Pháp luật quốc tế, pháp luật nước ngoài về bảo vệ quyền trẻ em - Pdf 10

1

Pháp luật Quốc tế, pháp luật nước ngoài về
bảo vệ quyền trẻ em
International Law, foreign law on the protection of children
NXB H. : Khoa Luật, 2012 Số trang 94 tr. +
Nguyễn Thị Huyền Khoa Luật
Luận văn ThS ngành: Luật Quốc tế; Mã số: 60 38 60
Người hướng dẫn: TS. GVC. Lê Văn Bính
Năm bảo vệ: 2012

Abstract: Nghiên cứu một số nét tổng quan pháp luật quốc tế về bảo vệ quyền trẻ em;
Pháp luật quốc tế, pháp luật nước ngoài, pháp luật Việt Nam điều chỉnh vấn đề bảo vệ
quyền trẻ em; Pháp luật Việt nam về bảo vệ quyền trẻ em, trên cơ sở nghiên cứu tác giả đề
xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc thực thi
pháp luật về bảo vệ quyền trẻ em ở nước ta hiện nay.

Keywords: Luật Quốc tế; Pháp luật nước ngoài; Quyền trẻ em

Content
1. Tính cấp thiết của đề tài
“Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai” là câu nói bao hàm đầy đủ ý nghĩa về Trẻ em. Trẻ
em hôm nay là tương lai của nhân loại, của thế giới, của mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng, mỗi họ tộc
và mỗi gia đình mai sau.
Nhiều thập kỷ qua, việc chăm sóc trẻ em ở hầu hết các quốc gia trên thế giới đã được quan
tâm ở những mức độ khác nhau và ở nhiều mặt như miễn giảm chi phí khám chữa bệnh cho trẻ
dưới 6 tuổi, được khuyến khích đưa trẻ đến trường, phổ cập giáo dục tiểu học, được hỗ trợ tiền
sách vở, được miễn giảm học phí đối với trẻ em con hộ nghèo, ở vùng sâu vùng xa, được tạo điều

em có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây. Trong ba năm (từ 2005 - 2007), đã có 1.520
trẻ em bị xâm hại tình dục, năm 2008 có 1.427 trẻ em bị xâm hại, 9 tháng đầu năm 2009 có 813
trẻ em bị xâm hại (22 trẻ em bị giết, 246 trẻ em bị hiếp dâm, 267 trẻ em bị xâm hại tình dục ), có
trên 100 vụ giết trẻ em và 50 vụ bắt cóc, buôn bán trẻ em được phát hiện và xử lý, trong đó có một
số vụ gây bức xúc trong dư luận xã hội [8.tr.2]. Nhiều trẻ em bị chính cha mẹ, người thân, thầy cô
giáo, người sử dụng lao động và những người có trách nhiệm nuôi dưỡng chăm sóc trẻ em có
hành vi bạo lực trẻ em. Điển hình là các vụ: Cháu Nguyễn Thị Bình bị vợ chồng chủ quán phở
Chu Văn Đức và Trịnh Hạnh Phương ở quận Thanh Xuân, Hà Nội ngược đãi, đánh đập hành hạ
trong một thời gian dài. Vụ chị Quản Thị Kim Hoa đánh đập nhóm trẻ được bố mẹ gửi tại gia đình
chị (Biên Hòa, Đồng Nai). Vụ cháu Hồng Anh 4 tuổi ở Xuân Mai – Hà Nội bị người “cha hờ”
đánh đập, hành hạ dã man.
Vụ cháu Nguyễn Hào Anh 14 tuổi (Cà Mau) bị vợ chồng chủ trại nuôi tôm Minh Đức
hành hạ trong suốt một thời gian dài bằng các hình thức dã man như dùng kìm bấm vào
môi, bẻ răng, dùng bàn là nóng dí lên da thịt. Vụ việc bắt cóc, tống tiền không thành dẫn
đến việc sát hại 2 trẻ em ở Đắk Lắk [57]
Theo một thống kê của UNICEF, trung bình mỗi ngày thế giới có hơn 24.000 trẻ em
dưới 5 tuổi tử vong; hàng năm khoảng 500 triệu tới 1,5 tỷ trẻ em bị bạo hành; khoảng 150
triệu trẻ em tuổi từ 5-14 trở thành lao động chính. Ở một số khu vực của châu Á và châu Phi,
số trẻ em không được chăm sóc sức khoẻ, đảm bảo dinh dưỡng và đi học lên đến hàng triệu.
3

Trẻ em bị tàn tật, trẻ em thuộc dân tộc thiểu số hoặc sống lang thang, trẻ em vi phạm pháp
luật, trẻ em sống trong các trung tâm giáo dưỡng và trẻ em tị nạn hoặc buộc phải di chuyển
chỗ ở là những nhóm trẻ có nguy cơ bị bạo hành cao. Tại cuộc hội thảo giữa các nước trong
khu vực Đông Á và Thái Bình Dương về phòng chống tình trạng bạo hành trẻ em vào ngày
19/10/2006, ông Laurence Gray, Giám đốc phụ trách Vận động xã hội văn phòng World
Vision khu vực phát biểu: “Trong khi chúng ta luôn cho rằng nạn bạo hành ở trẻ em thường do
những kẻ côn đồ gây ra nhưng trong thực tế trẻ thường bị bạo hành trong gia đình, xã hội và
các tổ chức chính quyền. Việc đánh đập và xúc phạm về tình cảm và tâm lý của trẻ dưới bất
cứ khung cảnh nào đều không thể chấp nhận được”.

quyền trẻ em ở nước ta hiện nay.
3. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở các nguyên tắc và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác –
Lênin về nhà nước và pháp luật, trên nền tảng tư tưởng, quan điểm của Đảng, Nhà nước và Chủ tịch
Hồ Chí Minh về con người và sự phát triển của con người. Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng,
phương pháp phân tích đối chiếu, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp, làm rõ cơ chế pháp lý
và thực tiễn bảo vệ quyền trẻ em tại pháp luật quốc tế, pháp luật một số nước và pháp luật Việt Nam.
4. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được
kết cấu làm 3 chương.
- Chương I: Khái quát chung về bảo vệ quyền trẻ em.
- Chương II: Pháp luật quốc tế, pháp luật nước ngoài và pháp luật Việt Nam về Bảo vệ
quyền trẻ em.
- Chương III: Bảo vệ quyền trẻ em ở Việt Nam và một số đề xuất nhằm hoàn hiện pháp
luật Việt Nam.

CHƢƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
1.1.1 Trên thế giới
1.1.1.1 Giai đoạn trƣớc năm 1989
Trẻ em là một thuật ngữ nhằm chỉ một nhóm xã hội thuộc về độ tuổi nhất định trong giai
đoạn đầu của sự phát triển con người. Sự phát triển mạnh mẽ của quá trình công nghiệp hóa ở
châu Âu thế kỷ XVI, XVII và XVIII đã kéo theo tình trạng bóc lột sức lao động trẻ em một cách
phổ biến, khắp nơi trên thế giới, rất nhiều thảm kịch về trẻ em đã diễn ra. Thêm vào đó cuộc chiến
tranh thế giới lần thứ I (1914 -1918) đã đẩy hàng triệu trẻ em vào hoàn cảnh khốn khổ. Năm 1919,
một tổ chức cứu trợ trẻ em đã được thành lập ở Anh và Thụy Điển. Tổ chức lao động quốc tế
(ILO) đã ban hành một số công ước nhằm bảo vệ trẻ em trong các lĩnh vực lao động, việc làm và
bảo trợ xã hội. Năm 1923, người sáng lập ra Quỹ cứu trợ trẻ em ở nước Anh – bà Eglantuyne
Jebb, khởi thảo hiến chương trẻ em. Đây được coi là mốc quan trọng trong lĩnh vực bảo vệ trẻ em.

quyền trẻ em, Việt Nam đã ban hành và sửa đổi nhiều đạo luật: Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo
dục trẻ em năm 1991 được sửa đổi năm 2004; Luật phổ cập giáo dục tiểu học năm 1991; Bộ
luật Lao động năm 2001 sửa đổi, bổ sung năm 2002; Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2005…Các nghị định, thông tư hướng dẫn và các văn bản dưới luật
khác liên quan đến bảo vệ quyền trẻ em đã được ban hành.
1.2. Khái niệm quyền trẻ em trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam
1.2.1. Khái niệm về trẻ em
1.2.1.1. Trẻ em theo công ƣớc về quyền trẻ em năm 1989 và pháp luật nƣớc ngoài
Điều 1, Công ước về quyền trẻ em đã ghi nhận “Trẻ em là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi,
trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”.
Trung quốc: Điều 2, luật Bảo vệ người chưa thành niên quy định, trẻ em còn được gọi là trẻ chưa
thành niên, là công dân dưới 18 tuổi. Nhật Bản: Điều 4, luật Phúc lợi trẻ em năm 1947 cũng quy
định trẻ em là người dưới 18 tuổi. Pháp luật tôn trọng và thực thi toàn bộ những quy định để đảm
6

bảo mọi phúc lợi cho trẻ em. Theo Điều 1 Luật liên bang Nga số 124-FZ ngày 21/7/1998 (sửa
đổi), thì trẻ em được hiểu là người ở độ tuổi dưới 18.
1.2.1.2. Trẻ em theo pháp luật Việt Nam
Từ những quy định về độ tuổi của người chưa thành niên trong các văn bản pháp luật Bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004; Luật Hôn nhân gia đình; Bộ luật Lao động 1994 …
trên chúng ta có thể hiểu và đưa ra một khái niệm về trẻ em như sau “Trẻ em là người dưới 18
tuổi”, khái niện này phù hợp với Công ước quốc tế quyền trẻ em và pháp luật Việt Nam.
1.2.2. Quyền trẻ em
Quyền trẻ em chính là quyền của con người được cụ thể hóa cho phù hợp với nhu cầu, đặc
trưng phát triển và tính chất cuộc sống trẻ em.
1.2.2.1. Quyền trẻ em theo công ƣớc quốc tế về quyền trẻ em
Công ước về quyền trẻ em năm 1989 đã bao quát được tất cả các khía cạnh của quyền trẻ
em, bao gồm: Quyền sống còn; quyền được phát triển; quyền được bảo vệ; quyền được tham gia
và một số biện pháp bảo vệ dành cho các trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.
1.2.2.2. Quyền trẻ em theo pháp luật Việt Nam

Pháp luật Việt Nam có ảnh hƣởng đến sự hình thành và phát triển của pháp luật
quốc tế về bảo vệ quyền trẻ em.
Bản chất quá trình xây dựng các quy phạm luật quốc tế mà các quốc gia tiến hành thông
qua phương thức thỏa thuận chính là quá trình đưa ý chí quốc gia vào nội dung của luật quốc tế. Ý
chí này phản ánh tương quan lực lượng và tương quan lợi ích của các quốc gia. Vì vậy lợi ích
quốc gia trở thành điều kiện cơ bản cho nhu cầu hợp tác, phát triển luật quốc tế. Việc nội luật hoá
các quy định của pháp luật quốc tế ở quốc gia thành viên chính là sự thực thi và nơi kiểm chứng
cho pháp luật quốc tế.
Việc thực hiện pháp luật quốc tế trên lãnh thổ quốc gia chính là nơi kiểm chứng tính phù
hợp của pháp luật quốc tế với thực tiễn, từ đó chỉ ra những khiếm khuyết nhằm hoàn thiện pháp
luật quốc tế.
Pháp luật quốc tế có tác động tích cực đến sự phát triển và hoàn thiện pháp luật Việt
Nam về bảo vệ quyền trẻ em.
Tính chất tác động của luật quốc tế đối với luật quốc gia được đánh giá bằng thực tiễn thực thi
nghĩa vụ thành viên điều ước quốc tế của quốc gia, thể hiện ở những hoạt động cụ thể: Sửa đổi, bổ
sung, hoàn thiện các quy định của luật quốc gia phù hợp với cam kết quốc tế của chính quốc gia đó.
Các văn bản pháp luật Việt Nam hiện nay đều thể hiện quan điểm của Nhà nước Việt Nam
trong việc nghiêm chỉnh tuân thủ và tôn trọng các nghĩa vụ cũng như các cam kết quốc tế mà Việt
Nam chính thức ràng buộc, trên cơ sở bình đẳng, có đi có lại, hợp tác phát triển.
1.5. Các nguyên tắc cơ bản trong bảo vệ quyền trẻ em
1.5.1. Nguyên tắc không phân biệt đối xử
Mọi trẻ em đều có quyền giống nhau, tất cả các quyền và nghĩa vụ được nêu trong công
ước đều được áp dụng bình đẳng cho mọi trẻ em mà không có sự phân biệt đối xử.
1.5.2. Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của mọi công dân, gia đình,
nhà nƣớc và toàn xã hội
Mọi công dân, gia đình, Nhà nước và toàn xã hội phải tạo điều kiện tốt nhất để bảo vệ,
chăm sóc trẻ em bởi trẻ em là công dân đặc biệt, điểm nổi bật nhất là bản thân chưa tự thực hiện
được một số quyền để bảo vệ mình và phần lớn phụ thuộc vào cha mẹ, người lớn tuổi.
Bảo đảm trẻ em không bị cách ly khỏi gia đình. Điều 9, 10, 20 công ước về quyền trẻ
em quy định: “Các quốc gia thành viên phải bảo vệ quyền được sống cùng cha mẹ của trẻ em, các
quốc gia phải đảm bảo rằng trẻ em không bị cách ly cha mẹ trái ý muốn của họ, trừ khi việc cách
ly là cần thiết nhưng tất cả phải vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.”
Bảo vệ trẻ em trong lĩnh vực hình sự: Công ước về quyền dân sự và chính trị ghi nhận:
Án tử hình không được tuyên đối với các bị cáo chưa đủ 18 tuổi khi phạm pháp (khoản 5 điều 6);
Các bị cáo thiếu nhi, các thiếu nhi phạm pháp phải được giam giữ cách biệt với người lớn, phải
được đối xử tùy theo tuổi tác và tình trạng pháp lý của các em và phải được xét xử trong thời hạn
sớm nhất (khoản 2, điều 10).
9

Bảo vệ quyền trẻ em chống lại sự bóc lột và lạm dụng: Theo điều 34 công ước về
quyền trẻ em các quốc gia phải bảo vệ trẻ em chống tất cả các hình thức bóc lột và lạm dụng tình
dục, phải đặc biệt thực hiện tất cả các biện pháp thích hợp để ngăn ngừa việc xúi giục hay ép buộc
trẻ em tham gia vào bất kỳ hoạt động tình dục trái pháp luật nào.
Luật phòng chống lạm dụng trẻ em Nhật Bản năm 2004; Luật Hình sự Trung Quốc năm
1997 Luật Phúc lợi trẻ em Nhật Bản năm 1947.
Bảo vệ trẻ em khỏi tệ nạn ma tuý: Các quốc gia thành viên phải thực hiện tất cả những
biện pháp thích hợp bao gồm những biện pháp lập pháp, hành chính, xã hội và giáo dục để bảo vệ
trẻ em chống lại việc sử dụng bất hợp pháp các chất ma tuý, các chất hướng thân và để ngăn ngừa
việc sử dụng trẻ em vào việc sản xuất, buôn bán bất hợp pháp các chất đó. (điều 33 Công ước về
quyền trẻ em).
Bảo vệ quyền trẻ em trong lĩnh vực lao động: Trẻ em được bảo vệ không bị bóc lột về
kinh tế và không phải làm bất cứ công việc nào nguy hiểm, có hại đối với sức khỏe hay sự phát
triển về thể chất, trí tuệ, tinh thần, đạo đức, xã hội hoặc ảnh hưởng đến việc học hành của trẻ em
(điều 32 công ướ về quyền trẻ em). Luật Tiêu chuẩn Lao động Nhật Bản năm 1947 (sửa đổi năm
1995) quy định trẻ em dưới 15 tuổi không được làm việc như công nhân. Tuy nhiên trẻ em trên 12
tuổi có thể được nhận làm việc tại một số doanh nghiệp với những công việc làm ban ngày, không
hại sức khỏe và phúc lợi trẻ em.
Bảo vệ trẻ em tàn tật: Trẻ em tàn tật về tinh thần hay thể chất được sóc đặc biệt, Các trẻ

biến những thông tin và tư liệu có lợi về xã hội và văn hóa cho trẻ em, khuyến khích hợp tác quốc
tế trong việc sản xuất và phổ biến sách cho trẻ em.
Quyền đƣợc vui chơi giải trí và tham gia các hoạt động văn hóa
Trẻ em có quyền được nghỉ ngơi và tiêu khiển, được tham gia vui chơi và những hoạt động
giải trí phù hợp với lứa tuổi, được tự do tham gia các sinh hoạt văn hóa và văn nghệ (điều 31
Công ước quyền trẻ em).
Quyền tự do tín ngƣỡng, tôn giáo
Trẻ em có quyền được tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo (điều 14 Công ước về quyền
trẻ em).
Quyền đƣợc phát triển sức khỏe và thể lực
Điều 24 Công ước nghi nhận trẻ em có quyền hưởng tình trạng sức khỏe cao nhất, đảm
bảo cho trẻ em được chăm sóc y tế, đảm bảo cho tất cả mọi trẻ em được hưởng những dịch vụ
chăm sóc sức khỏe.
2.1.4. Quyền đƣợc tham gia
Quyền được tham gia là một quyền cơ bản của trẻ em, liên quan đến quyền sống còn,
quyền được bảo vệ và quyền được phát triển.
Quyền đƣợc tự do ngôn luận
Tại điều 13 Công ước về quyền trẻ em đã quy định: Trẻ có quyền tự do tìm kiếm, tiếp
nhận và phổ biến tất cả các loại thông tin và tư tưởng không kể biên giới hoặc qua truyền miệng,
bản viết tay hay bản in, dưới hình thức nghệ thuật hoặc bất kỳ phương tiền truyền thông nào khác
mà trẻ em lựa chọn.
Quyền đƣợc tiếp nhận các thông tin thích hợp
Điều 17 Công ước nêu rõ “Nhà nước phải đảm bảo để trẻ em có thể tiếp cận thông tin và
các tài liệu từ những nguồn quốc gia và quốc tế khác nhau ” Trách nhiệm của người lớn và toàn
xã hội là phải đưa đến cho trẻ em những thông tin lành mạnh. 11

Quyền đƣợc tự do bày tỏ ý kiến

đủ. Người lớn có nghĩa vụ tạo điều kiện cho trẻ em thực hiện quyền tham gia: Quyền được bày tỏ
ý kiến; Quyền tham gia lao động và ký kết hợp đồng lao động; Quyền khiếu nại tố cáo
2.3. Các thiết chế bảo vệ quyền trẻ em
2.3.1. Các thiết chế quốc tế về bảo vệ quyền trẻ em
2.3.1.1. Liên Hiệp Quốc bao gồm các cơ quan như: Đại hội đồng Liên Hợp Quốc; Hội
đồng kinh tế - xã hội; Uỷ ban quyền con người: Có chức năng, nhiệm vụ xem xét mọi vấn đề
12

thuộc phạm vi của Hiến chương Liên Hợp Quốc trong đó có vấn đề quyền con người, quyền trẻ
em. Đại hội đồng đã thông qua Công ước về quyền trẻ em ngày 20/11/1989
2.3.1.2. Các tổ chức chuyên môn, các chƣơng trình và Quỹ của Liên Hợp Quốc.
Các tổ chức trực thuộc Liên Hợp Quốc, các chương trình và Quỹ của Liên Hợp Quốc có
vai trò rất lớn trong việc bảo vệ quyền trẻ em, trong đó không thể không nhắc tới tổ chức Lao
động Quốc tế (ILO) và Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc.
2.3.1.3. Uỷ ban về quyền trẻ em
Uỷ ban về quyền trẻ em được thành lập theo điều 43 Công ước về Quyền trẻ em năm
1989. Uỷ ban có chức năng theo dõi sự tiến bộ của các quốc gia thành viên trong việc thực hiện
Công ước về quyền trẻ em;
2.3.1.4. Các tổ chức phi chính phủ
Các tổ chức phi chính phủ là một lực lượng tích cực trong việc bảo vệ quyền trẻ em. Các
tổ chức này góp phần xây dựng Công ước về quyền trẻ em, Hỗ trợ về kỹ thuật và tư vấn ở nhiều
giai đoạn như: Soạn thảo, thông qua, phê chuẩn công ước…
2.3.2. Các thiết chế bảo vệ quyền trẻ em ở Việt Nam
2.3.2.1. Nhà nƣớc
Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có trách nhiệm chung trong việc bảo vệ
quyền trẻ em. Trách nhiệm đó bao gồm ban hành pháp luật, hình thành các thiết chế xây dựng các
chủ trương chính sách và bảo đảm thực hiện quyền trẻ em. Bao gồm các cơ quan Quốc hội; Chính
phủ; Bộ Lao động - Thương binh xã hội; Uỷ ban nhân dân các cấp; Cơ quan toà án
2.3.2.2. Nhà trƣờng
Quyền được học tập là một trong những quyền cơ bản của trẻ em được ghi nhận trong điều

hành luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991 (được sửa đổi và bổ sung năm 2004); Bộ
luật Dân sự năm 2005, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Lao động, Luật Hôn nhân và gia đình, luật Giáo
dục…Các văn bản luật đã tạo nên một hệ thống pháp luật về trẻ em tương đối đầy đủ, gồm các
văn bản chuyên ngành, không chuyên ngành, đến các văn bản luật và văn bản dưới luật góp phần
quan trọng vào thành tựu thực hiện bảo vệ quyền trẻ em
3.1.1.2. Quyền đƣợc bảo vệ
Hệ thống các thiết chế: Bên cạnh pháp luật, một hệ thống các thiết chế được thành lập để
huy động các lực lượng, các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các cá nhân vào việc thực hiện
và bảo vệ quyền trẻ em. Đăng ký khai sinh cho trẻ em: Từ năm 2005 đến nay, cán bộ bảo vệ chăm
sóc và giáo dục trẻ em các cấp phối hợp với cán bộ tư pháp hộ tịch để tiến hành đăng ký khai sinh
trước khi câp phát thẻ khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi. Tính đến tháng 5/2007,
trên toàn quốc đã có 97 % trẻ em dưới 6 tuổi được nhận thẻ khám, chữa bệnh và tất cả các em này
đã được đăng ký khai sịnh.
Trẻ em có hoàn cảnh khó khăn: Trẻ em có hoàn cảnh khó khăn được Nhà nước và toàn xã
hội quan tâm giúp đỡ.
3.1.1.3. Quyền đƣợc sống còn
Giảm tỷ lệ tử vong trẻ em: Theo báo cáo tình hình trẻ em thế giới năm 2008, tỉ lệ trẻ em tử
vong ở trẻ em dưới 5 tuổi giảm từ 53 trẻ xuống còn 17 trẻ trong 1000 trẻ đẻ sống trong khoảng
thời gian từ năm 1990 đến 2006. Tiêm chủng trẻ em được duy trì và đạt tỷ lệ cao, đã thanh toán
bệnh bại liệt vào năm 2002, loại trừ uốn ván ở bà mẹ và trẻ sơ sinh năm 2005, giảm được 95 %
các ca bệnh sởi tính từ năm 1990.
14

3.1.1.4. Quyền đƣợc phát triển
Hệ thống giáo dục: Có khoảng 97 % trẻ em hiện đang được theo học ở cấp tiểu học. Đây là
một tỉ lệ cao so với thế giới và khu vực. Dưới đây là số liệu về số trường học, lớp học tính đến
thời điểm 30/12/2011 của Tổng cục Thống kê (đơn vị tính: nghìn) [55]

548.4
Tiểu học
266.4
272.2
281.5
291.7
Trung học cơ sở
160.2
164.3
168.2
172.5
Trung học phổ thông
68.6
78.2
78.6
84.2

Vui chơi giải trí: Nhiều công trìm dành cho thiếu nhi như nhà thiếu nhi, nhà trẻ, trường
học, khu vui chơi giải trí…được xây dựng, đưa vào hoạt động tạo điều kiện cho trẻ em em phát
triển một cách toàn diện.
3.1.1.5. Quyền đƣợc tham gia
Trên toàn quốc hiện nay đã có gần 700 báo và tạp chí, phần lớn đều có chuyên mục dành riêng
cho trẻ em. Nhà nước và xã hội đã tạo nhiều cơ hội để trẻ em tham gia phát triển nâng cao nhận thức, mở
rộng tầm hiểu biết thông qua các cuộc gặp gỡ, giao lưu văn hoá, thể thao, các diễn đàn…
3.1.2. Hạn chế trong công tác bảo vệ quyền trẻ em ở Việt Nam
3.1.2.1. Quyền sống còn
Tỷ lệ trẻ em tử vong nhìn chung có chiều hướng giảm nhưng Việt Nam lại chưa có sự tiến
bộ rõ rệt trong việc cứu sống trẻ sơ sinh. [37.tr.1] do tình trạng nạo phá thai đáng báo động; Sự
chên lệch giữa các vùng; Tiến bộ trong việc tiếp cận với điều kiện vệ sinh phù hợp tiến triển rất
chậm, dẫn đến tỷ lệ trẻ em tử vong cao.[37.tr.2]

3.2.2.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền trẻ em
Phải rà soát và hệ thống hóa các văn bản pháp luật có quy định về quyền trẻ em. Hoạt
động này nhằm phát hiện những nội dung văn bản pháp luật mẫu thuẫn, chồng chéo, không phù
hợp với thực tiễn. Tiến hành ban hành các văn bản pháp luật mới, luật hóa quyền tiếp cận thông
tin của công dân. Việc sửa đổi, bổ sung và ban hành các văn bản pháp luật về quyền trẻ em cần
phải được tiến hành ngay nhưng về lâu dài có thể nghiên cứu để xây dựng Luật về bảo vệ quyền
trẻ em một cách chi tiết, cụ thể hơn.Các quy phạm pháp luật quy định về quyền được bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em còn tản mạn ở nhiều ngành luật, nhiều văn bản pháp luật khác nhau.
3.2.2.2. Tuyên truyền giáo dục về tôn trọng quyền trẻ em
Việc tuyên truyền, giáo dục đóng góp rất lớp vào việc thực hiện, tuân thủ pháp luật, nâng
cao ý thức pháp luật của người dân.
3.2.2.3. Tăng cƣờng vai trò Nhà nƣớc
Nhà nước có vai trò to lớn trong việc thực hiện quyền trẻ em ở Việt Nam, Nhà nước phải
xác định mục tiêu trẻ em và đảm bảo quyền trẻ em luôn được đặt trong chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội, cần tăng cường hơn nữa vai tro trò của Nhà nước với những giải pháp thiết thực. 16

3.2.2.4. Nâng cao vai trò, trách nhiệm của gia đình
Đây là yếu tố quyết định đảm bảo cho quyền trẻ em được thực hiện tốt ngay từ trong mái
ấm gia đình.
3.2.2.5. Xây dựng hệ thống nhà trƣờng cả về số lƣợng và chất lƣợng.
3.2.2.6 Kiện toàn hệ thống cơ quan tổ chức, tăng cƣờng hơn nữa việc đào tạo cán bộ
chuyên môn
3.2.2.7. Cần có sự phối hợp giữa gia đình, nhà trƣờng và xã hội
3.2.2.8. Thành lập Toà án vị thành niên
pháp luật Tố tụng Hình sự Việt Nam hiện nay có quy định một số thủ tục tố tụng riêng
dành cho những người phạm tội là người chưa thành niên nhưng thực tế cho thấy nhiều toà án đã
xem nhẹ các quy định này. Vì thế cùng với quá trình cải cách tư pháp cần thiết phải thành lập Toà

Tiếng việt
1.
Bảo vệ quyền của người chưa thành niên trong pháp luật hình sự và tố tụng hình sự
Việt Nam (2006), NXB.TP.
2.
Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam (1996), NXB.GD.
3.
Bộ luật Dân sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2005.
4.
Bộ luật Hình sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1999.
5.
Bộ luật Lao động nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2002.
6.
Bộ luật Tố tụng Hình sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2003.
7.
Bộ luật Tố tụng Dân sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2005.
8.
Bộ Công an (2009), Báo cáo 5 năm về tình hình xâm hại trẻ em.
9.
Bộ Lao động – TBXH (2009), Báo cáo tình hình trẻ em Việt Nam.
10.
Bộ Lao động – TBXH, Quỹ Nhi đồng Liên Hơp Quốc (2002) vấn đề phụ nữ và trẻ em
thời kỳ (2001-2010), Hà Nội.
11
Lê Văn Bính (2008), Tiệm cận các quy phạm luật quốc tế, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế-
Luật 24(99).
12.
Vũ Ngọc Bình (1996), Những điều cần biết về quyền trẻ em, NXB.CTQG.
13.
Vũ Ngọc Bình (2007), Giới thiệu Công ước của Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em,

27.
Luật Quốc tịch Việt Nam 2008.
18

28.
Luật Phổ cập giáp dục tiểu học Việt Nam 1991.
29.
Luật Nuôi con nuôi Việt Nam 2010.
30.
Hoàng Thế Liên (2000) Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật về quốc tịch và đăng ký hộ tịch ở
Việt Nam, NXB.CTQG.
31.
Lê Thị Nga (2007), Quyền trẻ em trong pháp luật, Báo điện tử của Tổng cục Dân số - Kế
hoạch hoá gia đình (5).
32.
Nghị định thư về việc sử dụng trẻ em trong xung đột vũ trang bổ sung cho Công ước
quyền trẻ em 2000.
33.
Nghị định thư về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hoá phẩm khiêu dâm trẻ em
bổ sung cho Công ước quyền trẻ em 2000.
34.
Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/04/2007 Về chính sách trợ giúp các đối tượng
bảo trợ xã hội.
35.
Nghị định số 71/2011/NĐ-CP ngày 10/10/2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
một số điều của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
36.
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002.
37.
Quốc triều Hình luật (1995), NXB.CTQG.

51.
The Law banned child labor in China 2002.
52.
The People's Republic of China Crimal law 1997.
53
The People's Republic of China law on the protection of minors 2006.
54
Juvenile law of Japan 2000.
19

III.
Các trang wed
55.
http:/hvcsnd.edu.vn.
57.
www.unicef.org/vietnam.
58.
www.gso.gov.vn.
59.
/>2010/27264.
60.
/>thach-thuc-ve-mat-can-bang-gioi-tinh-o-trung-quoc.htm.

61

62

63
www.rg.ru/2012/02/08
64


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status