Tổ chức và hoạt động thanh tra nhà nước tỉnh
Sơn La
Vũ Việt Hà
Khoa Luật
Luận văn ThS ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật; Mã số: 60 38 01
Người hướng dẫn: GS.TS Phạm Hồng Thái
Năm bảo vệ: 2012 Abstract: Nghiên cứu và phân tích kỹ hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quy
định về tổ chức và hoạt động của thanh tra nhà nước cấp tỉnh. Nghiên cứu và phân tích
thực trạng về tổ chức và hoạt động thanh tra nhà nước tỉnh Sơn La, đưa ra nhận xét về
những ưu điểm và hạn chế, những bất cập so với quy định hiện hành. Đưa ra quan điểm
và giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động thanh tra nhà nước tỉnh Sơn La
Keywords: Pháp luật Việt Nam; Thanh tra; Sơn La Content
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Công tác thanh tra là một trong những nội dung cơ bản của hoạt động quản lý hành chính
nhà nước, là một chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước. Thanh tra chỉ xuất hiện khi có nhà
nước và ở đâu có quản lý nhà nước thì ở đó có thanh tra. Thực hiện có hiệu lực và hiệu quả công
tác thanh tra sẽ góp phần quan trọng vào việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý hành chính
nhà nước; bảo đảm trật tự, kỷ cương; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ
chức trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước.
Tổ chức và hoạt động thanh tra Việt Nam ra đời và hoạt động từ rất sớm. Ngay sau khi
thành lập Nhà nước Việt Nam độc lập và dân chủ, ngày 23/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Thứ nhất, về các đề tài nghiên cứu khoa học
- “Đổi mới hệ thống tổ chức và hoạt động của ngành Thanh tra trong cơ chế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa – Luận cứ khoa học phục vụ sửa đổi Luật thanh tra và hoàn thiện
pháp luật về thanh tra” đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, năm 2007 do đồng chí Trần Văn
Truyền – Tổng Thanh tra Chính phủ, làm Chủ nhiệm;
- “Cơ sở xác định trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp trong công tác
thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng” đề tài nghiên cứu khoa học
cấp Bộ, năm 2010 do đồng chí Nguyễn Tuấn Khanh - Trưởng phòng nghiên cứu và đào tạo, Viện
khoa học Thanh tra làm chủ nhiệm.
- “Một số giải pháp nhằm hạn chế trùng lắp, chồng chéo trong hoạt động thanh tra” đề
tài khoa học cấp cơ sở, do đồng chí Lê Đức Trung, Phó trưởng phòng Quản lý Khoa học, Viện
Khoa học Thanh tra làm chủ nhiệm.
Thứ hai, sách chuyên khảo
“Kỷ yếu khoa học thanh tra” từ tập 1 đến tập 8 của Viện Khoa học thanh tra phát hành
năm 2003; cuốn “Cơ chế giám sát, kiểm toán và thanh tra ở Việt Nam” do Viện Khoa học thanh
tra phối hợp với Nhà xuất bản Tư pháp phát hành năm 2004;
Thứ ba, các bài nghiên cứu đăng trên Báo, Tạp chí
- Trịnh Xuân Thiện: “Suy nghĩ về các nguyên tắc hoạt động thanh tra”, Tạp chí Thanh
tra, số 03/2005;
- Nguyễn Ngọc Tản: “Về công tác xây dựng thể chế của ngành Thanh tra”, Tạp chí
Thanh tra, số 01/2007;
- Nguyễn Thành Vinh: “Những bất cập trong các quy định của pháp luật về thanh tra”,
Tạp chí Thanh tra, số 11/2007;
Thứ tư, về các đề tài luận án, luận văn đã bảo vệ
Luận án tiến sỹ “Tổ chức và hoạt động của các tổ chức Thanh tra ở nước ta trong giai
đoạn hiện nay – thực trạng và giải pháp„ của nghiên cứu sinh Trịnh Xuân Thiện.
Luận văn thạc sỹ “Nâng cao hiệu quả hoạt động của thanh tra chuyên ngành” của học
viên Nguyễn Thị Kim Ngọc; “Vai trò của thanh tra Nhà nước trong quản lý việc thực hiện dự án
ở nước ta hiện nay” của học viên Nguyễn Thanh Hải; “Đổi mới tổ chức và hoạt động của thanh
cho việc kiện toàn và nâng cao tổ chức và hoạt động thanh tra nhà nước cấp tỉnh dựa trên sự
nghiên cứu và phân tích thực trạng về tổ chức và hoạt động thanh tra nhà nước tỉnh Sơn La.
Phát hiện những vấn đề khó khăn, vướng mắc, chồng chéo của hoạt động thanh tra nhà
nước cấp tỉnh, từ đó đề ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả công tác thanh tra.
Kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định pháp luật về thanh tra nhằm phù hợp với yêu
cầu thực tiễn, hình thành một mô hình thanh tra nhà nước cấp tỉnh đảm bảo về các mặt: Hoàn
thiện về bộ máy, hoạt động có hiệu quả, đảm bảo tốt về nguồn nhân lực và có thể nhân rộng sang
các tỉnh thành khác của cả nước.
7. Kết cấu đề tài
Gồm phần mở đầu, 3 chương, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC
VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN THANH TRA NHÀ NƢỚC
1.1. Quan niệm về thanh tra
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm
1.1.1.1. Khái niệm
Khoản 1 Điều 3 Luật Thanh tra 2010 quy định: “Thanh tra Nhà nước là hoạt động xem
xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá
nhân. Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành”
1.1.1.2. Đặc điểm của thanh tra
Thứ nhất, thanh tra luôn gắn với quản lý nhà nước
Với tư cách là một chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước, thanh tra gắn liền với hoạt
động quản lý nhà nước. Lênin đã viết: “Quản lý đồng thời phải có thanh tra, quản lý và thanh
tra là một chứ không phải là hai”. Như vậy, quản lý nhà nước và thanh tra có mối quan hệ mật
thiết với nhau. Trong mối quan hệ này, quản lý nhà nước giữ vai trò chủ đạo, chi phối hoạt động
của thanh tra. Tuy nhiên, xét về mặt cơ cấu, chức năng của quản lý thì thanh tra chỉ là phương
tiện, công cụ để quản lý nhà nước.
Luật thanh tra 2010 vẫn quy định rõ về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thanh tra nhà nước
như sau:
- Thực hiện và giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện quản lý nhà nước về công
tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng;
- Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân
thuộc quyền quản lý của các cơ quan nhà nước cùng cấp.
- Thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố
cáo.
- Thực hiện nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật về phòng,
chống tham nhũng.
1.2. Tổ chức và hoạt động của cơ quan thanh tra nhà nƣớc
1.2.1. Tổ chức của cơ quan thanh tra nhà nước
Theo Luật Thanh tra năm 2010, cơ quan thanh tra nhà nước bao gồm: Thanh tra Chính
phủ; Thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ (gọi chung là Thanh tra bộ); Thanh tra tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương (gọi chung là Thanh tra tỉnh); Thanh tra sở; Thanh tra huyện, quận, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là Thanh tra huyện).
1.2.2. Hoạt động của cơ quan thanh tra nhà nước
Hoạt động thanh tra là cách thức thể hiện vị trí, vai trò và chức năng, nhiệm vụ của các cơ
quan thanh tra nhà nước. Hoạt động thanh tra theo quy định của pháp luật bao gồm: xây dựng
chương trình, kế hoạch thanh tra; quyết định việc thanh tra; tiến hành thanh tra trên thực tế; báo
cáo kết quả thanh tra; kết luận thanh tra và xử lý kết luận thanh tra….
Hoạt động thanh tra được các cơ quan thanh tra nhà nước tiến hành trên cơ sở hoạt động
thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành.
Hoạt động của cơ quan thanh tra nhà nước được thể hiện thông qua chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn của các cơ quan thanh tra theo quy định của pháp luật.
1.2.2.1. Về chức năng
Thanh tra Chính phủ, Thanh tra tỉnh, thanh tra huyện có chức năng quản lý nhà
nước về công tác thanh tra và thực hiện quyền thanh tra trong phạm vi cả nước hoặc trong
phạm vi quản lý của uỷ ban nhân dân cùng cấp.
Thanh tra bộ, Thanh tra sở có chức năng thực hiện quyền thanh tra trong phạm vi quản
sai phạm trong hoạt động của các cơ quan hành chính Nhà nước; phối hợp với các ngành chức
năng tiến hành thanh tra việc thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng; tổng hợp báo cáo
định kỳ, đột xuất kết quả công tác phòng, chống tham nhũng đảm bảo thời gian, nội dung theo
yêu cầu.
1.3. Mối quan hệ giữa tổ chức thanh tra với các cơ quan, tổ chức khác
1.3.1. Quan hệ giữa tổ chức thanh tra với thủ trưởng cơ quan quản lý trực tiếp
1.3.2. Quan hệ giữa các tổ chức thanh tra trong hệ thống thanh tra nhà nước
Chƣơng 2
THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA
THANH TRA NHÀ NƢỚC TỈNH SƠN LA
2.1. Những yếu tố tác động đến tổ chức và hoạt động thanh tra nhà nƣớc tỉnh Sơn
La
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý: Sơn La là một tỉnh miền núi Tây Bắc Việt nam, có diện tích tự nhiên
14.125 km
2
chiếm 4,27% tổng diện tích cả nước, đứng thứ 3 trong số 64 tỉnh thành phố trong cả
nước. Sơn La có 11 đơn vị hành chính (01 thành phố, 10 huyện) với 12 dân tộc.
- Về tài nguyên thiên nhiên: Sơn La là một trong những tỉnh có diện tích rừng và đất có
khả năng phát triển lâm nghiệp khá lớn (chiếm 73% diện tích tự nhiên), đất đai phù hợp với
nhiều loại cây, có điều kiện xây dựng hệ thống rừng phòng hộ và tạo các vùng rừng kinh tế hàng
hoá có giá trị cao.
2.1.2. Về tình hình kinh tế - xã hội
Trong những năm gần đây, bên cạnh những thuận lợi cơ bản, quá trình triển khai thực
hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh còn chịu tác động, ảnh hưởng của nhiều yếu tố
bất lợi như: khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, tình trạng suy giảm kinh tế
trong nước, thiên tai, dịch bệnh Nhưng dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của các cấp ủy
Đảng, chính quyền, sự cố gắng nỗ lực phấn đấu của nhân dân các dân tộc, chiến sỹ các lực lượng
(Phòng nghiệp vụ III):
d. Phòng Thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo khối nội chính văn xã và phụ trách địa
bàn (Phòng nghiệp vụ IV):
đ. Phòng nghiệp vụ, phòng, chống tham nhũng (Phòng nghiệp vụ V):
e. Văn phòng tổng hợp:
2.2.3. Cơ cấu về nhân sự
2.2.3.1. Lãnh đạo Thanh tra tỉnh
Thanh tra tỉnh Sơn La có Chánh Thanh tra và 03 Phó Chánh Thanh tra.
Chánh Thanh tra tỉnh là người đứng đầu cơ quan Thanh tra tỉnh, do Chủ tịch ủy ban nhân
dân cùng cấp bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức sau khi thống nhất với Tổng Thanh tra Chính
phủ.
Các Phó Chánh Thanh tra tỉnh cùng với Chánh Thanh tra chịu trách nhiệm về toàn bộ
công việc và hoạt động của Thanh tra tỉnh, đồng thời chịu trách nhiệm trực tiếp về những công
việc được phân công.
2.2.3.2. Cán bộ, công chức và Thanh tra viên
Biên chế của Thanh tra tỉnh Sơn La tính đến ngày 31/12/2011, tổng số 40 cán bộ, công
chức.
Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ do pháp luật quy định, cán bộ, công chức được phân
bổ vào các phòng như sau:
Văn phòng tổng hợp: 08 cán bộ, công chức.
Phòng nghiệp vụ I: 05 cán bộ, công chức.
Phòng nghiệp vụ II: 06 cán bộ, công chức.
Phòng nghiệp vụ III: 06 cán bộ, công chức.
Phòng nghiệp vụ IV: 07 cán bộ, công chức.
Phòng nghiệp vụ V: 04 cán bộ, công chức.
2.2.4. Nhận xét chung
Qua tìm hiểu về tổ chức thanh tra nhà nước tỉnh Sơn La có thể rút ra một số nhận xét như
sau:
a. Về ưu điểm
Việc sắp xếp, tổ chức bộ máy và nhân sự các phòng của Thanh tra tỉnh hiện nay nhìn
các lĩnh vực: quản lý đầu tư xây dựng; quản lý tài chính ngân sách; thanh tra việc thực hiện
chính sách xã hội; thanh tra lĩnh vực quản lý, sử dụng tài nguyên; thanh tra chuyên đề cổ phần
hoá doanh nghiệp Nhà nước; thực hiện chính sách đền bù giải phóng mặt bằng, chính sách di
dân tái định cư Thuỷ điện Sơn La; thanh tra trách nhiệm thi hành công vụ của Chủ tịch UBND
một số huyện… Qua thanh tra, đã phát hiện, xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan nhà
nước có thẩm quyền xử lý nhiều sai phạm, thu hồi tiền, tài sản cho Nhà nước và tập thể, cá nhân;
đồng thời kiến nghị với cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung nhiều cơ chế, chính sách, pháp luật
nhằm khắc phục những khuyết điểm, sơ hở trong công tác quản lý, góp phần phát triển kinh tế
và tăng cường trật tự, kỷ cương xã hội.
Nhận xét tổng quát:
- Về ưu điểm:
Nhìn chung thanh tra tỉnh đã chủ động nỗ lực, cố gắng, tổ chức triển khai chương trình
công tác thanh tra đã được phê duyệt, thực hiện có kết quả các cuộc thanh tra kinh tế - xã hội,
giải quyết kịp thời nhiều vụ việc đột xuất do cấp trên giao.
Kết quả công tác thanh tra đạt được tương đối toàn diện trên các lĩnh vực, tập trung vào
những lĩnh vực nổi cộm, dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng, lãng phí.
Công tác xử lý sau thanh tra tiếp tục được quan tâm, tạo sự chuyển biến tích cực về nhận
thức của đối tượng được thanh tra trong thực hiện các kết luận thanh tra;
- Về hạn chế:
Thứ nhất, thấy rõ sự phụ thuộc quá lớn của thanh tra nhà nước tỉnh Sơn La vào cơ quan
quản lý nhà nước cùng cấp cả về về tổ chức, nhân sự, kinh phí, trong việc xây dựng chương
trình, kế hoạch thanh tra, trong quá trình tiến hành thanh tra cũng như giai đoạn kết thúc, kết luận
và kiến nghị xử lý.
Thứ hai, thời hạn các cuộc thanh tra thường kéo dài, vi phạm thời gian theo quy định của
pháp luật, không đáp ứng được yêu cầu khẩn trương, kịp thời của công tác quản lý nhà nước.
Thứ ba, việc xây dựng báo cáo kết quả thanh tra và ban hành kết luận thanh tra:
Thứ tư, các Kết luận thanh tra, mặc dù Luật quy định thuộc quyền hạn của người ra quyết
định thanh tra, nhưng trên thực tế vẫn phải chờ xin ý kiến của cấp trên vì thường liên quan đến
trách nhiệm quản lý của các cán bộ chủ chốt.
Thứ năm, thanh tra tỉnh chưa chủ động trong việc tiến hành thanh tra.
giải quyết khiếu nại, quyết định xử lý tố cáo đã có hiệu lực pháp luật, dẫn đến một số quyết định
giải quyết không được thực hiện nghiêm túc.
+ Công tác hoà giải các mâu thuẫn, tranh chấp trong nội bộ nhân dân và giải quyết khiếu
kiện ngay tại cơ sở còn yếu.
- Về trách nhiệm của các tổ chức thanh tra
+ Việc tham mưu giúp Thủ trưởng cùng cấp trong việc tổ chức tiếp công dân và giải
quyết KNTC còn thiếu kịp thời, việc phân loại, xử lý đơn thư còn lúng túng, chưa xác định đúng
thẩm quyền giải quyết.
+ Việc phối hợp với các cơ quan chức năng trong việc tổ chức tuyên truyền giáo dục, phổ
biến, pháp luật về KNTC tới sâu rộng các tầng lớp nhân dân còn chưa thường xuyên.
- Về phía người khiếu nại, tố cáo
+ Nhận thức pháp luật của một bộ phận nhân dân còn hạn chế, sự am hiểu về chế độ
chính sách của Nhà nước chưa đầy đủ,
+ Không ít trường hợp công dân lợi dụng quyền KNTC để khiếu nại, tố cáo sai sự thật,
hoặc KNTC vì mâu thuẫn cá nhân, viết đơn nặc danh, mạo danh người khác, lấy danh nghĩa là
tập thể, không ghi tên và địa chỉ rõ ràng. Vẫn còn tình trạng đơn KNTC có cùng một nội dung, in
sao gửi nhiều nơi, nhiều cấp.
- Về chính sách, pháp luật
+ Chính sách, pháp luật trong một số lĩnh vực chưa đầy đủ.
+ Cơ chế giải quyết khiếu nại hiện nay còn phức tạp, thời hiệu khiếu nại, thời hạn giải
quyết khiếu nại không phù hợp với thực tiễn, không ít quyết định giải quyết khiếu nại thiếu
khách quan.
+ Chính sách, pháp luật về đất đai thường xuyên thay đổi.
+ Cơ chế, chính sách, pháp luật trong lĩnh vực thu hồi, đền bù, giải phóng mặt bằng có
nhiều bất cập, chưa phù hợp với thực tế, chưa đảm bảo được cuộc sống ổn định của người nông
dân có đất bị thu hồi.
* Việc thực hiện các quy định về tổ chức tiếp công dân
2.3.3. Về hoạt động phòng, chống tham nhũng
Hoạt động phòng, chống tham nhũng của cơ quan thanh tra nhà nước tỉnh Sơn La
trong thời gian vừa qua đã đạt được một số thành tựu: Thanh tra tỉnh đã hướng việc xây dựng
Thứ ba, nên quy định tăng thêm thời gian xây dựng báo cáo kết quả thanh tra và thời gian
kết luận thanh tra.
Thứ tư, cần phải tăng cường sự phối hợp giữa cơ quan thanh tra nhà nước với các cơ
quan có có chức năng kiểm tra, giám sát, điều tra khác:
3.2.2. Kiện toàn tổ chức Thanh tra nhà nước tỉnh một cách hợp lý phù hợp với yêu cầu
cải hành chính nhà nước và thực tế ở địa phương
Thứ nhất, gộp 02 Phòng: Phòng Thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo khối ngành kinh tế
tổng hợp và phụ trách địa bàn (Phòng nghiệp vụ II) với Phòng Thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố
cáo khối ngành kinh tế và phụ trách địa bàn (Phòng nghiệp vụ III) và đổi tên thành Phòng Thanh
tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo khối kinh tế và phụ trách địa bàn.
Thứ hai, thành lập thêm Phòng Đôn đốc xử lý sau thanh tra và giải quyết khiếu nại, tốc
cáo
Thứ ba, Thanh tra tỉnh cần phối hợp với Sở Nội vụ xây dựng đề án thành lập Trung tâm
thông tin, tư liệu Thanh tra tỉnh Sơn La.
3.2.3. Đổi mới việc tuyển dụng, sử dụng và phát triển đội ngũ cán bộ, thanh tra viên
vững vàng trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ
Để đáp ứng các yêu cầu của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, Thanh tra viên cần
phải:
Thứ nhất, tăng cường số cán bộ làm công tác thanh tra cả về số lượng và chất lượng.
Thứ hai, thường xuyên có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thanh tra dưới nhiều hình
thức khác nhau.
Thứ ba, tăng cường kiểm tra giám sát cán bộ làm thanh tra và các đoàn thanh tra, xử lý
nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp luật của các cán bộ thanh tra trong quá trình thực thi
công vụ.
3.2.4. Đổi mới hoạt động thanh tra
Tập trung mạnh vào việc thực hiện chức năng giám sát hành chính, thanh tra, kiểm tra
trách nhiệm của Giám đốc Sở, Chủ tịch UBND các huyện trong việc thực hiện pháp luật về
thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng.
Tiến hành thanh tra cần có trọng tâm, trọng điểm, nhanh gọn, chính xác, tập trung vào
những vấn đề nổi cộm, bức xúc được dư luận xã hội quan tâm.
Thứ hai, đổi mới việc tuyển dụng, sử dụng và phát triển đội ngũ cán bộ, thanh tra viên
vững vàng trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ;
Thứ ba, giải pháp về nâng cao hoạt động thanh tra;
Thứ tư, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về thanh tra;
Thứ năm, ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào hoạt động thanh tra;
Việc đổi mới tổ chức và hoạt động thanh tra nhà nước tỉnh Sơn La phải gắn liền với việc
đổi mới tổ chức và hoạt động của toàn ngành thanh tra cũng như phải đặt trong tổng thể quá trình
cải cách hành chính đang được thực hiện tại tỉnh Sơn La trên cơ sở học tập, kế thừa những yếu tố
hợp lý, những kinh nghiệm hay về mô hình tổ chức và hoạt động thanh tra của một số tỉnh trong
cả nước.
References
I. Văn kiện của Đảng (xếp theo thứ tự tên văn bản)
1. Nghị quyết số 48/2005/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây
dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm
2020.
II. Văn bản pháp luật (xếp theo thứ tự tên văn bản)
2. Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam năm 1945
3. Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam năm 1959
4. Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam năm 1980
5. Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam 1992 (sửa đổi, bổ sung 2001)
6. Luật Thanh tra năm 2004
7. Luật Thanh tra năm 2010
8. Luật khiếu nại, tố cáo 1998, sửa đổi, bổ sung 2005
9. Luật phòng, chống tham nhũng 2005
10. Nghị định số 07/2012/NĐ-CP ngày 09 tháng 02 năm 2012 của Chính phủ quy định
về cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành và hoạt động thanh tra
chuyên ngành
11. Nghị định số 97/2011/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2011 của Chính phủ quy định
về thanh tra viên và cộng tác viên thanh tra
25. Nhà xuất bản pháp lý (1986), Thuật ngữ pháp lý phổ thông, Hà Nội.
26. Nhà xuất bản Sự thật (1959), Sửa đổi lề lối làm việc, Hà Nội.
27. Nhà xuất bản Tiến bộ Matxcơva, V.I Lênin (1978), Lênin toàn tập, tập 31, tr.34.
28. Nhà xuất bản chính trị Berlin, V.I Lênin (1971), Lênin toàn tập, tr.25, tr.352.
29. Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật (2011), Giáo trình Thanh tra và giải quyết khiếu
nại hành chính, Khoa Nhà nước và pháp luật - Học viện hành chính.
30. Nhà xuất bản công an nhân dân (2010), Giáo trình Thanh tra và giải quyết khiếu nại,
tố cáo, Trường Đại học luật Hà Nội.
31. Nguyễn Đình Bính - Vụ Pháp chế Thanh tra Chính phủ (2007), “Một số vấn đề hoàn
thiện hệ thống pháp luật về thanh tra”, Tạp chí Thanh tra số, số 01/2007.
32. TS. Phạm Tuấn Khải (1998), "Những vấn đề pháp lý cơ bản của việc đổi mới tổ
chức và hoạt động của Thanh tra nhà nước Việt Nam", Nxb Công an nhân dân 1998.
33. Thanh tra Chính phủ, Viện Khoa học thanh tra (2007), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về
công tác thanh tra”, Thông tin khoa học thanh tra và chống tham nhũng, số 10 tháng
1/2007.
34. Thanh tra Chính phủ, Viện Khoa học thanh tra (2009), “Thực trạng thanh tra kinh tế
- xã hội của Thanh tra Chính phủ trong thời gian qua”, Thông tin khoa học thanh tra
và chống tham nhũng, số 36 tháng 7/2009
35. Thanh tra tỉnh (2006), Báo cáo kết quả công tác thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố
cáo năm 2006;phương hướng, nhiệm vụ năm 2007
36. Thanh tra tỉnh (2007), Báo cáo kết quả công tác thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố
cáo năm 2007;phương hướng, nhiệm vụ năm 2008
37. Thanh tra tỉnh (2008), Báo cáo kết quả công tác thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố
cáo năm 2008;phương hướng, nhiệm vụ năm 2009
38. Thanh tra tỉnh (2009), Báo cáo kết quả công tác thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố
cáo năm 2009;phương hướng, nhiệm vụ năm 2010
39. Thanh tra tỉnh (2010), Báo cáo kết quả công tác thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố
cáo năm 2010; phương hướng, nhiệm vụ năm 2011
40. Thanh tra tỉnh (2011), Báo cáo kết quả công tác thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố
cáo năm 2011; phương hướng, nhiệm vụ năm 2012