về nội
dung và hình thức, người viết rất mong nhận được ý kiến đóng góp quý báu của các thầy, cô giáo
cũng như bạn đọc để rút kinh nghiệm cho bản thân trong quá trình nghiên cứu khoa học, đồng
thời bổ sung, hoàn chỉnh hơn nữa những vấn đề đã đặt ra trong Luận văn./.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status