1
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRỊNH THỊ THÙY ANH
TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số : 60 38 01
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2012
Công trình được hoàn thành
tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các bảng MỞ ĐẦU
1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRỢ GIÖP PHÁP LÝ VÀ TRỢ GIÖP
PHÁP LÝ CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ CỦA
NƢỚC TA HIỆN NAY
9
1.1.
Quyền được trợ giúp pháp lý của công dân trong nhà nước
pháp quyền
9
1.2.
Cơ sở lý luận về trợ giúp pháp lý
13
1.2.1.
Khái niệm trợ giúp pháp lý
13
1.4.2.
Trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số có vai trò trong
việc thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm công bằng, xã hội
42
1.4.3.
Trợ giúp pháp lý góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
cho đồng bào dân tộc thiểu số
43
1.4.4.
Trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số góp phần tăng
cường đoàn kết toàn dân, thực hiện chiến lược "xóa đói, giảm
nghèo" của Chính phủ
43
1.4.5.
Trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số góp phần cải cách
hành chính, thực hiện pháp chế xã hội chủ nghĩa
43
Chương 2: THỰC TRẠNG TRỢ GIÖP PHÁP LÝ CHO ĐỒNG BÀO
DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA
46
2.1.
Một số đặc điểm kinh tế, xã hội ở tỉnh thanh hóa ảnh hưởng
đến trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số
46
2.1.1.
Về địa lý tỉnh Thanh Hóa
46
87 3.2.
Những yêu cầu khách quan đòi hỏi việc trợ giúp pháp lý cho
đồng bào thiểu số ở tỉnh Thanh Hóa
96
3.3.
Các giải pháp bảo đảm trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc
thiểu số tỉnh Thanh Hóa
102
3.3.1.
Nâng cao trình độ năng lực chuyên môn, bồi dưỡng phẩm chất
đạo đức nguồn nhân lực thực hiện trợ giúp pháp lý
102
3.3.2.
Giáo dục kỹ năng sống cho người dân tộc thiểu số
104
3.3.3.
Vận dụng phù hợp và linh hoạt các hình thức trợ giúp pháp lý
104
3.3.4.
Tăng cường sự phối hợp giữa Nhà nước và các tổ chức chính
trị - xã hội trong việc trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số
105
3.3.5.
Tăng cường nguồn tài chính phục vụ trợ giúp pháp lý
106
3.3.6.
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc trợ giúp pháp lý
64
2.3
Phân bố dân tộc Khơ Mú ở Việt Nam
65
2.4
Dân số người Khơ Mú ở Thanh Hóa
66
2.5
Tình hình phân bố dân cư Khơ Mú ở Thanh Hóa những
năm gần đây
67
2.6
Dân số người Mường ở các huyện miền núi Thanh Hóa
68
2.7
Dân số người Thái ở các huyện miền núi Thanh Hóa
69
2.8
Dân số người Thổ ở miền núi Thanh Hóa
70
2.9
Bảng tổng hợp đối tượng được Trung tâm trợ giúp pháp
lý, Cục trợ giúp pháp lý thực hiện trợ giúp pháp lý từ năm
1997- 2007
71
2.10
Bảng tổng hợp hình thức trợ giúp pháp lý do Trung tâm
trợ giúp pháp lý, cục trợ giúp pháp lý thực hiện trợ giúp
pháp lý từ năm 1997- 2007
73
nhiều giải pháp phong phú. Trong đó, phải kể đến giải pháp trước mắt và lâu
dài đảm bảo việc thực hiện pháp luật trở thành lối sống, thói quen của Nhà
nước và nhân dân. Tiến tới ai cũng hiểu và vận dụng pháp luật vào cuộc sống
của mình, để từ đó tự bảo vệ mình hoặc thông qua những người hiểu biết pháp
luật tư vấn, trợ giúp những vấn đề liên quan tới pháp luật để bảo vệ quyền lợi
cho họ.
Bên cạnh đó, chủ trương phát triển kinh tế gắn liền với tiến bộ, công
bằng xã hội, giảm chênh lệch giàu, nghèo, thu hẹp khoảng cách phát triển
giữa các vùng miền, làm cơ sở hình thành tương đối đồng bộ các chính sách
xã hội với mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Ngày 14 tháng 01 năm 2011 Chính phủ ban hành Nghị định số
05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc nhằm đảm bảo và thúc đẩy sự bình đẳng,
đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển, tôn trọng và giữ gìn bản sắc
văn hóa của các dân tộc cùng chung sống trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam. Đây là giai đoạn Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm tới
đồng bào các dân tộc trên cả nước nhất là dân tộc thiểu số sống trên các khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn để tạo điều kiện cho đồng bào các
dân tộc thiểu số cùng phát triển về mọi mặt, bảo đảm và bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của họ.
Trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số là biện pháp pháp lý
trong việc thực hiện chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước ta. Xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, của dân, do dân, vì dân,
đòi hỏi tăng cường quản lý xã hội bằng pháp luật; theo nguyên tắc Hiến định:
"Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật".
Ở nước ta, có rất nhiều đối tượng cần được hưởng các dịch vụ tư vấn
pháp luật, song họ ít hoặc không có tiền nên phải được ưu tiên bằng việc
được trợ giúp pháp lý miễn phí, không phải trả tiền công. Vì vậy, Ban Bí thư
Trung ương Đảng khóa VIII đã chỉ đạo: Mở rộng loại hình tư vấn pháp luật
làm và các chế độ chính sách Nhiều vụ việc phức tạp, vượt cấp, kéo dài
nhiều năm, đã được các tổ chức trợ giúp pháp lý hướng dẫn, giải quyết dứt
điểm; trật tự an toàn xã hội, an ninh được giữ vững; thúc đẩy kinh tế - xã hội
phát triển. Vì thế, tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa được khẳng định
trong thực tế cuộc sống; niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước
không ngừng được củng cố và nâng cao.
Tuy nhiên, trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số là một lĩnh
vực còn nhiều hạn chế, bất cập do nhiều nguyên nhân cả về khách quan và
chủ quan. Việc thành lập và quản lý các tổ chức trợ giúp pháp lý còn lỏng lẻo,
thủ tục, trình tự được thụ hưởng dịch vụ trợ giúp pháp lý còn bất cập, nhận
thức về pháp luật của người đồng bào dân tộc thiểu số còn thấp và không
đồng đều. Cách thức, biện pháp trợ giúp còn chưa hiệu quả, đối tượng trợ
giúp và người cần trợ giúp chưa gắn kết với nhau. Thanh Hóa là một tỉnh đông dân, theo số liệu thống kê năm 2009, dân
số trên 3,7 triệu người. Trong đó, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm một tỉ lệ
đáng kể và do thiếu kiến thức pháp luật và thiếu hiểu biết nên họ không biết
cách tự bảo vệ quyền lợi của mình cũng như gây ra những vụ án nghiêm trọng
ảnh hưởng tới chính bản thân, gia đình và xã hội. Vì vậy, giúp họ hiểu các
kiến thức về pháp luật cũng như trợ giúp pháp lý cho đồng bào thiểu số được
đặt ra cả về mặt lý luận và thực tiễn, cũng như việc đề xuất các giải pháp bảo
đảm thực hiện pháp luật trên lĩnh vực này.
Với những lý do phân tích trên, tôi chọn đề tài: "Trợ giúp pháp lý cho
đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa " làm luận văn thạc
sĩ Luật học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Thực hiện pháp luật là một trong các lĩnh vực pháp lý cụ thể nói
chung, trợ giúp pháp lý đã và đang thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều
cơ quan nghiên cứu khoa học, các nhà khoa học pháp lý.
Minh Lý, Đặc san Trợ giúp pháp lý, 2006.
- "Một số vấn đề về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng
chính sách" của TS. Trần Huy Liệu, Thông tin Khoa học pháp lý, 2005.
- "Hoàn thiện pháp luật về người thực hiện trợ giúp pháp lý ở Việt
Nam", Luận văn thạc sĩ Luật học của Vũ Hồng Tuyến, Trường Đại học Luật
Hà Nội, 2004.
- "Báo cáo tổng kết 10 năm công tác trợ giúp pháp lý cho người nghèo
và đối tượng chính sách" Bộ Tư pháp, năm 2007, Báo cáo ngày 20/11/2007.
- "Báo cáo tổng kết 10 năm hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo
và đối tượng chính sách ở tỉnh Thanh Hóa", Sở Tư pháp Thanh Hóa, 2007. - "Tìm kiếm mô hình phổ biến giáo dục pháp luật có hiệu quả trong
một số dân tộc ít người", đề tài khoa học cấp Bộ của Viện Nghiên cứu Khoa
học pháp lý;
- "Xây dựng lối sống theo pháp luật và vấn đề giáo dục pháp luật
trong nhà trường", Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 11/2001, v.v
Các công trình trên đã nghiên cứu quản lý nhà nước về trợ giúp pháp
lý; trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách xã hội ở tầm vĩ
mô, tức là ở phạm vi toàn quốc. Cùng các công trình nghiên cứu khoa học của
tập thể và cá nhân, các bài viết từ trước đến nay đã có những đóng góp quan
trọng về lý luận và thực tiễn. Trong giai đoạn hiện nay cần phải chú trọng
đúng mức và cấp thiết của hoạt động trợ giúp pháp lý, đây là nhiệm vụ chính
trị quan trọng để góp phần vào việc ổn định tình hình và phát triển kinh tế - xã
hội ở một tỉnh Thanh Hóa.
Vì vậy, đây có thể được coi là đóng góp mới, nghiên cứu về lý luận và
thực tiễn hoạt động trợ giúp pháp lý cho đồng bào thiểu số ở tỉnh Thanh Hóa.
Tuy nhiên, để nghiên cứu, thực hiện đề tài này, cần phải kế thừa, vận dụng
những kết quả nghiên cứu của các công trình nêu trên.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
như đưa ra một số giải pháp bảo đảm toàn diện, thiết thực và hiệu quả hơn
cho hoạt động trợ giúp pháp lý trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Vận dụng lý luận chung về hoạt động trợ giúp pháp lý cho đồng bào
thiểu số. Vì vậy, luận văn chỉ đi sâu vào hoạt động trợ giúp pháp lý và luận
chứng vai trò thực tiễn của hoạt động này đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở
Thanh Hóa trong thời gian gần đây.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và chính sách xã hội của Nhà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đề tài này được thực hiện trên
nền tảng lý luận về Nhà nước và pháp luật nói chung; về trợ giúp pháp lý nói
riêng. Đồng thời căn cứ vào việc tổng kết có tính khoa học về thực tiễn thực
hiện chính sách xã hội ở nước ta trong thời kỳ đổi mới.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp luận của triết học mácxít cả về chủ nghĩa duy
vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng. Đồng thời, luận văn sử dụng các
phương pháp nghiên cứu cụ thể của các ngành khoa học đó là các phương
pháp nghiên cứu như: Phương pháp lịch sử cụ thể, phân tích tổng hợp,
phương pháp so sánh, điều tra xã hội học
6. Những đóng góp mới của luận văn
- Luận văn góp phần đánh giá, phân tích làm rõ hơn cơ sở lý luận về
khái niệm, nội dung về hoạt động trợ giúp pháp lý; hình thức trợ giúp pháp lý;
vai trò của trợ giúp pháp lý cho đồng bào thiểu số.
- Luận văn tập trung phân tích đánh giá khách quan, khoa học về trợ
giúp pháp lý cho đồng bào thiểu số. Trên cơ sở đó, luận văn đưa ra quan điểm
Nước ta đang trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thì việc bảo vệ quyền con người lại
càng có ý nghĩa to lớn hơn bao giờ hết. Người công dân trong mối quan hệ
với Nhà nước pháp quyền là con người, mà các quyền cơ bản, thiêng liêng
nhất như quyền được sống, quyền bình đẳng, quyền mưu cầu hạnh phúc,
quyền sở hữu tài sản v.v…, được Nhà nước bảo vệ bằng pháp luật. Nhà nước
cam kết, tôn trọng trên thực tế và bằng pháp luật các quyền, lợi ích hợp pháp, danh dự và nhân phẩm của công dân. Con người được sống trong công lý và
lẽ phải. Pháp luật là phương tiện để con người đạt tới tự do. Trong Nhà nước
pháp quyền, quyền con người, quyền công dân được xác lập về mặt pháp lý,
tạo cơ sở cho việc xây dựng một xã hội bình đẳng và công bằng. Các quyền
đó được mở rộng và nâng cao bao nhiêu thì quyền hạn Nhà nước bị giới hạn
và bị kiểm soát chặt chẽ bấy nhiêu. Cá nhân được sở hữu tất cả những gì
thuộc về mình. Công dân là cái tối đa, Nhà nước là cái tối thiểu. Nhà nước tối
thiểu là Nhà nước của tự do - với nghĩa rộng khả năng tự trị, hưởng thụ cá
nhân, tham dự vào quyền lực xã hội, không ai bị nô dịch và cũng không áp đặt
ý chí của mình cho người khác. Con người được đặt vào vị trí công dân với
các quyền, nghĩa vụ pháp lý, con người trở thành yếu tố cơ bản nhất của sự
phát triển xã hội. Vì vậy bảo vệ quyền con người, quyền công dân là nghĩa vụ
của nhà nước và của chính cá nhân công dân. Nếu quyền lợi của mọi người
dân được bảo đảm và bảo vệ thì nhà nước đó mới chính là nhà nước mà chúng
ta hướng tới. Đặc biệt là những nhóm người yếu thế trong xã hội thì càng phải
được nhà nước, các tổ chức xã hội quan tâm và bảo vệ hơn nữa; đó là trẻ em,
phụ nữ, người già neo đơn, người khuyết tật, người nghèo, người dân tộc
thiểu số… Đây chính là nhóm người dễ bị tổn thương và quyền lợi hay bị
xâm phạm nhất. Do vậy khi xây dựng nhà nước pháp quyền xã hôi chủ nghĩa
thì quyền được tiếp cận pháp luật, quyền được hưởng dịch vụ pháp luật của
tất cả người dân phải được đáp ứng.
sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được tôn trọng và bảo đảm.
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Chương IV về người tham gia tố
tụng có những quy định về bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của công
dân. Chẳng hạn, Khoản 2, Điều 57 của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định
quyền được có người bào chữa; Điều 62 nhấn mạnh rằng cơ quan, người tiến
hành tố tụng có trách nhiệm giải thích và bảo đảm thực hiện các quyền và
nghĩa vụ của người tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật này. Đặc biệt,
Bộ luật Tố tụng hình sự đã có quy định về việc các cơ quan tố tụng cần phải bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý cho những đối tượng cụ thể, như người
bị khởi tố, xét xử về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được
quy định tại Bộ luật Hình sự, người chưa thành niên, người có nhược điểm về
tâm thần hay thể chất. Chẳng hạn, Khoản 2, Điều 305 của Bộ luật khẳng định:
Trong trường hợp bị can, bị cáo là người chưa thành niên
hoặc người đại diện hợp pháp của họ không lựa chọn được người
bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải yêu cầu
Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho
họ hoặc đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành
viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức
mình [50].
Với sự ra đời của Luật trợ giúp pháp lý và Luật Luật sư năm 2006,
quyền tiếp cận trợ giúp pháp lý được nêu trong các công ước quốc tế về quyền
con người mà Việt Nam là thành viên một lần nữa đã được nội luật hóa và
được bảo đảm tương đối đầy đủ trong hệ thống pháp luật quốc gia.
Thêm nữa, Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, theo tinh thần
của Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị, đã đặc biệt
nhấn mạnh đến việc tăng cường vai trò và chất lượng của hệ thống tư pháp
trong việc bảo đảm quyền con người ở nước ta. Chiến lược này cũng chú
trọng vào việc tăng cường năng lực của cán bộ tư pháp, xây dựng nền tư pháp
nhau, có cách giải thích khác nhau. Theo Từ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học,
Nxb Đà Nẵng, 2001, thì khái niệm "trợ giúp" được hiểu là "giúp đỡ" [62, tr.767],
pháp lý tức là "nguyên lý về pháp luật " [62, tr. 1045]. Theo Từ điển Từ và Ngữ
Việt Nam, Giáo sư Nguyễn Lân, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2005
thì "trợ giúp " là giúp đỡ" như nông dân bị mất mùa do lũ lụt, Nhà nước cấp lúa
giống, con giống cho nông dân để tiếp tục sản xuất không thu tiền [37, tr. 1923],
còn về "pháp lý" là "nguyên lý của pháp luật" [37, tr. 1431]. Theo Đại từ điển Tiếng Việt, Nguyễn Như Ý, Nxb Văn hóa - Thông tin, 1998, thì "trợ giúp"
hiểu là "sự giúp đỡ, bảo trợ, hỗ trợ, giúp cho ai việc gì, đem lại cho ai cái gì,
đang lúc khó khăn, đang lúc cần đến", thuật ngữ "pháp lý " được hiểu là lý lẽ,
lẽ phải theo pháp luật, nói một cách khái quát pháp lý là lí luận [63]; theo Từ
điển Luật học, Nxb Tư pháp - Nxb Từ điển Bách khoa, 2006, thì pháp lý:
"những khía cạnh, phương diện khác nhau của đời sống pháp luật của một
quốc gia, "pháp lý" chỉ những lý lẽ, lẽ phải theo pháp luật, giá trị pháp lý bắt
buộc từ một sự việc, hiện tượng xã hội, những nguyên lý, phạm trù, khái niệm
lý luận về pháp luật" [55, tr. 606]. Do vậy, dù là "giúp đỡ", "bảo trợ" hay là
hỗ trợ cũng có thể được hiểu là "trợ giúp". Ở đây trợ giúp được hiểu là sự
giúp đỡ cho ai đó đang gặp khó khăn, nhằm làm giảm bớt khó khăn về một
vấn đề mà họ đang cần, cái họ đang cần ở đây là "pháp lý".
Nghiên cứu một số nước trên thế giới về khái niệm trợ giúp pháp lý
như: Vương quốc Anh, Hà Lan, Thụy Điển, Trung Quốc xét thấy, các nhà
khoa học pháp lý đều lấy lí luận về dân chủ, nhân quyền làm nền tảng, họ đánh
giá trợ giúp pháp lý là một đảm bảo cho công dân có hoàn cảnh khó khăn, không
có điều kiện tiếp cận và sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và
chính đáng của mình theo quy định của pháp luật. Mặc dù hình thức diễn đạt
khác nhau về khái niệm trợ giúp pháp lý, nhưng các khái niệm này đều thể hiện
rõ 4 nội dung trợ giúp cơ bản, đó là: pháp lý, kinh tế, xã hội và nhân đạo. Về
kinh tế, giúp đỡ tất cả hoặc một phần tài chính chi trả cho công dân có hoàn cảnh
hiện phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo đảm cho mọi công dân bình đẳng
trong tiếp cận pháp luật, góp phần thực hiện công bằng xã hội.
Khái niệm "trợ giúp pháp lý" nêu trên đã chỉ rõ mục đích của hoạt
động trợ giúp pháp lý là nhằm hướng tới bảo đảm thực hiện công bằng xã hội,
phù hợp với điều kiện ngân sách Nhà nước phải chi trả cho hoạt động trợ giúp
pháp lý. Tại Điều 3 Luật Trợ giúp pháp lý được Quốc hội nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2006 quy
định: Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý theo quy định của luật này, giúp người được trợ giúp
pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp
luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến,
giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa,
hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật.
Từ phân tích trên, xác định nội dung trợ giúp pháp lý bao gồm:
Thứ nhất, thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý của Trung trâm Trợ
giúp pháp lý nhà nước; tổ chức hành nghề luật sư; tổ chức tư vấn pháp luật và
cá nhân.
Thứ hai, thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý miễn phí, tức là
không thu tiền với các hình thức trợ giúp pháp lý như: Tư vấn pháp lý; làm
văn bản như làm đơn khiếu nại, tố cáo, các văn bản pháp lý khác cho đối
tượng được trợ giúp pháp lý; bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
chính đáng của đối tượng được trợ giúp pháp lý
Thứ ba, đối tượng được trợ giúp pháp lý là người nghèo và đối tượng
chính sách xã hội trong đó có đồng bào dân tộc thiểu số.
1.2.2. Chủ thể thực hiện và đối tƣợng trợ giúp pháp lý
Trong hoạt động trợ giúp pháp lý những người (cá nhân, tổ chức) theo
chức năng của mình tham gia vào việc hướng dẫn, tư vấn pháp luật, bào chữa,
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của đối tượng được trợ giúp
pháp lý là cộng tác viên của Trung tâm; Luật sư, tư vấn viên pháp luật làm
việc trong các tổ chức tư vấn pháp luật thuộc tổ chức chính trị, xã hội, tổ chức
chính trị, xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội nghề nghiệp.
Luật trợ giúp pháp lý đã xác định người thực hiện trợ giúp pháp lý
phải đáp ứng đầy đủ những điều kiện, tiêu chuẩn nhất định. Trợ giúp viên
pháp lý theo Điều 21, Luật trợ giúp pháp lý năm 2006 quy định: là công dân
Việt Nam thường trú tại Việt Nam, có đủ tiêu chuẩn sau đây: có năng lực hành
vi dân sự đầy đủ, có phẩm chất đạo đức tốt; có bằng cử nhân luật; có Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ trợ giúp pháp lý; có thời gian làm công tác pháp luật
từ hai năm trở lên; có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Trợ giúp viên pháp lý là viên chức nhà nước, làm việc tại Trung tâm
trợ giúp pháp lý nhà nước, được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương cấp thẻ Trợ giúp viên pháp lý theo đề nghị của Giám
đốc Sở Tư pháp.
Người tham gia trợ giúp pháp lý bao gồm: cộng tác viên của Trung
tâm trợ giúp pháp lý nhà nước; luật sư; tư vấn viên pháp luật làm việc trong tổ
chức tư vấn pháp luật. Nhận thấy vai trò của người thực hiện trợ giúp pháp lý
nên Luật trợ giúp pháp lý chú trọng xây dựng đội ngũ trợ giúp viên pháp lý và
đội ngũ cộng tác viên, đồng thời huy động các luật sư, tư vấn viên pháp luật
tham gia trợ giúp pháp lý. Đa dạng hóa người thực hiện trợ giúp pháp lý và
phù hợp với nguồn lực hiện có của Việt Nam. Luật Trợ giúp pháp lý đã pháp
điển hóa các quy định pháp luật hiện hành về chế độ cộng tác viên theo hướng
mở rộng thêm những người có bằng đại học khác. Điều 22 Luật Trợ giúp
pháp lý đã quy định: công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, có năng lực
hành vi dân sự đầy đủ, có phẩm chất đạo đức tốt, có đủ sức khỏe bảo đảm
hoàn thành nhiệm vụ được giao, tự nguyện tham gia trợ giúp pháp lý mà
không thuộc các trường hợp cấm theo quy định tại Điều 20 Luật Trợ giúp
pháp lý thì được Giám đốc Sở Tư pháp xem xét, công nhận và cấp thẻ cộng
i) Người có công giúp đỡ cách mạng;
k) Cha, mẹ, vợ, chồng của liệt sỹ; con của liệt sỹ chưa đủ 18 tuổi;
người có công nuôi dưỡng liệt sỹ.
3. Người già được trợ giúp pháp lý quy định tại khoản 3 Điều 10 Luật
Trợ giúp pháp lý là người từ đủ 60 tuổi trở lên sống độc thân hoặc không có
nơi nương tựa.