Tiểu luận Quản trị học Nhóm 1 – Lớp Cao học Đêm 3 Khóa 16
BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
------------
ĐỀ TÀI:
CHÍNH SÁCH QUẢN TRỊ NHÂN SỰ VÀ HOẠCH ĐỊNH
CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA TẬP ĐỒN
MICROSOFT
GVHD : T.S NGUYỄN THANH HỘI
NHÓM SV THỰC HIỆN : NHÓM 1
LỚP : Đ3K16
MÔN : QUẢN TRỊ HỌC
NĂM 2007
Page 1
Tiểu luận Quản trị học Nhóm 1 – Lớp Cao học Đêm 3 Khóa 16
DANH SÁCH NHÓMDANH SÁCH CAO HỌC LỚP ĐÊM 3 KHÓA 16
STT Họ và Tên
Ghi chú
NHÓM 1
1 Trần Thị Trúc Giang
2 Lê Lai
3 Đào Thị Mỹ Linh
trí tuệ, văn hóa tinh thần cao cho nhân loại.
Ngày nay trên thế giới hàng triệu người, trong đó có chúng ta, đang sống, làm việc và làm
bạn với những sản phẩm của Microsoft, ngưỡng mộ Bill Gates và những con người đã sáng tạo
ra chúng. Một cách tự nhiên chúng ta tự hỏi: Đâu là những bí quyết thành công của Microsoft và
Bill Gates?
Trước sự thành công không thể nào phủ nhận được của Microsoft thì việc nghiên cứu để
tìm ra những nguyên nhân dẫn đến thành công trên rất có ý nghĩa đối với các nhà quản trị, nhất
là các nhà quản trị Việt Nam, khi chúng ta đang chuẩn bị bước vào quá trình hội nhập toàn cầu
hóa với nền kinh tế thế giới, đang đứng trước khả năng cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị
trường năng động và khốc liệt này.
Mặc dù có rất nhiều quan điểm cũng như cách nhìn nhận về các nguyên nhân dẫn đến
thành công của Microsoft nhưng do khả năng và thời gian hạn chế nên trong đề tài này chúng tôi
chỉ xin đề cập đến một số vấn đề chủ yếu xoay quanh hai nội dung: chính sách quản trị nhân sự
và hoạch định chiến lược. Sau đây là một số vấn đề liên quan đến các nội dung trên.
Page 3
Tiểu luận Quản trị học Nhóm 1 – Lớp Cao học Đêm 3 Khóa 16
PHẦN I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ
QUẢN TRỊ NHÂN SỰ VÀ MARKETING
I. Đánh giá nguồn lực
Sự cam kết của đội ngũ nhân viên.
Một nhiệm vụ lớn đối với ban lãnh đạo là làm thế nào để mọi nhân viên hiểu rằng cách tốt
nhất đạt được các mục tiêu cá nhân là giúp doanh nghiệp hòan thành mục tiêu đề ra. Nhiệm vụ
này có thể đòi hỏi các nhà quản trị phải sử dụng nhiều phương cách và công cụ từ các lĩnh vực
có tính nguyên tắc như thay đổi cách quản trị lãnh đạo và động cơ khuyến khích.
Tinh thần thực hiện.
Tinh thần hăng hái thực hiện phổ biến khắp nọi nơi cũng là một điều quýí giá, vì nó có
nghĩa rằng mọi người có chí hướng tiến lên phía trước. Một điều lí tưởng là mọi cá nhân đều
hăng hái phấn đấu vì thành tích cá nhân cũng như thành tích của tổ chức. Thái độ như vậy làm
nảy nở tinh thần sẵn sàng hậu thuẫn và phấn đấu vì các mục tiêu của tổ chức và chấp nhận, thậm
chí có sáng kiến đề ra những thay đổi thích hợp, người công nhân có y muốn làm việc tốt hơn
những gì khách hàng có nhu cầu và nhà sản xuất cho là một sản phẩm tốt. Cái mà khách hàng
cho là dịch vụ tốt là điều quan trọng nhất chứ không phải cái mà nhà sản xuất tin rằng đó mới là
dịch vụ tốt. Việc xác định các khách hàng mục tiêu và dựa vào đó để tập trung các nỗ lực
marketing đã thiết lập quyết định: làm như thế nào để thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của
nhóm khách hàng đặc biệt, là mục đích của định vị sản phẩm.
Một chiến lược định vị sản phẩm hữu hiệu thỏa mãn 2 tiêu chuẩn: (1) nó phân biệt doanh
nghiệp với các đối thủ cạnh tranh, và (2) nó khiến cho khách hàng mong đợi một lượng dịch vụ
hơi ít hơn lượng mà công ty có thể cung cấp. Các công ty không nên tạo ra sự mong đợi lớn hơn
lượng dịch vụ công ty có thể hay sẽ cung cấp. Điều này luôn là một thách thức đối với các nhà
tiếp thị. Các công ty cần thông báo cho khách hàng cái mà họ mong đợi và sau đó thực hiện tốt
hơn lời hứa; hứa ít và sau đó làm nhiều.
Page 5
Tiểu luận Quản trị học Nhóm 1 – Lớp Cao học Đêm 3 Khóa 16
PHẦN II: LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA MICROSOFT
I. Bước đầu thành lập.
Microsoft là một tập đoàn phần mềm lớn nhất thế giới, được thành lập năm 1975 bởi
Willam H.Gates, III và Paul Allen, hai người bạn từ thời niên thiếu cùng có chung niềm đam mê
đối với lập trình máy tính. Ngày 01-01-1975, sau khi đọc tờ tạp chí Điện tử phổ thông đăng tin
về việc sản xuất máy tính Altair 8800, Bill Gates – đang là sinh viên năm thứ hai của trường
Harvard – đã gọi cho nhà sản xuất MIST (Micro Instrumentation and telemetry Systems) đề xuất
viết ngôn ngữ lập trình cho máy này.
Gates chẳng có một trình thông dịch cũng như một hệ thống Altair nào. Ông và Paul đã
phải tranh thủ làm việc 8 tuần trên máy tính của trường để hoàn thành bản demo của BASIC –
ngôn ngữ lập trình đầu tiên được viết cho máy tính cá nhân. Kết quả là bản demo đã chạy tốt và
được MIST chấp nhận. Sau đó, Paul Allen gia nhập MIST, trở thành giám đốc phần mềm; còn
Bill nhận ra giá trị to lớn của ngành phát triển phần mềm từ thành công ban đầu đó, anh hiểu
rằng thời cơ của mình đã đến.
Bill quyết định bỏ học và ngày 04-04-1975, Micro-soft (tên viết tắt của Microcomputer
software - Phần mềm cho máy tính cá nhân) ra đời tại Albuquerque, New Mexico. Không ít bạn
ty nhưng vẫn có chân trong ban giám đốc tới năm 2000 và tiếp tục là cổ đông chính của
Microsoft.
2. Phần mềm ứng dụng
Cùng với sự thành công của MS – DOS, Microsoft bắt đầu phát triển các phần mềm ứng
dụng cho máy tính cá nhân. Năm 1982, họ cho ra đời Multiplan, một chương trình bảng tính,
năm tiếp theo là chương trình xử lý văn bản, Microsoft Word. Năm 1984, Microsoft là một trong
số ít các công ty phần mềm phát triển các ứng dụng cho máy Macintosh – máy tính cá nhân do
Apple Computer sản xuất. Những phần mềm này bao gồm Word, Excel và Work (Một bộ phần
mềm tích hợp) đã đạt được thành công to lớn.
3. Windows
Năm 1985, Microsoft cho ra đời sản phẩm Windows, một hệ điều hành sử dụng giao diện
đồ họa người dùng với những tính năng mở rộng của MS – DOS trong nỗ lực cạnh tranh với
Apple Computer. Windows khởi đầu được phát triển cho những máy tính tương thích với IBM
(dựa vào kiến trúc x86 của Intel), và ngày nay hầu hết mọi phiên bản của Windows đều được tạo
Page 7
Tiểu luận Quản trị học Nhóm 1 – Lớp Cao học Đêm 3 Khóa 16
ra cho kiến trúc này (tuy nhiên Windows NT đã được viết như là một hệ thống xuyên cấu trúc
cho bộ xử lý Intel và MIPS, và sau này đã xuất hiện trên các cấu trúc PowerPC và DEC Alpha.
Sự phổ biến của Windows đã khiến bộ xử lý của Intel trở nên phổ biến hơn và ngược lại.
Năm 1987, Windows 2.0 ra đời với cách làm việc được cải tiến và hình thức mới hơn. Năm
1990 là phiên bản Windows 3.0 mạnh hơn, rồi kế đó là Windows 3.1 và 3.11. Những phiên bản
này được cài sẵn trong hầu hết các máy tính cá nhân nên đã nhanh chóng trở thành hệ điều hành
được sử dụng phổ biến nhất. Trong năm này, Microsoft đã trở thành hãng sản xuất phần mềm
máy tính đầu tiên đạt kỷ lục 1 tỷ đô la doanh thu hàng năm.
Năm 1993, Microsoft tung ra sản phẩm Windows NT, một hệ điều hành cho môi trường
kinh doanh. Một năm sau đó họ đạt được thõa thuận với bộ tư pháp trong việc thay đổi cách các
hệ điều hành được đăng ký và bán cho các nhà sản xuất máy tính.
Năm 1995, Windows 95 đã được ra mắt với một giao diện hoàn toàn mới với nút và menu
Start, cho người dùng truy nhập các chương trình đã cài đặt và nhiều chức năng khác của hệ điều
hành. Hàng triệu bản copy của Windows 95 đã được bán hết chỉ trong bốn ngày đầu. Vào tháng
bản mới của Microsoft Network, kết nối không dây cho Internet. Năm 2003, công ty bắt đầu chú
trọng vào “máy tính đáng tin cậy” đòi hỏi các lập trình viên phải cải thiện khả năng bảo vệ của
phần mềm trước sự tấn công của virus và các phần mềm gián điệp. Gần đây nhất là hệ điều hành
Windows Vista đã được khá nhiều người chấp nhận với tốc độ nhanh gấp hai lần so với
Windows XP, cụ thể chỉ trong tháng đầu tiên phát hành đã bán được 20 triệu bản.
Sự thành công của Microsoft còn được thể hiện qua sự gia tăng liên tục gấp nhiều lần qua
các năm của giá cổ phiếu và các chỉ tiêu tài chính của công ty như tổng doanh thu và thu nhập
ròng.
Một số chỉ tiêu tài chính của Microsoft trong ba năm gần đây.
Chỉ tiêu 30 – 06 – 2004 30 – 06 – 2005 30 – 06 – 2006
Tổng doanh thu 36,835,000 39,788,000 44,282,000
Thu nhập ròng 8,168,000 12,254,000 12,599,000
Từ những thành công trên, người ta thấy được đằng sau nó là hình bóng của một phong
cách quản trị riêng rất Bill Gates, thể hiện ở nhiều mặt. Sau đây là một số nghệ thuật quản trị của
Microsoft trong lĩnh vực nhân sự và chiến lược.
Page 9
Tiểu luận Quản trị học Nhóm 1 – Lớp Cao học Đêm 3 Khóa 16
PHẦN III: QUẢN TRỊ NHÂN SỰ
Quản trị nhân sự là một lãnh vực phức tạp và khó khăn, nó bao gồm nhiều vấn đề như tâm
lý, sinh lý, xã hội, triết học, đạo đức và thậm chí cả dân tọc học. Nó là một khoa học nghệ thuật -
nghệ thuật quản trị con người. Đối với Mricosoft quản trị nhân sự là nhân tố quan trọng đưa đến
thành công của công ty. Chính sách quản trị nhân sự chủ yếu nằm trong chính sách tuyển dụng,
kiến tạo môi trường làm việc và chính sách đãi ngộ.
I. Chính sách tuyển dụng
Cũng như một đoàn quân khi ra trận, yếu tố thành bại ở đây là nhân tố con người với trí
thông minh và lòng quả cảm của họ. Chính sách tuyển dụng người tài bao giờ cũng được đặt lên
hàng đầu tại Microsoft.
Microsoft cố gắng thuê được những người thông minh, hay còn có thể gọi là khôn ngoan
cũng được, tùy theo cách hiểu của mỗi người về hai từ này. Tiêu chuẩn được nói một cách ước
lệ ở đây là: những người nằm trong số 5% thông minh nhất hành tinh trong lĩnh vực chuyên môn
đánh giá một cách tổng hợp, các ứng cử viên phải qua một đợt phỏng vấn. Một nhóm 4-5 người
của bộ phận nhân sự sẽ tiến hành phỏng vấn đối với những người dự tuyển. Mỗi người phỏng
vấn một giờ và từng người phỏng vấn lần lượt. Tất nhiên câu hỏi rất khó, có thể làm nản lòng
những người tự tin nhất. Song các giám khảo không cho câu trả lời đúng hay sai là quan trọng.
Cái họ quan tâm là năng lực tư duy để xác định cách ứng xử thông minh và nhanh nhạy của mỗi
ứng cử viên trước mỗi tình huống khó cần giải quyết. Đối với cuộc phỏng vấn kỹ thuật có những
câu hỏi về lập trình, câu hỏi nọ nối tiếp câu hỏi kia, trong lúc đó các ứng cử viên này phải viết ra
một chương trình ngắn để trả lời. Đối với vị trí của người quản lý phần mềm thì thí sinh này
được trao cho các tình huống và cách họ sẽ giải quyết các tình huống đó như thế nào. Nếu những
câu trả lời chung chung thì ứng cử viên sẽ được đẩy vào các tình huống đặc biệt và chứng tỏ ứng
cử viên không biết rõ chủ đề. Mỗi người phỏng vấn ngay khi cuộc phỏng vấn kết thúc đều phải
gửi e-mail cho tất cả những người phỏng vấn khác với chỉ một từ “thuê” hay “không thuê”.
Microsoft tuyển dụng nhân viên, đánh giá con người không dựa vào bằng cấp của họ bằng
chứng là họ tuyển cả người còn chưa tốt nghiệp được trung học cũng như ngành tin học. Nhưng
những người này lại được trả lương như những người có bằng cấp. Không có lý do gì trong bất
kỳ một ngành công nghiệp nào mà lại không thuê một người có phẩm chất đơn thuần chỉ vì họ
không có bằng cấp cả, tất cả vấn đề là những người ấy có thể thực hiện công việc tốt đến đâu.
Được nhận vào Microsoft, có thể ai đó đã tự hào là một nhân tài rồi đấy. Nhưng chưa phải
là đã yên vị, còn phải biết cố gắng liên tục để giữ ghế. Cứ 6 tháng một lần, mọi người phải trải
qua các cuộc đánh giá hiệu quả làm việc. Những cuộc đánh giá như vậy sẽ cho thấy một người
có làm tụt hậu công ty không, nếu có chắc kết quả sẽ là gì rồi. Kết quả đánh giá sẽ ảnh hưởng
trực tiếp đến việc thăng tiến nghề nghiệp của bạn, mức lương, số cổ phiếu được phân phối.
Để minh chứng cho việc tuyển dụng này xin giới thiệu về quy trình tuyển dụng của
Microsoft, được biết đến với tên gọi “vở kịch ba màn”. Màn thứ nhất – chỉ đơn thuần là việc
phỏng vấn tuyển lựa sơ bộ qua điện thọai. Người phỏng vấn gọi điện cho ứng viên và nói
Page 11