Trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh thanh hóa - Pdf 10

Trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số trên
địa bàn tỉnh Thanh Hóa Trịnh Thị Thùy Anh Trường Đại học Quốc gia Hà Nội; Khoa Luật
Chuyên ngành: Lí luận và lịch sử nhà nước và pháp luật; Mã số: 60 38 01
Người hướng dẫn: GS.TS. Hoàng Thị Kim Quế
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Tổng quan cơ sở lý luận, xác định khái niệm, nội dung pháp luật về trợ giúp pháp lý.
Đưa ra khái niệm về đối tượng được trợ giúp là đồng bào dân tộc thiểu số. Tìm hiểu vai trò của
việc trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số. Khái quát tình hình kinh tế - xã hội, quốc
phòng - an ninh ảnh hưởng đến hoạt động trợ giúp pháp lý cho đồng bào thiểu số ở tỉnh Thanh
Hóa. Đánh giá thực trạng hoạt động trợ giúp pháp lý cho đồng bào thiểu số. Làm rõ nguyên nhân
của những kết quả và những tồn tại, yếu kém trong hoạt động trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân
tộc thiểu số. Đưa ra các kiến nghị, cũng như các giải pháp nhăm nâng cao hiệu quả trong hoạt
động trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Thanh Hóa.

Keywords: Thanh Hóa; Trợ giúp pháp lý; Pháp luật Việt Nam; Dân tộc thiểu số
Content.

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhà nước ta đang ngày một khẳng định mình
trên con đường xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, đòi hỏi tăng cường
quản lý xã hội bằng pháp luật; theo nguyên tắc Hiến định: "Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật".
Ở nước ta, có rất nhiều đối tượng cần được hưởng các dịch vụ tư vấn pháp luật, song họ ít hoặc

Các công trình trên đã nghiên cứu quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý; trợ giúp pháp lý cho người nghèo
và đối tượng chính sách xã hội ở tầm vĩ mô, tức là ở phạm vi toàn quốc. Trong giai đoạn hiện nay cần phải
chú trọng đúng mức và cấp thiết của hoạt động trợ giúp pháp lý, đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng để góp
phần vào việc ổn định tình hình và phát triển kinh tế - xã hội ở một tỉnh Thanh Hóa.
Vì vậy, đây có thể được coi là đóng góp mới, nghiên cứu về lý luận và thực tiễn hoạt động trợ giúp
pháp lý cho đồng bào thiểu số ở tỉnh Thanh Hóa.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Luận văn góp phần làm rõ hơn những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động
trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số trong tình hình mới. Trên cơ sở đánh giá thực trạng việc
trợ giúp pháp lý cho đồng bào thiểu số ở tỉnh Thanh Hóa trong thời gian gần đây; để xác định quan điểm,
giải pháp bảo đảm nâng cao hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý ở tỉnh Thanh Hóa.
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Đề tài có các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Phân tích làm rõ cơ sở lý luận, xác định khái niệm, nội dung pháp luật về trợ giúp pháp lý, đối
tượng được trợ giúp là đồng bào dân tộc thiểu số.
- Làm rõ vai trò của việc trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số.
- Đánh giá thực trạng hoạt động trợ giúp pháp lý cho đồng bào thiểu số;
- Làm rõ nguyên nhân của những kết quả và những tồn tại, yếu kém.
- Đưa ra các kiến nghị, cũng như các giải pháp.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu đối tượng là đồng bào thiểu số trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
- Nghiên cứu các dạng thức trợ giúp pháp lý, vai trò của nó trong thực tiễn.
- Tổng kết thực tiễn hoạt động trợ giúp pháp lý cho đồng bào thiểu số ở tỉnh Thanh Hóa.4.2. Phạm vi nghiên cứu
Vận dụng lý luận chung về hoạt động trợ giúp pháp lý cho đồng bào thiểu số.
Vì vậy, luận văn chỉ đi sâu vào hoạt động trợ giúp pháp lý và luận chứng vai trò thực tiễn của hoạt
động này đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở Thanh Hóa trong thời gian gần đây.
5.

thống quyền con người, là một quyền cụ thể của quyền tiếp cận tư pháp (hay quyền tiếp cận công lý).
-

Quyền tiếp cận tư pháp nói chung và tiếp cận trợ giúp pháp lý nói riêng được quy định tại một số
công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn như: Công ước quốc tế về các quyền dân sự - chính trị năm 1966,
Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ và Công ước quốc tế về quyền trẻ em.
- Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Chương IV về người tham gia tố tụng có những quy định về bảo
đảm quyền được trợ giúp pháp lý của công dân.
-
Luật trợ giúp pháp lý và Luật Luật sư năm 2006, quyền tiếp cận trợ giúp pháp lý được nêu trong các
công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên một lần nữa đã được nội luật hóa và
được bảo đảm tương đối đầy đủ trong hệ thống pháp luật quốc gia.
1.2. Cơ sở lý luận về trợ giúp pháp lý
1.2.1. Khái niệm trợ giúp pháp lý
Tại Điều 3 Luật Trợ giúp pháp lý được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI,
kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2006 quy định: Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn
phí cho người được trợ giúp pháp lý theo quy định của luật này, giúp người được trợ giúp pháp lý bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp
phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn
chế tranh chấp và vi phạm pháp luật.
1.2.2. Chủ thể thực hiện và đối tượng trợ giúp pháp lý
1.2.2.1. Chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý
Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý
- Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước
- Các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý:
+ Tổ chức hành nghề luật sư
+ Tổ chức tư vấn pháp luật, thuộc tổ chức chính trị, xã hội, tổ chức chính trị, xã hội nghề nghiệp, tổ
chức xã hội nghề nghiệp thực hiện đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý.
Người thực hiện trợ giúp pháp lý
- Trợ giúp viên pháp lý

dân.
1.3. Cơ sở lý luận về dân tộc thiểu số và trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số
1.3.1. Khái niệm về dân tộc, dân tộc thiểu số
- Khái niệm dân tộc
Dân tộc là cộng đồng người ở ổn định, hình thành trong lịch sử, tạo lập một quốc gia, trên cơ sở cộng
đồng bền vững về: lãnh thổ quốc gia, kinh tế, ngôn ngữ, truyền thống, văn hóa, đặc điểm tâm lý, ý thức về dân
tộc và tên gọi của dân tộc.
Theo nghị định số 05/2011/NĐ-CP về Công tác dân tộc của Chính phủ ngày 14 tháng 01 năm 2011
thì đã đưa ra khái niệm như sau:
"Dân tộc thiểu số" là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
"Dân tộc thiểu số có khó khăn đặc biệt" là những dân tộc có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó
khăn theo ba tiêu chí sau: Một là, tỷ lệ hộ nghèo trong đơn vị thôn, bản chiếm trên 50% so với tỷ lệ hộ
nghèo của cả nước; Hai là, các chỉ số phát triển về giáo dục đào tạo, sức khỏe cộng đồng và chất lượng
dân số đạt dưới 30% so với mức trung bình của cả nước; Ba là, cơ sở hạ tầng kỹ thuật thiết yếu chất
lượng thấp, mới đáp ứng mức tối thiểu phục vụ đời sống dân cư
1.3.2. Đặc điểm các dân tộc ở Việt Nam và quan điểm chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta
hiện nay
- Khái quát đặc điểm các dân tộc ở nước ta hiện nay
Một là, các dân tộc ở Việt Nam có truyền thống đoàn kết, gắn bó xây dựng quốc gia dân tộc thống
nhất.
Hai là, các dân tộc thiểu số ở Việt Nam cư trú phân tán và xen kẽ trên địa bàn rộng lớn, chủ yếu là
miền núi, biên giới, hải đảo.
Ba là, các dân tộc ở nước ta có qui mô dân số và trình độ phát triển không đồng đều.
Bốn là, mỗi dân tộc ở Việt Nam đều có sắc thái văn hóa riêng, góp phần làm nên sự đa dạng, phong
phú, thống nhất của văn hóa Việt Nam.
- Quan điểm, chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta hiện nay:
+ "Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc tạo mọi điều kiện để các dân
tộc phát triển"
+ "Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng

+ Tổ chức tư vấn pháp luật, thuộc tổ chức chính trị, xã hội, tổ chức chính trị, xã hội nghề nghiệp, tổ
chức xã hội nghề nghiệp thực hiện đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý.
* Người thực hiện trợ giúp pháp lý
- Trợ giúp viên pháp lý
- Người tham gia trợ giúp pháp lý: Cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước; Luật sư;
Tư vấn viên pháp luật làm việc trong tổ chức tư vấn pháp luật
* Đối tượng được trợ giúp pháp lý
Người dân tộc thiểu số được trợ giúp pháp lý theo khoản 4 Điều 10 Luật Trợ giúp pháp lý là người
thường xuyên sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp
luật.
* Hình thức trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số
+ Tư vấn pháp luật: là việc giải đáp pháp luật, hướng dẫn cá nhân người dân tộc thiểu số; cung cấp
dịch vụ pháp lý giúp cho họ thực hiện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời giúp định
hướng hành vi ứng xử theo khuôn khổ pháp luật và phù hợp với quy tắc đạo đức.
+ Tham gia tố tụng: là việc trợ giúp viên pháp lý, luật sư tham gia tố tụng hình sự để bào chữa cho
người dân tộc thiểu số là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc để bảo vệ quyền lợi của người dân tộc
thiểu số là người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
hình sự hoặc tham gia tố tụng dân sự, tố tụng hình sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được
trợ giúp pháp lý trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính.
+ Đại diện ngoài tố tụng: Khi người dân tộc thiểu số không biết chữ, không biết tiếng phổ thông, bị hạn
chế về thể chất hoặc tâm thần, không có đủ khả năng liên hệ hoặc làm việc với cơ quan chức năng; bị bệnh
nặng đang trong thời gian điều trị, họ đã làm hết khả năng nhưng vụ việc không được giải quyết.Trợ giúp viên
pháp lý và các cộng tác viên là luật sư sẽ đại diện cho đối tượng này để liên hệ, làm việc với các cơ quan, tổ
chức có liên quan nhằm giúp bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho họ.
+ Hình thức trợ giúp pháp lý khác gồm:
Trong trường hợp người dân tộc thiểu số không thể tự mình thực hiện được các công việc có liên
quan đến thủ tục hành chính thì Trung tâm, Chi nhánh cử Trợ giúp viên pháp lý hoặc luật sư là cộng tác
viên giúp đỡ họ thực hiện.
Cung cấp thông tin pháp luật, tờ gấp, sách bỏ túi, cẩm nang pháp luật, các ấn phẩm tài liệu pháp luật
khác.

thành phố là thành phố Thanh Hóa và hai thị xã (thị xã Sầm Sơn và thị xã Bỉm Sơn). Dân số trên 3,7 triệu
người, có 7 dân tộc anh em cùng chung sống đó là: Dân tộc Kinh, Mường, Thổ, H'mông, Dao, Hoa, Thái,
trong đó dân tộc Mường trên 300 ngàn người, dân tộc Thái trên 200 ngàn người. Đồng bào dân tộc miền
núi Thanh Hóa có gần 1 triệu người chiếm gần 30% dân số toàn tỉnh, dân cư tập trung chủ yếu ở 11 huyện
miền núi Thanh Hóa
Về đặc điểm truyền thống
Thanh Hóa có bề dày lịch sử hào hùng và truyền thống văn hóa độc đáo. Cùng với những trang lịch
sử oai hùng, Thanh Hóa có 1.535 di tích trong đó có 134 di tích được xếp hạng quốc gia, 412 di tích đã
xếp hạng cấp tỉnh với các di tích nổi tiếng như: Núi Đọ, Đông Sơn, Khu di tích Bà Triệu, Lê Hoàn, Thành
Nhà Hồ, Lam Kinh, Ba Đình, Hàm Rồng càng khẳng định xứ Thanh là một vùng "Địa linh nhân kiệt".
Xuất phát từ vị trí địa lý, về đặc điểm dân cư và truyền thống lịch sử Thanh Hóa, trong quá trình thực
hiện sự nghiệp đổi mới do Đảng lãnh đạo cũng như một số địa phương khác trong cả nước, Thanh Hóa đã và
đang có những bước phát triển khá, đạt được các thành tựu quan trọng về kinh tế - văn hóa - xã hội, đời sống
nhân dân từng bước được cải thiện. Song cũng không tránh khỏi những khó khăn, hạn chế do tác động của
mặt trái cơ chế thị trường, phân hóa giàu nghèo, sự chênh lệch giữa các vùng miền ngày càng rõ nét, nó không
chỉ dừng lại ở lĩnh vực kinh tế mà còn ở cả các lĩnh vực về xã hội. Nhất là về nhận thức, hiểu biết pháp luật
của nhân dân và cán bộ, đặc biệt là về nhận thức và thực hiện pháp luật của đồng bào dân tộc thiểu số.
2.2. Thực trạng về trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh thanh hóa
2.2.1. Khái quát tình hình thực trạng trợ giúp pháp lý ở Thanh Hóa trong thời gian qua
2.2.1.1. Thực trạng về tổ chức bộ máy trợ giúp pháp lý nước ta hiện nay
Ở Trung ương, Cục Trợ giúp pháp lý thuộc Bộ Tư pháp ngày càng được củng cố, kiện toàn và tăng
cường năng lực hoạt động theo chức năng để giúp bộ trưởng Bộ Tư pháp trong việc quản lý, điều hành,
hướng dẫn và hỗ trợ hoạt động trợ giúp pháp lý trong toàn quốc.
Ở các địa phương trong toàn quốc sau khi có Luật Trợ giúp pháp lý, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã
chỉ đạo Sở Tư pháp xây dựng đề án kiện toàn tổ chức, cán bộ, biên chế, kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết
bị làm việc của các Trung tâm Trợ giúp pháp lý theo hướng chuyên sâu. Theo từng lĩnh vực pháp luật như
(hình sự, dân sự, hành chính, lao động, hôn nhân, gia đình, khiếu nại, tố cáo, đất đai, nhà ở ) các Trung tâm
Trợ giúp pháp lý thuộc Sở Tư pháp có các (phòng, ban, bộ phận ) chuyên môn nghiệp vụ, trong đó mỗi lĩnh
vực trợ giúp pháp lý đều có trợ giúp viên trợ giúp pháp lý chuyên trách. Các địa phương đã tiến hành khảo sát
nhu cầu trợ giúp pháp lý về điều kiện thực tế của địa phương để thành lập chi nhánh của Trung tâm Trợ

Nhưng đến năm 2011, kinh phí cho hoạt động của các câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý được thành lập
theo các chương trình trên không còn. Nên để duy trì hoạt động của mình, số ít các Câu lạc bộ phải xin hỗ
trợ kinh phí từ ngân sách địa phương còn đa phần các Câu lạc bộ tạm ngừng hoạt động.
- Công tác tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật và kỹ năng nghiệp vụ trợ giúp pháp lý.
Mở được 20 lớp tập huấn kiến thức pháp luật cho đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý và thành
viên ban chủ nhiệm Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý với 1.995 lượt người tham dự.
- Công tác trợ giúp pháp lý lưu động và thành lập, hướng dẫn sinh hoạt Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý
Trung tâm Trợ giúp pháp lý đã tổ chức được 704 đợt Trợ giúp pháp lý lưu động xuống cơ sở tại 699
thôn bản ở vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi, vùng duyên hải và các vùng có điều kiện kinh tế khó khăn
thuộc 11 huyện miền núi và các huyện khác;Thành lập và hướng dẫn sinh hoạt cho trên 250 Câu lạc bộ
trợ giúp pháp lý với 1.972 kỳ sinh hoạt và 68.454 lượt người tham gia.
- Công tác truyền thông và thông tin về trợ giúp pháp lý:
Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước đã in ấn và phát hành miễn phí tới tận tay người dân 332.440 tờ
rơi, tờ gấp pháp luật các loại; 1528 tờ thông tin về trợ giúp pháp lý; Biên soạn và sao 1.422 đĩa CD có nội
dung truyền thông về pháp luật; Làm và đặt 565 biển thông tin về hoạt động trợ giúp pháp lý.
- Công tác phối hợp giữa các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong hoạt động Trợ giúp pháp lý:
+ Trong thời gian qua sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân với các tổ chức thực hiện
trợ giúp pháp lý ở địa phương đã được thực hiện khá thường xuyên.
+ Công tác phối hợp về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng đạt hiệu quả rất thấp, chưa mang tính
bắt buộc cao. Chỉ tính trong năm 2010 và 6 tháng đầu năm 2011, công tác phối hợp mới chỉ được 46 vụ.
Trong đó tham gia tố tụng theo hình thức đại diện là 12 vụ, theo hình thức bào chữa là 34 vụ.
2.2.1.2. Thực trạng về đội ngũ cán bộ, cộng tác viên thực hiện trợ giúp pháp lý
Trung ương có Cục Trợ giúp pháp lý nhà nước thuộc Sở Tư pháp, ở cấp huyện và cấp xã có chi
nhánh trợ giúp pháp lý hoặc tổ chức pháp lý. Cả nước đã thành lập 118 chi nhánh trợ giúp pháp lý, 881 tổ
trợ giúp pháp lý thuộc các Trung tâm Trợ giúp pháp lý đặt tại Phòng Tư pháp cấp huyện, 680 điểm trợ
giúp pháp lý, 701 câu lạc bộ trợ giúp pháp lý ở cấp xã. Đến nay các trung tâm trợ giúp pháp lý của Nhà
nước trong toàn quốc có 423 cán bộ, công chức làm công tác trợ giúp pháp lý, 9000 cộng tác viên trợ giúp
pháp lý cấp tỉnh
- Thực trạng đội ngũ người thực hiện Trợ giúp pháp lý ở Thanh Hóa
+ Trợ giúp viên pháp lý: trong 05 năm thi hành Luật trợ giúp pháp lý, Sở Tư pháp đã đề nghị Chủ tịch

- Kết quả vụ việc trợ giúp pháp lý theo lĩnh vực trợ giúp gồm:
Dân sự: 1.324 vụ việc, hôn nhân gia đình: 425 vụ việc; hình sự: 375 vụ việc; hành chính, khiếu nại:
2.608 vụ; lao động - việc làm: 225 vụ; đất đai - nhà ở: 1.070 vụ.
- Kết quả vụ việc theo phạm vi trợ giúp, tư vấn: 5.428 vụ việc, kiến nghị 248 vụ việc, đại diện: 101
vụ việc, bào chữa: 275 vụ việc, hòa giải: 58 vụ việc.
- Kết quả thực hiện trợ giúp pháp lý theo đối tượng:
Tổng số đối tượng được trợ giúp pháp lý là 9.372, đối tượng là người nghèo là 2631, đối tượng
là chính sách 3055, đối tượng là người dân tộc: 3.552, đối tượng là trẻ em là 134.
Kết quả thực hiện trợ giúp pháp lý theo đối tượng từ năm 2007- 6/2011:
Trong đó: Đối tượng là người nghèo là 3.332, đối tượng là người có công 1.801, đối tượng là người
già 74, đối tượng là người dân tộc: 1.812, đối tượng người tàn tật là 42, đối tượng là trẻ em 76, đối tượng
khác là 122.
- Kết quả thực hiện trợ giúp pháp lý của chuyên viên, cộng tác viên: Do chuyên viên thực hiện 2.264
vụ việc, do cộng tác viên là luật sư thực hiện là 912 vụ việc, cộng tác viên khác là 4.059 vụ việc
- Kết quả vụ việc trợ giúp pháp lý theo lĩnh vực trợ giúp gồm: Dân sự: 1.007 vụ việc, hôn nhân gia
đình: 660 vụ việc; hình sự: 281 vụ việc; hành chính, khiếu nại: 542 vụ; lao động - việc làm: 147 vụ; đất
đai - nhà ở: 2.110 vụ; pháp luật ưu đãi người có công là 2.112 vụ; lĩnh vực khác là 249.
- Kết quả vụ việc theo phạm vi trợ giúp: Tư vấn là 6.538 vụ việc; tham gia tố tụng, trong đó đại diện
là 75 vụ việc, bào chữa: 147 vụ việc; đại diện ngoài tố tụng là 5 vụ việc, kiến nghị là 89 vụ việc, khác là 4
vụ việc.
- Địa điểm thực hiện trợ giúp pháp lý: Tại trụ sở là 774 vụ việc, trợ giúp pháp lý lưu động là 6.294 vụ
việc, nơi khác là 160 vụ việc.
Qua đánh giá và phân tích số liệu trên, cho chúng ta thấy kết quả tổng số vụ việc trong 5 năm gần đây
đã gần bằng 10 năm trước kia, vụ việc do trợ giúp viên pháp lý thực hiện đã nhiều hơn cộng tác viên thực
hiện; như vậy nhân dân đã thực sự tin tưởng các trợ giúp viên và trung tâm trợ giúp pháp lý. Đây là kết
quả tốt cho thấy trợ giúp pháp lý của tỉnh Thanh Hóa đã thật sự đảm bảo được quyền lợi và nghĩa vụ của
các đối tượng trợ giúp pháp lý.
2.2.1.5. Thực trạng công tác kiểm tra, giám sát
- Đối với công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý:
Thực hiện Quyết định số 11/2008/QĐ-BTP về việc Ban hành Bộ Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ

tâm là 3.260.000.000đ, Kinh phí cho việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn (Quyết định số 52/2010/QĐ-TTg)
là 6.000.000.000đ (6 tỷ đồng).
- Kinh phí cho cho cả giai đoạn (2013- 2015) là 24.780.000.000đ.
* Công tác ứng dụng công nghệ thông tin và thống kê, báo cáo, sơ kết, tổng kết về trợ giúp pháp lý: Sở
Tư pháp đã tiến hành áp dụng công nghệ thông tin vào chuyên môn hóa trong từng lĩnh vực, xây dựng trang
thông tin điện tử (Website) cho riêng mình. Đồng thời Trung tâm cũng đã trang bị đầy đủ trang thiết bị,
phương tiện làm việc để có thể tiếp cận và khai thác thông tin một cách nhanh và hiệu quả nhất.
Công tác thống kê, báo cáo, sơ kết, tổng kết về trợ giúp pháp lý ở địa phương hàng năm luôn được
thực hiện một cách thường xuyên, đầy đủ, kịp thời và đúng quy định.
2.2.2. Đánh giá thực trạng công tác trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Thanh Hóa thời
gian qua
2.2.2.1. Đánh giá chung
* Những tác động chính trị, kinh tế và xã hội do kết quả thực hiện Luật Trợ giúp pháp lý và đề án quy
hoạch ở Thanh Hóa
- Thông qua việc hướng dẫn, giải thích pháp luật để họ có thể lựa chọn những hành vi xử sự đúng đắn,
bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
- Hoạt động trợ giúp pháp lý còn mang lại những lợi ích chính trị, đóng vai trò là cầu nối giúp chính
quyền các cấp tháo gỡ, khắc phục những bất cập của chính quyền đối với nhân dân
- Hoạt động trợ giúp pháp lý đã thực sự chủ động tìm đến nhu cầu trợ giúp của người dân, đặc biệt là
ở miền núi, vùng sâu, vùng xa
2.2.2.2. Thuận lợi, khó khăn, hạn chế của công tác trợ giúp pháp lý
* Thuận lợi:
- Có sự quan tâm chỉ đạo một cách thường xuyên, kịp thời của Tỉnh ủy
- Có hệ thống văn bản hướng dẫn triển khai thi hành Luật đồng bộ, chi tiết, phù hợp với thực tiễn.
- Nhận thức của người dân và chính quyền cơ sở cũng như các cấp, các ngành về trợ giúp pháp lý lưu
động trong những năm gần đây ngày càng được nâng cao.
* Khó khăn, hạn chế:
Về tổ chức bộ máy, cán bộ
- Số lượng Trợ giúp viên pháp lý cả Trung tâm và Chi nhánh mới chỉ có 9 người nên để có Trợ giúp
viên pháp lý chuyên trách trong từng lĩnh vực là chưa thực hiện được.

sắp xếp, qui hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, cộng tác viên trợ giúp pháp lý; thứ năm, có chính
sách bảo đảm quyền lợi, chế độ cho những người thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý; thứ sáu, lựa
chọn sử dụng các hình thức trợ giúp pháp lý phù hợp với các đối tượng trợ giúp pháp lý; thứ bảy, duy trì nề
nếp công tác thanh tra, kiểm tra trong việc thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý; thứ tám, thực hiện tốt công
tác sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm 6 tháng và hàng năm về thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý

Chương 3
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở
TỈNH THANH HÓA HIỆN NAY
3.1. Quan điểm chỉ đạo về trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Thanh Hóa
Một là, trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số phải quán triệt sâu sắc chủ trương chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước trong công tác xóa đói, giảm nghèo và các chính sách xã hội khác; hai là, trợ
giúp pháp lý cho các đối tượng chính sách xã hội trong đó có người dân tộc thiểu số phải đẩy mạnh thực hiện
cải cách hành chính và tăng cường các hoạt động bổ trợ; va là, trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số
phải dựa trên quan điểm xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; bốn là, trợ giúp pháp lý theo hướng
xã hội hóa công tác trợ giúp pháp lý; năm là, trợ giúp pháp lý cho các đối tượng chính sách, cho đồng bào dân
tộc thiểu số đặt trong quá trình đổi mới hệ thống chính trị, hoàn thiện bộ máy nhà nước; sáu là, trợ giúp pháp
lý cho người dân tộc thiểu số trên cơ sở tiếp tục phát huy những bài học kinh nghiệm từ kết quả thực hiện pháp
luật về trợ giúp pháp lý trong thời gian qua.
3.2. Những yêu cầu khách quan đòi hỏi việc trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số ở
tỉnh Thanh Hóa
Thứ nhất, xuất phát từ yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chính đồng bào thiểu số; thứ
hai, xuất phát từ yêu cầu của việc khắc phục những hạn chế trong thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý
ở tỉnh Thanh Hóa thời gian qua; thứ ba, trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số nhằm ổn định xã
hội nói chung và ở Thanh Hóa nói riêng; thứ tư, xuất phát từ yêu cầu cải cách hành chính và cải cách tư
pháp; thứ năm, xuất phát từ yêu cầu nâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc
thiểu số; thứ sáu, xuất phát từ yêu cầu thực hiện các chính sách xã hội của Chính phủ cho đồng bào dân
tộc thiểu số; thứ bảy, xuất phát từ yêu cầu tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
3.3. Các giải pháp bảo đảm trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Thanh Hóa
Thứ nhất, nâng cao trình độ năng lực chuyên môn, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức nguồn nhân lực thực

Thứ hai, trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số phải quán triệt đầy đủ các quan điểm của
Đảng và Nhà nước về đổi mới hệ thống chính trị, đổi mới tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước, trong
đó có lĩnh vực tổ chức hoạt động của hành chính - tư pháp. Từ đánh giá thực trạng, kế thừa và phát huy
các kết quả và bài học kinh nghiệm của công tác trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số.
Thứ ba, trợ giúp pháp lý cho các đối tượng chính sách, nhất là người dân tộc thiểu số ở tỉnh Thanh
Hóa một cách thiết thực, hiệu quả hơn, đưa pháp luật trợ giúp pháp lý miễn phí đi vào cuộc sống, cần
quán triệt và tổ chức thực hiện các nhóm giải pháp đó là: nâng cao năng lực chuyên môn, bồi dưỡng phẩm
chất đạo đức cho đội ngũ cán bộ thực hiện trợ giúp pháp lý, bố trí đủ biên chế trợ giúp viên trợ giúp pháp
lý của trung tâm trợ giúp pháp lý để chuyên trách các lĩnh vực trợ giúp pháp lý theo quy định; vận dụng
phù hợp và linh hoạt các hình thức trợ giúp pháp lý cho từng đối tượng trợ giúp pháp lý khác nhau. Đẩy
mạnh hoạt động trợ giúp pháp lý lưu động ở cơ sở, bảo đảm về kinh tế (quyền lợi, chế độ) cho người trợ
giúp pháp lý, sử dụng các quỹ phục vụ công tác trợ giúp pháp lý, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối
với việc trợ giúp pháp lý; tăng cường quản lý nhà nước đối với thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý,
huy động hệ thống chính trị và sức mạnh toàn xã hội tham gia thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý cho
các đối tượng chính sách; làm tốt công tác phổ biến giáo dục pháp luật trợ giúp pháp lý cho họ nhất là
những người dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.

References.

1. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương Đảng (2006), Chuyên đề nghiên cứu Nghị quyết Đại hội X của
Đảng (dùng cho cán bộ chủ chốt và báo cáo viên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2001), Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo, Hà Nội.
3. Bộ Tư pháp (2001), Báo cáo tổng thể về đánh giá nhu cầu phát triển toàn diện hệ thống pháp luật
Việt Nam đến năm 2010, Hà Nội.
4. Bộ Tư pháp (2005), Báo cáo tổng kết 8 năm thực hiện Quyết định số 734/ TTg ngày 6/9/1997 của thủ
tướng Chính phủ về thành lập tổ chức trợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo và đối tượng chính
sách, Hà Nội.
5. Bộ Tư pháp (2005), Tài liệu tham khảo các quy định về trợ giúp pháp lý một số nước, Hà Nội.
6. Bộ Tư pháp (2007), Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý, Hà Nội.
7. Chính phủ (1998), Chỉ thị số 02/1998/CT-TTg ngày 7/01 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng

xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội.
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6 của Bộ Chính trị về chiến lược
cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội.
24. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội.
25. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương (Khóa
X) về đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan Đảng, định hướng về đổi mới tổ chức Bộ máy
nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, Hà Nội.
26. Trần Ngọc Đường (1990), "Định hướng giáo dục pháp luật trong quá trình xét xử tại tòa án", Tòa án
nhân dân, (11), tr. 2-4.
27. Trần Ngọc Đường (1995), "Văn hóa pháp lý đối với sự nghiệp đổi mới ở nước ta", Luật học, (4), tr.
8, 11-12.
28. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2000), Giáo trình Xã hội học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội.
29. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2004), Tài liệu học tập và nghiên cứu môn học Nhà nước
pháp luật, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.
30. Học viện Hành chính Quốc gia (2001), Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
31. Hội đồng Bộ trưởng (1982), Chỉ thị số 315/CT/HĐBT ngày 7/12 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về
đẩy mạnh công tác giáo dục pháp luật, Hà Nội.
32. Nguyễn Huỳnh Huyện (2006), Thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối
tượng chính sách ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà
Nội.
33. Lê Đình Khiên (1993), Nâng cao ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ quản lý hành chính ở nước ta
hiện nay, Luận án tiến sĩ Luật học.
34. Lê Đình Khiên (1996), "ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ quản lý hành chính - Thực trạng và
nguyên nhân", Luật học, (3), tr. 33-36.
35. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2007), Giáo trình Lý luận chung về nhà nước pháp luật, Nxb
Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
36. Nguyễn Duy Lãm (Chủ biên) (1996), Một số vấn đề về giáo dục pháp luật ở miền núi và vùng dân

hội, Hà Nội.
58. Đào Trí Úc (Chủ biên), Xây dựng ý thức pháp luật và lối sống theo pháp luật, Chương trình khoa học
công nghệ cấp Nhà nước, Đề tài KX.07-17.
59. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2001), Pháp lệnh Luật sư, Hà Nội.
60. Văn phòng Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1995), Thông báo số 485/CV-VPTW, Hà Nội.
61. Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2004), Luận cứ khoa học và thực tiễn xây dựng pháp lệnh trợ
giúp pháp lý, Đề tài khoa học cấp bộ, Hà Nội.
62. Viện Ngôn ngữ học (2001), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng.
63. Nguyễn Như Ý (Chủ biên) (1998), Đại Từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status