Pháp luật thuế xuất nhập khẩu trong điều kiện việt nam thực thi cam kết WTO - Pdf 10

Pháp luật thuế xuất nhập khẩu trong điều kiện
Việt Nam thực thi cam kết WTO

Ngô Khánh Phượng

Khoa Luật
Luận văn Thạc sĩ ngành: Luật Kinh tế; Mã số: 60 38 50
Người hướng dẫn: TS.Nguyễn Văn Tuyến
Năm bảo vệ: 2011

Abstract: Nghiên cứu các vấn đề lý luận thuế xuất nhập khẩu nói chung và thuế xuất
nhập khẩu trong điều kiện Việt Nam thực thi cam kết WTO. Phân tích thực trạng pháp
luật thuế xuất nhập khẩu trong điều kiện Việt Nam thực thi cam kết WTO, đánh giá
mức độ phù hợp của các quy định pháp luật đó với thực tiễn hoạt động thuế xuất nhập
khẩu của Việt Nam, mức độ tương thích và phù hợp với các cam kết WTO. Đưa ra
những đề xuất, kiến nghị một số sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật của Việt Nam
hiện nay.

Keywords: Thuế xuất khẩu; Thuế nhập khẩu; Luật Hải quan; Thuế; Pháp luật Việt
Nam

Content
Lời mở đầu
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Ngày 7/11/2006, Việt Nam được chính thức công nhận là thành viên của Tổ chức
thương mại thế giới (WTO).Với sự gia nhập WTO, trước áp lực mạnh mẽ của việc cam kết và
thực thi lĩnh vực thuế quan trong hoạt động xuất nhập khẩu, đã và đang đặt ra những yêu cầu
nghiên cứu về lý luận và thực tiễn điều chỉnh pháp luật đối với thuế xuất nhập khẩu và một
trong những yêu cầu đó, cũng được xác định là yêu cầu cơ bản và quan trọng nhất tại thời
điểm hiện nay khi Việt Nam vừa gia nhập và đang bước những bước đầu tiên thực hiện cam
kết về thuế quan của WTO là cần điều chỉnh pháp luật về thuế xuất nhập khẩu trong nước cho

WTO và có liên quan trực tiếp đến cam kết về thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam khi gia
nhập WTO) chỉ điều chỉnh hoạt động thuế xuất nhập khẩu nhằm thực thi cam kết của Việt
Nam với WTO, đặc biệt quan tâm đến yêu cầu nổi trội là phải cắt giảm thuế nhập khẩu theo
cam kết của Việt Nam với WTO (không bao gồm toàn bộ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu
theo hệ thống pháp luật thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam).
Trong phạm vi bài này, bên cạnh thuế xuất khẩu là một bộ phận cấu thành trong hệ
thống pháp luật thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam thì tác giả có tập trung nhiều hơn về thuế
nhập khẩu của Việt Nam trong điều kiện thực thi cam kết WTO.
4. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về thuế xuất nhập khẩu và cam kết về thuế
xuất nhập khẩu của Việt Nam khi gia nhập WTO, đề tài đánh giá khái quát thực trạng các quy
định của pháp luật Việt Nam về thuế xuất nhập khẩu trong điều kiện thực thi cam kết WTO.
Bên cạnh việc đánh giá thực trạng và các quy định pháp luật hiện hành về thuế xuất

3
nhập khẩu của Việt Nam trong điều kiện thực thi cam kết WTO, đề tài nêu và phân tích một
số vấn đề liên quan đến thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam chưa được đề cập hoặc được điều
chỉnh bởi pháp luật về thuế xuất nhập khẩu hoặc vẫn còn những bất cập cần phải xem xét để
sửa đổi, bổ sung và điều chỉnh.
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Các phương pháp nghiên cứu đề tài được sử dụng trong quá trình thực hiện Luận văn
bao gồm:
- Phương pháp duy vật biện chứng;
- Phương pháp duy vật lịch sử;
- Các phương pháp khác như: phương pháp so sánh, thống kê, khảo sát.
6. Kết quả mới đạt được của Luận văn
Luận văn có những đóng góp mới sau đây:
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận thuế xuất nhập khẩu và thuế xuất nhập khẩu của Việt
Nam trong điều kiện thực thi cam kết WTO;
- Phân tích thực trạng pháp luật về thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam trong điều kiện

với thông tin về thị trường nhập khẩu.
Thứ ba, Việt Nam buộc phải cắt giảm rào cản thuế quan và phi thuế quan, giảm bảo hộ
và trợ cấp xuất khẩu, bởi vậy hàng nhập khẩu vào Việt Nam nhiều hơn trước.Cụ thể là:
- Giảm thuế nhập khẩu: Việt Nam cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu của 3800 dòng thuế
(chiếm 35,5% tỷ trọng); phải dừng ở mức thuế tại thời điểm gia nhập là 3700 dòng thuế
(chiếm 34,5% tỷ trọng; mức thuế trần cao hơn mức thuế khi gia nhập WTO là 3170 dòng thuế
(chiếm 30% tỷ trọng).
- Thay đổi các biện pháp hạn chế nhập khẩu: Việt Nam buộc phải cho phép nhập khẩu
một số mặt hàng mà trước đây Việt Nam không cho phép nhập khẩu, bao gồm:
 Việt Nam đồng ý cho nhập khẩu xe máy phân phối lớn không muộn hơn ngày
31/5/2007 phù hợp với quy định của Việt Nam;
 Bỏ biện pháp cấm nhập khẩu đối với mặt hàng thuốc lá điếu và xì gà;
 Việt Nam cho phép nhập khẩu các loại xe đã qua sử dụng không quá 5 năm với mức
thuế suất được xác định trong Biểu cam kết về thuế và đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật theo
quy định của Việt Nam;
 Việt Nam đảm bảo cơ chế cấp phép nhập khẩu văn hóa phẩm nhằm mục đích kiểm
duyệt sẽ tuân thủ theo quy định về minh bạch hóa WTO.
 Việt Nam cam kết từ ngày 01/01/2009 sẽ mở cửa thị trường dịch vụ phân phối (trừ
một số mặt hàng nhạy cảm).

5
1.1.2. Nhu cầu xuất khẩu, nhập khẩu của thị trường Việt Nam
Trong giai đoạn 2007-2010, thị trường xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam phát triển
cả chiều rộng lẫn chiều sâu; hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu sang 219 nước và nhập khẩu từ
151 nước; 165 nước cho Việt Nam hưởng Quy chế tối huệ quốc, trong đó có 151 nước là
thành viên của WTO.
Năm 2007, tổng kim ngạch xuất khẩu cả năm lên 48,38 tỷ USD, ước tính bằng USD thì
tổng kim ngạch xuất khẩu so với GDP đạt 67,9%, thuộc loại cao ở châu á và thế giới, tăng
21,5% so với năm 2006.
Tính chung cả năm 2008, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đều tăng, chủ yếu do giá trên

Trên giác độ kinh tế học, thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó, Nhà nước sử dụng
quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công, nhằm
thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước.
Trên giác độ phân phối thu nhập thì thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng
sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước
để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước.
Trên giác độ người nộp thuế, thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ
chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi
tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ Nhà nước
Một trong các khái niệm về thuế được thừa nhận chung là: “Thuế là một khoản đóng
góp bắt buộc của các pháp nhân, thể nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp
luật quy định, không mang tính chất hoàn trả trực tiếp, nhằm sử dụng cho mục đích chung
toàn xã hội” [11].
Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 1992 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu 1993; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu 1998 mặc dù có sửa đổi, bổ sung làm đầy đủ hơn khái niệm về xuất
nhập khẩu hàng hóa, nhưng cũng không đưa ra định nghĩa về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu:
“Hàng hóa được phép xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam, kể cả hàng
hóa từ thị trường trong nước đưa ra khu chế xuất và từ khu chế xuất đưa ra thị trường trong
nước, đều thuộc đối tượng chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu” (Điều 1).
Điều 2, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2005 cũng không đưa ra định nghĩa khái
quát về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu mà quy định cụ thể đối tượng chịu thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu bao gồm:
“Trừ hàng hóa quy định tại Điều 3 của Luật này, hàng hóa trong các trường hợp sau
đây là đối tượng chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu:
1. Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam;
2. Hàng hóa được đưa từ thị trường trong nước vào khu phi thuế quan và từ khu phi
thuế quan vào thị trường trong nước”

7

- Các quy định về thuế xuất khẩu, phí và lệ phí, thuế nội địa đối với hàng xuất khẩu
và hạn chế xuất khẩu: WTO không có quy định điều chỉnh về thuế xuất khẩu. Tuy nhiên,
một số thành viên yêu cầu Việt Nam phải cắt giảm thuế xuất khẩu đối với một số mặt hàng.

8
Theo đó, Việt Nam cam kết sẽ giảm thuế xuất khẩu cho các loại phế liệu kim loại đen và kim
loại màu nhưng không phải ràng buộc toàn bộ biểu thuế xuất khẩu và cũng không xem việc
giảm thuế xuất khẩu là một phần của sự cân bằng nhân nhượng trong đàm phán gia nhập
WTO. Ngoài ra, Việt Nam chấp nhận áp dụng các biện pháp hạn chế xuất khẩu, phí và lệ phí
cũng như thuế nội địa hóa đối với hàng xuất khẩu theo đúng Hiệp định GATT của WTO.
1.3.2. Các cam kết cụ thể về thuế quan của Việt Nam
Việt Nam đồng ý ràng buộc mức thuế trần cho toàn bộ biểu thuế quan (gồm 10.600
dòng thuế). Trong đó, Việt Nam sẽ cắt giảm thuế với khoảng 3.800 dòng thuế (chủ yếu là các
dòng có thuế suất trên 20%), ràng buộc ở mức thuế hiện hành với khoảng 3.700 dòng và ràng
buộc mức thuế trần (cao hơn mức thuế suất hiện hành) với khoảng 3.700 dòng thuế.
Mức thuế quan bình quân toàn bộ biểu thuế được giảm từ mức hiện hành 17,4% xuống
13,4%, thực hiện dần trong vòng 5 - 7 năm (trong đó, hàng nông sản giảm từ 23,5% xuống
20,9% và hàng công nghiệp giảm từ 16,8% xuống 12,6%).
Về hạn ngạch thuế quan, Việt Nam bảo lưu quyền áp dụng đối với 4 mặt hàng gồm:
trứng, đường, thuốc lá, muối (mặc dù muối trong WTO thường không được áp dụng hạn
ngạch, nhưng Việt Nam kiên quyết giữ để bảo vệ lợi ích của người dân sống bằng nghề làm
muối). Đối với 4 mặt hàng này, mức thuế trong hạn ngạch tương đương với mức thuế MFN
hiện hành: trứng 40%, đường thô 25%, đường tinh 50 - 60%, thuốc lá: 30%, muối ăn: 30%,
thấp hơn nhiều so với mức thuế ngoài hạn ngạch.
1.4. pháp luật về thuế xuất nhập khẩu trong điều kiện việt nam thực thi cam kết wto
1.4.1. Khái niệm pháp luật về thuế xuất khẩu, nhập khẩu trong điều kiện thực thi
cam kết WTO
Pháp luật về thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam trong điều kiện thực thi cam kết WTO
được hiểu là quy định của pháp luật Việt Nam đối với các vấn đề liên quan đến thuế xuất
khẩu, nhập khẩu trong phạm vi Việt Nam đã đàm phán và ký kết khi tham gia WTO, bao

bảo hiệu quả của hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước.
- Phạm vi bảo hộ nền kinh tế trong nước: Việt Nam cần cần nhắc việc tuân thủ cam kết
WTO với việc bảo hộ nền kinh tế trong nước, vì vậy Việt Nam có thể quy định mức thuế suất
nhập khẩu hợp lý tại mỗi thời điểm hay cơ chế chống bán phá giá, chống trợ cấp ….để đảm
bảo mục tiêu cuối cùng là sản xuất trong nước có thể đứng vững, phát triển khi thực hiện hội
nhập WTO, mở cửa thị trường, tự do hóa thương mại.
Để đảm bảo việc điều chỉnh pháp luật về thuế xuất nhập khẩu đạt được hiệu quả, quan
điểm về điều chỉnh pháp luật về thuế xuất nhập khẩu cần thống nhất như sau:
Thứ nhất, Việt Nam cần tôn trọng nguyên tắc của tổ chức thương mại quốc tế, bao gồm
ba nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc tối huệ quốc (MFN - Most Favoured Nation), nguyên tắc
đãi ngộ quốc gia (NT - National Treatment), nguyên tắc cạnh tranh công bằng (Fair
Competition).
Thứ hai, việc sửa đổi bổ sung các quy định pháp luật cho phù hợp với cam kết WTO sẽ
không được hiểu là việc bắt buộc Việt Nam phải thực hiện cắt giảm thuế quan trong một thời

10
gian ngắn hay càng sớm càng tốt mà Việt Nam có quyền điều chỉnh dần dần thuế suất trong
khoảng thời gian mà Việt Nam đã đạt được để đưa ra lộ trình khi gia nhập WTO.
1.5. xu hướng phát triển của thuế xuất khẩu, nhập khẩu trong giai đoạn hội nhập toàn
cầu
1.5.1. Xu hướng chung của các nước trên thế giới
Hầu hết các nước đã bãi bỏ thuế xuất khẩu hoặc nếu có đánh thì ở mức rất thấp, còn
thuế nhập khẩu mặc dù hiện nay nhiều quốc gia vẫn duy trì nhưng đang ngày càng được hạ
thấp nhằm tiến dần đến mốc xóa bỏ hoàn toàn, bởi vì:
- Xu thế hướng về xuất khẩu do khoa học và kỹ thuật phát triển nhanh chóng, trong khi
thị trường trong nước đã bão hòa, cần thiết tăng thêm sức cạnh trong cho hàng hóa xuất khẩu.
- Thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu đều là thuế đánh vào tiêu dùng. Trong hai cách
đánh thuế tiêu dùng phổ biến là đánh theo xuất xứ (original) và đánh theo điểm đến
(destination) thì các nước thông thường là đánh theo điểm đến (đánh vào hàng nhập khẩu,
không đánh vào hàng xuất khẩu).

2.1.1. Thực trạng hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam sau khi gia nhập Tổ
chức thương mại thế giới (WTO)
Về xuất khẩu hàng hóa, theo số liệu thống kê của Bộ Công thương: năm 2007, xuất
khẩu của Việt Nam đạt mức cao nhất từ trước đến nay và tăng trưởng với tốc độ cao. Kim
ngạch xuất khẩu đạt 47,7 tỷ USD, tăng 21% so với năm 2006 (7,9 tỷ USD) và vượt 15,5% so
với kế hoạch. Năm 2008, giá trị xuất khẩu hàng hoá ước đạt 65 tỷ USD, tương đương 73%
GDP, tăng 33,9% so với năm 2007. Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của năm 2008 đạt
mức cao gấp nhiều lần so với những năm trước đó. Năm 2009, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt
57,1 tỷ USD, giảm 8,9% so với năm 2008.
Về nhập khẩu hàng hoá: Năm 2007, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam là 60,8 tỷ
USD, tăng 35,5% so với năm 2006, đứng thứ 41 trên thế giới. Kim ngạch nhập khẩu năm
2008 của Việt Nam đạt 84 tỷ USD, tăng 34% so với năm 2007. Tuy nhiên, năm 2009 nhập
khẩu của Việt Nam giảm khá mạnh, đạt 69,95 tỷ USD, giảm 13,3% so với năm 2008.
Dưới đây là tổng hợp một số đánh giá về tình hình thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu
của Việt Nam trong thời gian 03 năm thực thi cam kết WTO:
Thứ nhất, hàng hóa nhập khẩu vào thị trường Việt Nam tăng mạnh, hàng hóa xuất khẩu
còn hạn chế do doanh nghiệp Việt Nam chưa tập trung vào sản xuất các mặt hàng có lợi thế
cạnh tranh và phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế.
Thứ hai, công tác hành chính còn nhiều thủ tục rườm rà chưa tạo môi trường thuận lợi
và thông thoáng.
Thứ ba, số lượng và chất lượng nguồn cán bộ quản lý chưa đáp ứng về nghiệp vụ, ngoại
ngữ, pháp luật và có năng lực đàm phán quốc tế.

12
Thứ tư, môi trường chính sách luôn thay đổi cũng đã gây ra không ít khó khăn cho
doanh nghiệp trong công tác xuất nhập khẩu hàng hóa.
2.1.2. Đánh giá thực trạng hệ thống pháp luật thuế xuất nhập khẩu trong điều kiện
Việt Nam thực thi cam kết WTO
2.1.2.1. Nội dung quy định pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trong điều
kiện Việt Nam thực thi cam kết WTO

Theo Nghị định số 12/2006/NĐ-CP, hiện nay có bốn nhóm hàng hóa thuộc diện quản lý
theo hạn ngạch thuế quan, bao gồm muối, thuốc lá nguyên liệu, trứng gia cầm và đường tinh
luyện. Khi đàm phán gia nhập WTO, mặc dù có nhiều quan ngại của các nước thành viên về
việc áp dụng hạn ngạch của Việt Nam (đặc biệt sản phẩm muối). Tuy nhiên, trước việc giải
thích về các cơ sở pháp luật hiện hành của Việt Nam cũng như thực tế việc quản lý hạn ngạch
của các sản phẩm này, Việt Nam đã được chấp nhận cho phép áp dụng hạn ngạch đối với bốn
loại sản phẩm đó.
* Phí và lệ phí liên quan nhập khẩu
Việt Nam cam kết rằng các loại phí và lệ phí liên quan nhập khẩu sẽ được rà soát để
điều chỉnh cho phù hợp với quy định của WTO. Việt Nam cam kết các khoản phí đặc biệt cao
hơn đối với một số mặt hàng nhập khẩu sẽ được bãi bỏ từ thời điểm gia nhập. Thông tin liên
quan đến việc áp dụng và mức phí, số thu từ phí và việc áp dụng các loại thuế đó sẽ được
cung cấp cho các thành viên WTO.
* Trị giá hải quan
Về tỷ giá tính thuế, Nghị định 149 quy định đối với các đồng ngoại tệ chưa được công
bố tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng thì xác định theo nguyên
tắc tỷ giá tính chéo giữa tỷ giá đồng USD với đồng Việt Nam và tỷ giá giữa đồng USD với
các ngoại tệ đó.
Tuy nhiên, hiện nay, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá tính chéo giữa đồng Việt Nam
với 23 ngoại tệ trên website của Ngân hàng Nhà nước theo định kỳ 10 ngày/lần.
Vì vậy, Bộ Tài chính đang dự thảo Nghị định bổ sung, sửa đổi Nghị định số
149/2005/NĐ-CP ngày 8/12/2005: Đối với các đồng ngoại tệ chưa được Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam công bố tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng thì xác
định theo tỷ giá tính chéo giữa đồng Việt Nam với một số ngoại tệ áp dụng tính thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm tính thuế. Còn
đối với các đồng ngoại tệ chưa được công bố tỷ giá tính chéo thì vẫn xác định theo nguyên tắc
tỷ giá tính chéo giữa tỷ giá đồng đô la Mỹ (USD) với đồng Việt Nam và tỷ giá giữa đồng đô
la Mỹ với các ngoại tệ đó do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm tính thuế.
* Miễn, giảm thuế nhập khẩu
Bộ Tài chính đang chủ trì dự thảo Nghị định mới trên tinh thần thu hẹp chính sách miễn,

Việc đồng bộ hóa các quy định pháp luật cũng như việc ban hành các văn bản pháp luật
sau khi Việt Nam gia nhập WTO phải phù hợp, đáp ứng các điều kiện:
- Khuyến khích phát triển sản xuất và xuất khẩu, bảo hộ hợp lý các ngành sản xuất trong
nước phù hợp với tiến trình thực thi cam kết WTO;
- Cụ thể hóa cam kết về thuế xuất nhập khẩu của WTO phù hợp với tiến trình Việt Nam
cam kết theo hướng ổn định, công khai, minh bạch, không phân biệt đối xử và phù hợp với

15
tiến trình cải cách đồng bộ hệ thống chính sách thuế.
2.1.2.2. Đánh giá các quy định pháp luật về thuế xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam
trong điều kiện thực thi cam kết WTO
 Quy định pháp luật về khung thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Một trong những thay đổi đầu tiên quan trọng của việc sửa đổi pháp luật là việc ngày 28
tháng 09 năm 2007 ủy ban thường vụ Quốc hội đã thông qua Biểu khung thuế xuất khẩu, Biểu
khung thuế nhập khẩu ưu đãi, có hiệu lực từ ngày 1/1/2008 (theo Nghị quyết 295/2007/NQ-
UBTVQH12 của ủy ban thường vụ Quốc hội) để thay thế Biểu khung thuế cũ (Nghị quyết
977/2005).
Việc ban hành khung thuế xuất nhập khẩu mới này nhằm mục đích:
* Hạ các mức thuế suất trần và sàn của khung thuế vì hầu hết các mức thuế của nhiều mặt
hàng trong Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi theo cam kết đều thấp hơn mức trần của khung và một
số mặt hàng có mức thuế suất cam kết thấp hơn mức sàn của khung.
* Thực hiện Danh mục Biểu thuế chung ASEAN mới (AHTN 2007) vì từ năm 2008 Việt
Nam phải thực hiện theo Danh mục này.
Để thực hiện cam kết WTO, Việt Nam đã ban hành Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi với
10.680 dòng thuế chi tiết trên cơ sở Biểu khung thuế nhập khẩu gồm 1.221 nhóm mặt hàng.
Biểu khung thuế mới này giữ nguyên mức sàn khung của 1.019 nhóm hàng và giảm mức thuế
suất trần khung của 1.149 nhóm hàng (chiếm 94%) và giảm mức thuế suất sàn khung của 202
nhóm hàng (chiếm khoảng 16,5%). Đồng thời, khung thuế suất trần của một số nhóm hàng
được điều chỉnh tăng lên so với trước là dầu mỏ (từ 0-8% lên 0-20%); than đá (từ 0-5% lên 0-
20%); quặng kim loại (từ 0-3%; 0-5% và 5-20% lên thành 0-20%) và các mặt hàng được giảm

Nghiên cứu các quy định về Biểu khung thuế xuất nhập khẩu do Uỷ ban Thường vụ
Quốc hội ban hành, chúng ta thấy:
Thứ nhất, Biểu khung thuế xuất nhập khẩu gây ra sự thiếu ổn định trong chính sách
pháp luật, không thể hiện được rõ ràng quan điểm của Việt Nam về cắt giảm thuế quan theo
cam kết WTO, gây ra sự bị động cho các cơ quan quản lý chuyên ngành trong việc ban hành
Biểu thuế xuất nhập khẩu chi tiết cũng như khó khăn cho doanh nghiệp có hoạt động xuất
nhập khẩu.
Thứ hai, Biểu khung thuế không thể hiện được lộ trình cắt giảm thuế quan nhằm thực
thi cam kết WTO, chỉ đưa ra mức thuế suất dao động để cơ quan chuyên ngành tùy vào từng
thời điểm mà ban hành mức thuế suất cụ thể nên mức thuế suất này luôn có sự điều chỉnh
mang tính chất bộc phát nên rất dễ dẫn đến việc Việt Nam vi phạm nghĩa vụ cắt giảm thuế
hàng nhập khẩu.
Ví dụ, mã hàng 0201.10.00 “thịt trâu, bò, tươi hoặc ướp lạnh - thịt nửa con và cả con
không đầu”: thuế suất cam kết tại thời điểm gia nhập là 35%, thuế suất cam kết cắt giảm là
30%, thời hạn thực hiện là năm 2012; tại Biểu khung thuế kèm theo Nghị quyết 295/2007 quy
định là nhóm 0201 “thịt trâu, bò, tươi hoặc ướp lạnh” với khung thuế suất “5-20%” và được
sửa đổi khung thuế suất “5-33%” (Nghị quyết 830/2009).

17
 Quy định pháp luật về thuế suất thuế xuất khẩu, nhập khẩu
Để thực thi cam kết WTO, ngày 20/12/2007, Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số
106/2007/QĐ-BTC kèm theo Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi (căn cứ Nghị
quyết số 295/2007/NQ-UBTVQH12 ngày 28 tháng 09 năm 2007) đã bãi bỏ Quyết định số
39/2006/QĐ-BTC (căn cứ Nghị quyết 977/2005). Biểu thuế xuất khẩu, biểu thuế nhập khẩu
ưu đãi này được sửa đổi khá lớn so với Biểu thuế trước đây:
* Về mặt danh mục: Danh mục biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đã được thay đổi hoàn toàn theo
Danh mục hài hoà và mô tả hàng hoá của ASEAN (AHTN 2007) đến cấp độ 8 chữ số và được
chi tiết đến cấp độ 10 chữ số và tổng số dòng thuế trong Danh mục đã được thu gọn so với
Danh mục trước đây.
* Về mặt thuế suất: Hơn 1.700 dòng thuế đã được cắt giảm mức thuế. Các mức thuế nhập

* Cắt giảm mức thuế, cụ thể là giảm từ 1% đến 6%, trong đó mức giảm chủ yếu là 2% - 3%;
mức thuế trung bình là 10,54% (mức thuế trung bình trước đó là 11,14%). Trong đó, các mức
thuế suất phổ biến là từ 0% đến 30%, chiếm khoảng 91% tổng số dòng thuế.
* Theo biểu thuế mới, có tổng cộng 1.654 dòng thuế phải thực hiện cắt giảm theo cam kết
WTO. Đối với các nhóm hàng có kim ngạch nhập khẩu lớn nhất là xăng dầu, ô tô xe máy, linh
kiện và máy móc trang thiết bị, sắt thép thì các mức thuế dự kiến cho các nhóm này đều là
mức trần WTO (trừ xăng dầu).
+ Biểu thuế xuất khẩu, nhập khẩu ưu đãi mới đã tập hợp các mức thuế suất đã điều
chỉnh sửa đổi, bổ sung từ đầu năm 2008 đến nay nhằm giúp cơ quan quản lý và DN dễ tra
cứu, áp dụng.
+ Biểu thuế mới cũng đã gộp thuế suất của các mặt hàng nhằm đơn giản hóa các mức
thuế suất khi thực hiện cắt giảm theo cam kết vào năm 2010. Theo đó có khoảng 40 mức thuế,
thay vì lẽ ra phải chi tiết đến hơn 130 mức thuế khi cắt giảm theo cam kết (biểu thuế trước có
64 mức thuế suất).
+ Bên cạnh những điểm mới trên, biểu thuế xuất khẩu nhập khẩu mới đã khắc phục một
số bất cập trong thực tế như tránh mức thuế suất chênh lệch quá lớn, khắc phục bất hợp lý về
mức thuế suất giữa nguyên liệu, phụ tùng linh kiện và thành phẩm, xây dựng mức thuế suất
giống nhau đối với các mặt hàng có tính chất tương tự để hạn chế gian lận thương mại.
Tuy nhiên, trước ngày Biểu thuế mới được ban hành kèm theo Thông tư 216/2009 chính
thức có hiệu lực thi hành từ 1/1/2010; ngày 25 tháng 12 năm 2009 Bộ Tài chính đã ban hành
Quyết định 3291/2009/QĐ-BTC đính chính Thông tư 216/2009 nhằm đính chính mô tả và
thuế suất mã số thuộc nhóm 25.01, 30.03, 84.71. Theo đó, mã hàng 2501.00.41.20 và
2501.00.49.20 “muối tinh khiết” được đính chính lại mức thuế suất là 10% (tại Thông tư 216
là 15%); 3003.10.20.00 “chưa ampicilin (INN) hoặc muối của nó ” là 7% và 8471.50.50.00
“bộ xử lý dùng cho máy tính cá nhân (kể cả loại máy tính xách tay” là 3%. Quyết định này
cũng có hiệu lực thi hành từ 1/1/2010 và là một phần không tách rời của Thông tư
216/2009/TT-BTC ngày 12/11/2009 của Bộ Tài chính.
Có thể thấy, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hiện nay chỉ mang tính chất luật
khung, quy định những điểm cơ bản và tổng quát nhất về đối tượng điều chỉnh, hoạt động thu
và nộp thuế còn những vấn đề quan trọng và nhạy cảm nhất như thuế suất, giá tính thuế…lại

sức để sản xuất một loại hàng hóa trong khi hàng hóa đó nếu nhập khẩu sẽ rẻ hơn về kinh phí
và tốt hơn về chất lượng. Vì vậy, trong giai đoạn mới gia nhập WTO này, chúng ta vẫn thấy
pháp luật thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam chưa có một chiến lược định hướng rõ ràng cho
việc thực thi cam kết WTO vì trong nhận thức của nhà làm luật và nhà quản lý vẫn còn sự
mâu thuẫn và phân vân về thuế suất nhằm bảo hộ nền kinh tế trong nước và “mở cửa” để gia
nhập vào nền kinh tế thế giới.
Thứ hai, yêu cầu và cam kết trong hội nhập kinh tế quốc tế (WTO) và khu vực

20
(ASEAN, AFTA, APEC) đã và đang đòi hỏi Việt Nam phải xây dựng và sửa đổi, bổ sung hệ
thống văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, chính việc vừa thực hiện yêu cầu cắt giảm thuế
quan theo WTO, vừa thực hiện cắt giảm thuế theo các Hiệp định song phương và khu vực dẫn
đến việc song song tồn tại nhiều Biểu thuế và mức thuế suất đối với cùng một loại hàng hóa
(thuế suất khác nhau phụ thuộc vào nguồn gốc hàng hóa từ nước, khu vực nào) làm cho hệ
thống pháp luật thuế của Việt Nam phức tạp, khó theo dõi cũng như gặp khó khăn trong việc
phân loại và quản lý thuế suất xuất khẩu, nhập khẩu.
Thứ ba, năng lực sản xuất trong nước còn thấp kém cũng là một yếu tố được tính toán,
cân nhắc trong việc xây dựng pháp luật đối với hoạt động xuất nhập khẩu. Do đó, trong khi
năng lực sản xuất của các doanh nghiệp trong nước chưa đủ sức cạnh tranh với hàng hóa nhập
khẩu thì quốc gia sẽ áp dụng, trong phạm vi tối đa có thể, các biện pháp nhằm bảo hộ nền sản
xuất trong nước mà vẫn không vi phạm cam kết của WTO. Tuy nhiên, trong quá trình cắt
giảm thuế quan để thực thi cam kết WTO thời gian qua, các nhà hoạch định chính sách của
Việt Nam chưa thực sự đứng từ góc nhìn có lợi cho doanh nghiệp trong nước: chưa có một lộ
trình cắt giảm thuế cụ thể mà thường là tùy theo quyết định của cơ quan hoạch định chính
sách hoặc xây dựng lộ trình giảm thuế nhập khẩu từ từ đủ để doanh nghiệp trong nước có thể
làm quen với sự xâm nhập của hàng hóa nước ngoài vào thị trường Việt Nam.
Thứ tư, yêu cầu của quá trình chuyên môn hóa và phân công sản xuất quốc tế. Trong
quá trình hội nhập kinh tế thế giới, mỗi quốc gia phải xác định được lợi thế so sánh của quốc
gia mình (đặt biệt là lợi thế từ điều kiện tự nhiên như: khí hậu, đất đai, thủy văn ) để xác
định phương thức tiếp cận và xây dựng vị trí của quốc gia mình trong nền kinh tế thế giới.Do

hóa thương mại.
Thứ ba, việc hoàn thiện pháp luật thuế xuất nhập khẩu phải đảm bảo xác định số thu
ngân sách nhà nước giảm tương đối sát thực tế, và thực hiện theo đúng tiến trình giảm thuế
theo cam kết, đồng thời tạo ra sự thay đổi cơ cấu nguồn thu từ thuế hợp lý vì trong điều kiện
hội nhập kinh tế quốc tế, xu hướng giảm dần thuế nhập khẩu sẽ gây ảnh hưởng đến nguồn thu
ngân sách nhà nước.
Thứ tư, hoàn thiện pháp luật thuế nhập khẩu phải hướng tới một hệ thống pháp luật
thống nhất, đồng bộ, có tính ổn định cao, minh bạch, thúc đẩy cạnh tranh bình đẳng giữa các
thành phần kinh tế trong nước và quốc tế.
2.2.2. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về thuế xuất nhập khẩu ở
Việt Nam trong điều kiện thực thi cam kết WTO
Trên thực tế, Việt Nam mới gia nhập vào tổ chức thương mại thế giới (WTO) được 03
năm và đang ở giai đoạn đầu tiên trong tiến trình hội nhập nền kinh tế thế giới và do đó còn
nhiều vấn đề phải quan tâm để các quy định về thuế xuất khẩu, nhập khẩu vừa áp dụng hiệu
quả trên thực tế vừa đảm bảo sự tuân thủ đầy đủ của Việt Nam trong quá trình thực thi cam
kết WTO. Tuy nhiên, để thực thi các yêu cầu từ cam kết quốc tế (WTO) một cách đầy đủ, hợp
thức cũng như sức ép từ chính sách cải cách kinh tế, Việt Nam cần định ra các phương hướng
chiến lược và các giải pháp sách lược để hoàn thiện pháp luật thương mại nói chung và pháp
luật đối với thuế xuất khẩu, nhập khẩu nói riêng.

22
2.2.2.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu của Việt
Nam trong điều kiện thực thi cam kết WTO
 Hoàn thiện pháp luật dựa trên cơ sở thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng
về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu
Quan điểm chỉ đạo của Đảng về hội nhập và pháp luật đã được nêu ra trong Nghị quyết
số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị “Từ nay đến năm 2010 và các năm tiếp theo,
tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tập
trung vào một số lĩnh vực pháp luật kinh tế trọng điểm, đáp ứng kịp thời yêu cầu công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế”.

lực, bãi bỏ các văn bản còn mâu thuẫn, chồng chéo; xây dựng mới các văn bản quy phạm
pháp luật điều chỉnh thuế xuất nhập khẩu;
- Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật để nội luật hóa các điều ước quốc tế, thực hiện
cam kết quốc tế của Việt Nam về thuế suất nhập khẩu, biểu thuế xuất nhập khẩu theo lộ trình
cam kết WTO.
- Cần tăng cường thông tin về chính sách cắt giảm thuế quan theo lộ trình thực hiện cam
kết WTO; ban hành các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ trong các lĩnh vực xác định giá trị hải
quan theo các nguyên tắc của Hiệp định GATT.
Thứ hai, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý điều hành công tác thuế xuất
khẩu, nhập khẩu.
Cụ thể là:
- Tăng cường đào tạo, nâng cao trình độ quản lý nhà nước, trình độ chuyên môn bằng
cách: cập nhật kiến thức pháp luật, hiểu đúng và đầy đủ hệ thống các văn bản quy phạm có
liên quan, nắm vững các thông lệ thương mại quốc tế đặc biệt là cam kết của Việt Nam về
thuế xuất nhập khẩu;
- Chú trọng khâu tuyển dụng đối với đội ngũ cán bộ hoạt động trong lĩnh vực quản lý,
điều hành thuế xuất khẩu, nhập khẩu nhằm mục đích thu hút được những cán bộ có trình độ
chuyên môn, có năng lực, có phẩm chất đạo đức tốt;
- Tập trung đầu tư hệ thống trang thiết bị, phương tiện làm việc đáp ứng được với nhu
cầu giải quyết công việc, đảm bảo việc cập nhật thông tin, kiến thức, tin học hóa công tác
quản lý nhà nước
Thứ ba, hoàn thiện hệ thống cơ quan nhà nước tham gia quản lý, điều hành hoạt
động xuất khẩu, nhập khẩu.
Cụ thể là:
- Giảm thiểu những biện pháp quản lý mang tính chất hành chính;
- Tổ chức kênh đối thoại về xây dựng thể chế giữa các Bộ quản lý chuyên ngành, các
doanh nghiệp để ban hành các văn bản pháp luật phù hợp nhằm tháo gỡ vướng mắc cho doanh

24
nghiệp;

loạt các quy định liên quan về : Quyền kinh doanh (quyền xuất nhập khẩu); Quy định về nhập
khẩu; Thuế hải quan; Các loại thuế và phí khác; Hạn ngạch thuế quan, miễn giảm thuế; Việc

25
áp dụng thuế nội địa; Hạn chế định lượng nhập khẩu: cấm, hệ thống giấy phép nhập khẩu và
hạn ngạch; Xác định Trị giá hải quan; Những quy định về xuất xứ; Các thủ tục hải quan khác;
Chống bán phá giá, thuế đối kháng, các biện pháp tự vệ; Thuế quan, phí và lệ phí dịch vụ, áp
dụng thuế nội địa đối với hàng xuất khẩu; Hạn chế xuất khẩu; Chính sách trong nước ảnh
hưởng tới xuất nhập khẩu hàng hóa;
Do vậy, còn nhiều vấn đề trên phương diện lý luận và thực tiễn cần được tiếp tục
nghiên cứu nhằm hoàn thiện hơn khung pháp luật điều chỉnh hoạt động xuất nhập khẩu, đảm
bảo quyền lợi và cơ hội xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam và xây dựng cơ sở pháp luật
vững chắc và tiếp cận dần đến các quy định chung của WTO. Từ góc độ tiếp cận đó, bản luận
văn này đã cố gắng phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về thuế xuất
nhập khẩu nhằm mục đích phân tích bản chất và đặc điểm của thuế xuất nhập khẩu, đánh giá
thực trạng pháp luật về thuế xuất nhập khẩu, nhận diện và phân tích một số vấn đề liên quan
và đưa ra một số quan điểm nhằm hoàn thiện pháp luật về thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam.
Thiết nghĩ, đây là một nhiệm vụ cần huy động được tâm huyết của các nhà hoạch định chính
sách, các nhà khoa học, các nhà hoạt động thực tiễn trong các lĩnh vực liên quan và cần mang
tính chiến lược tổng thể, một mặt phải giải quyết được những nhiệm vụ trước mắt, đồng thời
bao quát những giải pháp lâu dài. Tác giả của luận văn hy vọng rằng những nghiên cứu nêu ra
tại luận văn này sẽ có thể góp vào quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thuế xuất
nhập khẩu của Việt Nam trong thời gian tới.

References
1. Tài liệu tham khảo tiếng Việt
1. Bỏo cỏo một năm thực hiện Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, Bộ Tài chớnh, Vụ
Chớnh sỏch thuế, Hà Nội 2006
2. Bỏo cỏo Hoạt động thương mại năm 2005 và phương hướng cụng tỏc năm 2006, Bộ
Thương mại (nay là Bộ Cụng Thương), Hội nghị Thương mại toàn quốc, thỏng 3/2006


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status