Phân tích tình hình ứng dụng các Hiệp ước vốn tại Việt Nam - Pdf 10

Chuyên đề:
Phân tích tình hình ứng dụng các Hiệp ước
vốn tại Việt Nam
1
1.1. LỜI MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngày 11/1/2007,Việt Nam chính thức gia nhập WTO. Từ đó, xu hướng hội
nhập và toàn cầu hóa ngày càng trở nên mạnh mẽ khiến các doanh nghiệp Việt Nam
đứng trước những cơ hội cũng như thách thức. Đặc biệt, đối với hệ thống các tổ
chức tín dụng (TCTD) phải mở cửa gần như hoàn toàn theo các cam kết quốc tế lại
càng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi xu thế này. Trước bối cảnh đó, cơ quan quản lý
nhà nước (cụ thể là NHNN) cũng như hệ thống TCTD Việt Nam phải chủ động
nhận thức và sẵn sàng tham gia vào quá trình hội nhập để có thể biến thách thức
thành cơ hội, biến những khó khăn thành lợi thế.
Chính vì thế, NHNN phải ban hành các văn bản luật pháp phù hợp và hệ
thống TCTD phải cố gắng nâng cao vị thế, năng lực cạnh tranh trên trường quốc tế
bằng cách tuân thủ theo một số điều ước quốc tế đã được cụ thể hóa bằng các văn
bản luật tại Việt Nam. Để từ đó có cơ sở so sánh, đánh giá và xếp hạng giữa các
TCTD Việt Nam với các TCTD của các quốc gia khác trên thế giới. Một trong
những điều ước quốc tế được hầu hết nhà quản trị ngân hàng trên thế giới đặc biệt
quan tâm chính là Hiệp ước quốc tế về an toàn vốn do Ủy ban Basel về giám sát
ngân hàng ban hành lần đầu vào năm 1988 (với tên gọi Basel I). Sau đó hiệp ước
vốn này được thay thế bằng Basel II và cuối cùng là Basel III.
Ở Việt Nam, NHNN và hệ thống TCTD đã áp dụng các hiệp ước vốn này vào
chính sách quản lý vĩ mô cũng như quản trị rủi ro của từng TCTD. Tuy nhiên, việc
ứng dụng các hiệp ước Basel vẫn còn nhiều vướng mắc, nên chỉ mới dừng lại ở việc
lựa chọn một số tiêu chí đơn giản trong các Hiệp ước Basel để vận dụng và vẫn chưa
tiếp cận hoàn toàn các điều khoản.
Trong tương lai, NHNN phải hoàn thiện hệ thống pháp luật và các ngân hàng
ở Việt Nam, đặc biệt là những ngân hàng có hoạt động quốc tế, sớm hay muộn sẽ
phải tuân thủ các chuẩn mực Basel để hoàn thiện hệ thống quản trị rủi ro ngân hàng,

Đề tài nghiên cứu về tình hình ứng dụng các Hiệp ước vốn tại Việt Nam.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Phương pháp thu thập số liệu
Đề tài được thực hiện chủ yếu dựa trên nguồn số liệu thứ cấp thu thập từ
NHNN Việt Nam, Hiệp hội ngân hàng Việt Nam, Tổng cục thống kê, các báo cáo
thường niên và báo cáo tài chính của các ngân hàng. Ngoài ra, số liệu được thu
thập thêm từ các báo, tạp chí chuyên ngành, Internet,
4.2. Phương pháp phân tích số liệu
- Sử dụng phương pháp so sánh số tương đối và số tuyệt đối để thấy được
tình hình ứng dụng các hiệp ước vốn tại Việt Nam giai đoạn 1999-2012.
- Sử dụng phương pháp thống kê suy luận để đánh giá những thuận lợi và
khó khăn trong việc ứng dụng các hiệp ước vốn tại Việt Nam trong giai
đoạn 1999-2012.
- Sử dụng phương pháp tự luận để đưa những giải pháp thực thi, có tính
đồng bồ giúp nâng cao hiệu quả ứng dụng các hiệp ước vốn tại Việt Nam
trong tương lai.
4
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU HIỆP ƯỚC VỐN BASEL
1.1. Đôi nét về ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS)
Vào năm 1974, nhằm tìm cách ngăn chặn sự sụp đổ hàng loạt của các ngân
hàng từ những cuộc khủng hoảng về tiền tệ quốc tế và thị trường ngân hàng, mà
đáng quan tâm nhất là sự sụp đổ của ngân hàng Herstatt ở Tây Đức, một nhóm các
Ngân hàng Trung ương và cơ quan giám sát của 10 nước phát triển (G10) đã thành
lập nên Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking
supervision – BCBS) tại thành phố Basel, Thụy Sỹ. Hiện nay, các thành viên của Ủy
ban gồm đại diện ngân hàng trung ương hay cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng
của các 13 nước: Anh, Bỉ, Canada, Đức, Hà Lan, Hoa Kỳ, Luxembourg, Nhật, Pháp,
Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sỹ và Ý. Để duy trì và củng cố hoạt động, Ủy ban

Vào những năm 1980, khi hệ thống NHTM trên thế giới phát triển mạnh mẽ
cũng là lúc việc cạnh tranh không lành mạnh và công bằng giữa các ngân hàng diễn
ra ngày càng phổ biến. Để giải quyết vấn đề này, lãnh đạo các nước phát triển đã tìm
giải pháp thích hợp vừa khuyến khích cạnh tranh công bằng giữa các ngân hàng vừa
đảm bảo an toàn cho người gửi tiền. Giải pháp ấy chính là giới thiệu Hiệp ước vốn
Basel (the Basel Capital Accord) hay Basel I. Basel là yêu cầu về an toàn vốn do các
ngân hàng thuộc các nước nhóm G10 khởi xướng và được Ủy ban Quản lí ngân
hàng thuộc ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) ban hành lần đầu tiên vào năm
1988 và có hiệu lực từ 1992. Basel I cung cấp khung đo lường rủi ro tín dụng với
tiêu chuẩn vốn tối thiểu 8%. Basel I không chỉ được phổ biến trong các quốc gia
thành viên mà còn được phổ biến ở hầu hết các nước khác có các ngân hàng hoạt
động quốc tế. Năm 1996, Basel I được sửa đổi bằng việc bổ sung thêm rủi ro thị
trường (được thực thi chậm nhất vào ngày 1/1/1998). Tuy vậy, Hiệp ước vẫn có khá
nhiều điểm hạn chế. Để khắc phục những hạn chế của Basel I, tháng 6/1999, Uỷ ban
Basel đã đề xuất một khung Hiệp ước vốn mới với chương trình tư vấn lần thứ nhất
(First Consultative Package – CP1). Sau đó, chương trình tư vấn này được diễn ra
lần thứ hai và ba lần lượt vào tháng 1/2001 và tháng 4/2003. Mãi đến quý 4/2003,
6
phiên bản mới của Hiệp ước vốn (Basel II) được hoàn thiện với khung đo lường mới
gồm 3 trụ cột chính: (i) yêu cầu ốn tối thiểu trên cơ sở kế thừa Basel I; (ii) Sự xem
xét giám sát của quá trình đánh giá nội bộ và sự đủ vốn của các tổ chức tài
chính; (iii) sử dụng hiệu quả của việc công bố thông tin nhằm làm lành mạnh kỷ luật
thị trường như là một sự bổ sung cho các nỗ lực giám sát. Tháng 1/2007, Basel II có
hiệu lực. Năm 2010, chấm dứt quá trình chuyển đổi Basel I và II.
1.3. Nội dung cơ bản của các Basel
1.3.1. Nội dung cơ bản của Basel I
Nhằm chuẩn mực hóa hoạt động ngân hàng trong trào lưu toàn cầu hóa,Uỷ
ban Basel đã xây dựng chỉ tiêu đánh giá mức độ an toàn và hiệu quả trong hoạt động
ngân hàng. Tiêu chí đầu tiên đánh giá khả năng tham gia vào thị trường vốn quốc tế
là mức độ tuân thủ chỉ tiêu an toàn vốn tối thiểu, đây là nội dung nền tảng của Basel

dựa trên một sự sáp nhập hay hoạt động theo kiểu tập đoàn ngân hàng, ngân hàng
mẹ, ngân hàng – chi nhánh,…
1.3.2. Nội dung cơ bản của Basel II
Mặc dù có rất nhiều điểm mới nhưng Hiệp ước Basel I với bản sửa đổi năm
1996 vẫn có khá nhiều điểm hạn chế. Để khắc phục những hạn chế này, tháng
6/1999, Uỷ ban Basel đã đề xuất khung đo lường mới. Đến ngày 26/6/2004, bản
Hiệp ước quốc tế về vốn Basel mới (Basel II) đã chính thức được ban hành gồm 3
trụ cột chính. Theo đó, trụ cột thứ I: liên quan tới việc duy trì vốn bắt buộc. Tỷ lệ
vốn bắt buộc tối thiểu (CAR) vẫn là 8% của tổng tài sản có rủi ro như Basel I. Tuy
nhiên, rủi ro được tính toán theo ba yếu tố chính mà ngân hàng phải đối mặt: rủi ro
tín dụng, rủi ro tác nghiệp (hay rủi ro hoạt động) và rủi ro thị trường. So với Basel I,
cách tính chi phí vốn đối với rủi ro tín dụng có sự sửa đổi lớn, đối với rủi ro thị
trường có sự thay đổi nhỏ, nhưng hoàn toàn là phiên bản mới đối với rủi ro tác
nghiệp. Trọng số rủi ro của Basel II bao gồm nhiều mức (từ 0%-150% hoặc hơn) và
rất nhạy cảm với xếp hạng. Đối với trụ cột thứ II, các ngân hàng cần phải đánh giá
một cách đúng đắn về những loại rủi ro mà họ đang phải đối mặt và đảm bảo rằng
những giám sát viên sẽ có thể đánh giá được tính đầy đủ của những biện pháp đánh
giá này. Ngoài ra, trụ cột thứ II còn liên quan tới việc hoạch định chính sách ngân
hàng, cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách những công cụ tốt hơn so với
8
Basel I. Trụ cột này cũng cung cấp một khung giải pháp cho các rủi ro mà ngân
hàng đối mặt, gồm rủi ro hệ thống, rủi ro chiến lược, rủi ro pháp lý, rủi ro thanh
khoản, mà hiệp ước tổng hợp lại dưới cái tên rủi ro còn lại (residual risk). Với cột
trụ này, Basel II nhấn mạnh 4 nguyên tắc của công tác rà soát giám sát: (1) Các ngân
hàng cần phải có một quy trình đánh giá được mức độ đầy đủ vốn của họ theo danh
mục rủi ro và phải có được một chiến lược đúng đắn nhằm duy trì mức vốn đó; (2)
Các giám sát viên nên rà soát và đánh giá lại quy trình đánh giá về mức vốn nội bộ
cũng như về các chiến lược của ngân hàng. Họ cũng phải có khả năng giám sát và
đảm bảo tuân thủ tỷ lệ vốn tối thiểu. Theo đó, giám sát viên nên thực hiện một số
hành động giám sát phù hợp nếu họ không hài lòng với kết quả của quy trình này;

Basel III với nhiều đề xuất mới về vốn, đòn bẩy và các tiêu chuẩn về tính
thanh khoản để củng cố các quy định, giám sát và quản lý rủi ro của ngành ngân
hàng. Các tiêu chuẩn vốn và các vùng đệm vốn mới sẽ đòi hỏi các ngân hàng giữ
vốn nhiều hơn và chất lượng cao hơn so với mức vốn theo quy định hiện hành Basel
II. Các đòn bẩy mới và tỷ lệ tính thanh khoản giới thiệu một biện pháp phi rủi ro
nhằm bổ sung các yêu cầu về vốn tối thiểu dựa trên rủi ro và các biện pháp để đảm
bảo đủ kinh phí được duy trì trong trường hợp xảy ra khủng hoảng. Cụ thể,. Basel
III cũng quy định đối với tất cả các khoản vay có mức độ rủi ro cao cần phải đạt hệ
số rủi ro cao nhất là 150% (nghĩa là khi ngân hàng tính toán tài sản có rủi ro sẽ nhân
với 1.5 )
Tóm tắt các thay đổi: (1) Thứ nhất, chất lượng, tính nhất quán, và tính minh
bạch của nguồn vốn cơ sở sẽ được nâng lên. Trong đó, chủ yếu của vốn cấp 1 là
phải bao gồm vốn cổ phần thường và lợi nhuận giữ lại. Hệ số tỷ lệ an toàn vốn tối
thiểu vẫn được giữ ở mức 8% nhưng yêu cầu vốn vốn cấp I phải đạt 6% trên 8%
đó. Đáng chú ý là trong 6% vốn cấp I đó phải có 4.5% là vốn của các cổ đông thông
thường. Thời hạn để thực hiện riêng quy định này là ngày 1/1/2015, với một lộ trình
rõ ràng và chi tiết hơn. Lộ trình để thực hiện Basel III bắt đầu từ tháng 1/2013 và
hoàn thành vào cuối năm 2018. Ngoài ra, các công cụ vốn cấp 2 sẽ được cân đối hài
hòa và vốn cấp 3 sẽ được loại bỏ. (2) Thứ hai, mức vốn để bảo đảm các rủi ro phát
sinh sẽ được tăng cường: Tăng cường các yêu cầu về vốn cho các khoản tín dụng
10
với khách hàng phát sinh, các nghiệp vụ bảo đảm cho các khoản vay, chứng khoán
phái sinh và các giao dịch tài chính. Đồng thời, nâng cao vốn dự phòng cho các rủi
ro, giảm các chu kỳ và cung cấp các ưu đãi bổ sung để di chuyển các hợp đồng phái
sinh trên thị trường tự do đến các giao dịch ngoại hối tại Ngân hàng (trung tâm
thanh toán bù trừ). Cung cấp ưu đãi để tăng cường quản lý rủi ro tín dụng đối ứng.
(3) Thứ ba, Ủy ban sẽ đưa ra một tỷ lệ đòn bẩy là một biện pháp bổ sung cho khung
rủi ro được thiết lập ở Basel II. Do đó, Ủy ban đang trình bày một yêu cầu tỷ lệ đòn
bẩy nhằm đạt được các mục tiêu. Một là, xây dựng thêm lớp thứ hai cho đòn bẩy
trong lĩnh vực Ngân hàng. Hai là, đề xuất biện pháp bảo vệ bổ sung chống lại rủi ro

25/8/1999 quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của TCTD. Tuy
nhiên, mặc dù, NHNN đã có nhiều cố gắng nhưng hai Quyết định này đã không
tránh khỏi những hạn chế. Bởi lẽ, khi NHNN ban hành văn bản luật tiếp cận với
Basel I, cũng là lúc BCBS bắt đầu đề xuất một khung Hiệp ước vốn mới (Basel II).
Cho nên, đến ngày 23/4/2003, NHNN có Quyết định số 381/2003/QĐ-NHNN về
việc sửa đổi, bổ sung một số điều, khoản của Quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn
trong hoạt động của tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định số 297/1999/QĐ-
NHNN5 ngày 25/8/1999 của Thống đốc NHNN. Tiếp theo đến năm 2005, để cụ thể
hơn các quy định của Basel, NHNN đã ban hành các quyết định nhằm thay thế các
QĐ 296 và Quyết định 297, bao gồm: (1) Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN ngày
19/4/2005 quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD, trong
12
đó quy định về cách xác định: Vốn tự có = vốn cấp I + vốn cấp II; thông qua đó, xác
định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu. (2) Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày
22/4/2005 quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro
tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD. Theo đó, nợ của TCTD được chia
làm 5 loại: Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn), Nhóm 2 (Nợ cần chú ý), Nhóm 3 (Nợ dưới
tiêu chuẩn), Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) và Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn). Tương
ứng với từng nhóm nợ có các mức trích lập dự phòng khác nhau: Nhóm 1: 0%,
Nhóm 2: 5%, Nhóm 3: 20%, Nhóm 4: 50% và Nhóm 5: 100%.
Các quy định tại QĐ 457 và 493 tuy đã đề cập đến 1 số vấn đề liên quan đến
các điều khoản trong hiệp định Basel nhưng vẫn còn ở mức hạn chế.
Chính vì vậy, vào tháng 5/2010, NHNN đã ban hành Thông tư số
13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010 về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động
của tổ chức tín dụng (thay thế QĐ 457 và các sửa đổi có liên quan). Trong đó ngoài
việc quy định lại về việc xác định Vốn tự có= vốn cấp I + vốn cấp II, NHNN đã
hướng dẫn cách xác định tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ và tỷ lệ an toàn vốn hợp nhất,
nâng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của tổ chức tín dụng lên 9%.
2.2. Về phía các TCTD
Bên cạnh việc tuân thủ các quy định bắt buộc của NHNN, các TCTD cũng

Vào giai đoạn này, thị phần hoạt động của 5 ngân hàng thương mại nhà nước
(NHTM NN), gồm NHTM NN Ngoại Thương Việt Nam (VCB), NHTM NN Công
Thương Việt Nam (CTG), NHTM NN Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV),
NHTM NN Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam (AGR), NHTM NN
Phát triển Nhà đồng bằng song Cửu Long (MHB), chiếm đến 70-75 %. Ngoài ra, tại
thời điểm năm 2000, trước thực trạng tỷ lệ nợ xấu quá cao, có nguy cơ dẫn đến sự
phá sản của các NHTM NN, Chính phủ đã trực tiếp cấp 12.000 tỷ đồng dưới dạng
cấp trái phiếu đặc biệt với thời hạn 20 năm để tăng vốn tự có cho 4 NHTM NN đưa
tổng mức vốn tự có của khối này lên mức hơn 18.000 tỷ VND, chiếm 51% vốn tự có
của toàn hệ thống. Chính vì vậy, có thể nói sự an toàn trong hoạt động của nhóm
ngân hàng này quyết định sự an toàn của toàn bộ hệ thống NHTM Việt Nam. Tuy
nhiên, khi nhìn vào hệ số an toàn vốn (CAR) của 5 NHTM NN tại thời điểm
14
31/12/2005, ta thấy, hầu hết các NHTM NN đều chưa đạt được yêu cầu về tỷ lệ an
toàn vốn tối thiểu 8%, trừ MHB.
Hình 1: Hệ số an toàn vốn (hệ số CAR) của các NHTM NN
thời điểm 31/12/2005
Tuy nhiên, nếu xét trên toàn bộ hệ thống ngân hàng có thể nhận thấy, trong
khi các NHTM NN gặp khó khăn trong việc đạt chuẩn an toàn vốn thì các
NHTMCP thời điểm này lại đảm bảo được mức an toàn vốn.
Hình 2: Hệ số an toàn vốn của hệ thống TCTD Việt Nam tính đến 31/12/2005
15
Cụ thể, ngoại trừ, nhóm NHTM NN có CAR rất thấp là 4.10%, tất cả các
nhóm còn lại có CAR cao hơn quy định. Trong đó, NHTM CP đô thị có CAR là
8.00%, vừa đủ để đáp ứng yêu cầu của quy định. Đối với nhóm chi nhánh NH nước
ngoài và NH liên doanh lần lượt có hệ số CAR là 9.20% và 12.00%. Đặc biệt,
NHTM CP nông thôn có hệ số CAR lên đến 24%. Tuy nhiên, do thị phần lớn cũng
như tỷ trọng vốn tự có của nhóm NHTMNN cao hơn rất nhiều so với tất cả các
nhóm còn lại, nên tổng thể, hệ thống NHTM vẫn có CAR rất thấp là 5.50%. Hơn
thế nữa, mặc dù, các NHTM Việt Nam đã nỗ lực và hầu hết các NHTM CP đều đạt

17
hướng tăng trưởng. Bởi vì, đây là giai đoạn có sự thuận lợi của môi trường kinh
doanh cũng như sự bùng nổ của thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, giai đoạn thứ
hai, từ năm 2008 đến năm 2009, do tác động của chính sách kích cầu cũng như việc
thực hiện nới lỏng tiền tệ của NHNN nên tín dụng tại các NHTM đã tăng đột biến.
Ðiều này dẫn đến hệ lụy tổng tài sản rủi ro của các NHTM tăng lên và kết quả là các
NHTM trong nhóm trên đều có xu hướng sụt giảm tỷ lệ an toàn vốn. Trong đó, VCB
từ tình trạng đạt tiêu chuẩn trên 8%, giảm xuống chỉ còn 7.64%. Sau đó, giai đoạn
2009-2010, CAR của hầu hết các ngân hàng đều tăng trưởng đáng kể. Bởi lẽ, nếu
căn cứ theo Nghị định 141/2006/NÐ-CP (ngày 22/11/2006), thì đến cuối năm 2010,
các NHTMCP phải đạt mức vốn pháp định tối thiểu là 3.000 tỷ VND. Một số ngân
hàng đã thực hiện tăng mức vốn pháp định theo qui định để đảm bảo tỷ lệ an toàn
vốn tối thiểu. Vì thế, vốn tự có được nâng lên, nghĩa là phần tử số trong công thức
tính CAR tăng lên, dẫn đến hệ số này tăng lên đáng kể.
2.2.3. Giai đoạn 2011-2012
Trong giai đoạn này, bức tranh về đảm bảo an toàn vốn là khá phức tạp. Nếu
nhìn vào mức tính toán cho toàn hệ thống, hệ thống NHTM Việt Nam đã đảm bảo
được hệ số an toàn vốn tối thiểu 9% theo Thông tư số 03/2010/TT-NHNN. Đầu tiên,
có những tín hiệu tốt khi hầu hết các NHTM đều đạt CAR trên 9%, mặc dù AGR chỉ
đạt được 8% nhưng đây cũng là dấu hiệu đáng mừng vì nếu so với tiêu chuẩn của cả
Basel I, II và III thì AGR cũng thỏa mãn quy định.
Hình 4: Hệ số CAR của các NHTM năm 2011
18
Dấu hiệu đáng quan tâm thứ hai là, nếu xét trên toàn hệ thống ngành Ngân
hàng thì CAR có xu hướng tăng lên, từ 11.92% vào thời điểm tháng 9/2011 đến
13.7% vào ngày 31/10/2012. Một trong những nguyên nhân là các NHTM CP đều
cố gắng thực hiện theo NĐ 141/2006/NĐ-CP về việc tăng vốn điều lệ trên 3000 tỷ
đồng. Tính đến 31/10/2012, không còn ngân hàng nào có mức vốn điều lệ thấp hơn
3000 tỷ đồng.
Bảng 2: Tỷ lệ an toàn vốn của ngành Ngân hàng

nhiều nguy cơ từ khối những ngân hàng nhỏ này, thậm chí ảnh hưởng đến cả hệ
thống.
(3) Hơn thế, như khuyến nghị của Basel III, trong tình huống hệ số an toàn
vốn ổn định nhưng tỷ lệ đòn bẩy tăng cao cũng có thể báo hiệu những rủi ro tiềm ẩn
trong hệ thống NHTM. Ðối với khối NHTMCP, xu hướng hệ số đòn bẩy tài chính
cao có thể nhận thấy khá rõ.
(4) Trong giai đoạn này, thị trường bất động sản xuống dốc, nhiều khoản vay
đến hạn không trả được nợ ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động kinh doanh của ngân
hàng (ngân hàng buộc phải chuyển nhóm nợ và trích lập dự phòng rủi ro, tình hình
thanh khoản bị suy giảm). Tỷ lệ nợ xấu được NHNN công bố cho toàn ngành Ngân
hàng là 3,39%, tương đương với khoảng 20% mức vốn tự có. Tuy nhiên, số liệu nợ
xấu chưa phản ánh đúng thực chất RRTD của hệ thống ngân hàng Việt Nam do tiêu
chuẩn phân loại nợ cũng như công tác phân loại nợ của các ngân hàng còn nhiều bất
20
cập. Nếu như các ngân hàng phân loại nợ đúng theo chuẩn mực quốc tế và định giá
chính xác giá trị tài sản bảo đảm cho các khoản vay (53% là bất động sản) thì chi phí
dự phòng rủi ro sẽ tăng lên, và vốn tự có của hệ thống ngân hàng sẽ bị ăn mòn đáng
kể.
(5) Xét trên khía cạnh toàn hệ thống, chỉ tiêu an toàn vốn của toàn bộ NHTM Việt
Nam đạt trên mức 9%. Tuy nhiên, điều này chưa thể hiện được mức đủ vốn của hệ thống
NHTM. Bởi lẽ, phần mẫu số theo quy định của Thông tư 13/2010/TT-NHNN mới chỉ xác
định rủi ro tín dụng chứ chưa tính đến rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động (rủi ro tác
nghiệp). Hơn thế, theo Basel III, mẫu số còn bao gồm cả rủi ro do biến động kinh tế vĩ mô
(rủi ro có tính chu kỳ) và rủi ro chéo trong trường hợp ngân hàng hoạt động theo mô hình
tập đoàn tài chính. Nếu xét tình huống Việt Nam thì cả hai vấn đề rủi ro có tính chu kỳ và
rủi ro chéo cần được tính tới. Ngoài ra, khi đánh giá trong mối quan hệ với các NHTM
trong khu vực, mức độ an toàn vốn của các NHTM Việt Nam ở mức khá thấp.
Hình 5: Hệ số CAR của hệ thống các TCTD
tại Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới thời điểm 9/2011.
2.3. Đánh giá thực trạng ứng dụng Hiệp ước vốn tại Việt Nam

kiện hoặc không đủ thời gian để được đào tạo và tiếp cận những kiến thức mới này
22
nên cũng chưa có khả năng vận dụng vào công việc thực tế. Chí phí cho những khóa
học với các chuyên gia nước ngoài trong lĩnh vực tài chính-ngân hàng thường rất
cao, đòi hỏi nhiều thời gian và công sức của người đi học.
Khó khăn thứ hai có thể kể đến là thiếu những tổ chức xếp hạng tín nhiệm
chuyên nghiệp. Bởi vì, theo Basel II, các NHTM phải dựa vào rất nhiều yếu tố để có
thể xác định hệ số rủi ro theo từng khoản mục tài sản liên quan đến từng nhóm đối
tượng khác nhau, mà một trong những yếu tố này là kết quả xếp hạng tín nhiệm của
các tổ chức xếp hạng độc lập. Hiện nay thực tế là mỗi ngân hàng đang từng bước
xây dựng hệ thống xếp hạng tín nhiệm cho từng nhóm đối tượng khách hàng. Tuy
nhiên, việc xếp hạng tín nhiệm này chủ yếu phục vụ quá trình thẩm định, ra quyết
định cho vay của ngân hàng, rất ít được chia sẻ thông tin hay phổ biến rộng rãi bên
ngoài. Từ đó dẫn đến tự ngân hàng nào ngân hàng đó mới lo. Vì thế, kết quả đánh
giá còn mang nặng yếu tố chủ quan, cảm giác hơn là khách quan. Ngoài ra, nó còn
dẫn đến những kết luận thiếu chính xác chỉ vì lý do thông tin không đầy đủ. Ở Việt
Nam, hiện tại có 3 tổ chức được xem là chuyên nghiệp nhất hoạt động trong lĩnh
vực xếp hạng tín nhiệm nhưng vẫn chưa được tổ chức quốc tế công nhận và vẫn
chưa thực hiện đúng chức năng của một tổ chức đánh giá hệ số tín nhiệm. Một là,
Trung tâm thông tin tín dụng của NHNN (CIC) vừa có chức năng thu thập và cung
cấp thông tin tín dụng cho NHNN, lại vừa thực hiện việc xếp loại tín dụng doanh
nghiệp (theo Quyết định số 473/QĐ-NHNN ngày 28/4/2004). Hai là, Công ty thông
tin và xếp hạng doanh nghiệp (C&R), mới thành lập năm 2004, được tách ra từ công
ty Giải pháp Việt Nam, là doanh nghiệp tư nhân đầu tiên tại Việt Nam cung cấp các
loại báo cáo tín nhiệm dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá của các tổ chức lớn trên thế
giới như Standard & Poor’s, Moody’s, …Ba là, Trung tâm đánh giá tín nhiệm
Vietnamnet (CRVC) thuộc công ty phần mềm và truyền thông VASC, được ra đời
vào ngày 4/6/2005. Tuy nhiên, các đơn vị này vẫn chưa phải là tổ chức đánh giá tín
nhiệm theo đúng nghĩa bởi lẽ hoạt động chính vẫn chỉ cung cấp các thông tin có liên
quan tới các doanh nghiệp mà chưa thực hiện nghiệp vụ đánh giá tín nhiệm theo

Ngoài ra, còn nhiều khó khăn khác ảnh hưởng đến việc ứng dụng Basel tại
Việt Nam như trình độ quản lý của cơ quan giám sát ngân hàng còn yếu kém, chi
phí ứng dụng Basel là khá cao, chưa xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu, rào cản về
ngôn ngữ (Ngôn ngữ trong Basel hoàn toàn là tiếng Anh với những thuật ngữ
chuyên ngành mới)
24
CHƯƠNG 3
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC ỨNG DỤNG BASEL
TẠI VIỆT NAM
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status