Nâng cao chất lượng bảo đảm trong hoạt động cho vay tại chi nhánh Ngân Hàng Công Thương Thái Nguyên - Pdf 10

TIỂU LUẬN:
Nâng cao chất lượng bảo đảm
trong hoạt động cho vay tại chi
nhánh Ngân Hàng Công Thương
Thái Nguyên LỜI MỞ ĐẦU
Năm 2007 là năm đã đánh dấu sự thành công rực rỡ của nền kinh tế Việt Nam
với tốc độ tăng trưởng kinh tế 8,5%. Trong sự thành công đó có sự đóng góp
không nhỏ của hệ thống Ngân Hàng Thương Mại.
Mặc dù các NHTM nhà nước đang gặp khó khăn do sự lớn mạnh của các
NHTM cổ phần hiện nay, tuy nhiên đây vẫn là năm thành công của khối NHTM
Nhà nước. Họ liên tục tăng vốn điều lệ, lợi nhuận tăng cao, đầu tư vào các công
nghệ hiện đại, các dịch vụ đa dạng nhằm thu hút khách hàng.
Với sự lớn mạnh của nền kinh tế như hiện nay thì nhu cầu vốn của các doanh
nghiệp cũng như các tổ chức kinh tế để thực hiện các dự án đầu tư, mở rộng quy
mô sản xuất kinh doanh là rất lớn và giải pháp tối ưu của họ là tìm đến ngân hàng
để vay vốn. Để đảm bảo an toàn cho những khoản cho vay của mình các NHTM
thường yêu cầu khách hàng đi vay phải có tài sản bảo đảm(TSBĐ) cho khoản vay
đó nhằm hạn chế rủi ro mất vốn có thể xảy ra.
Tài sản bảo đảm là nguồn thu nợ thứ hai của các NHTM khi khách hàng do


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO ĐẢM TRONG HOẠT ĐỘNG CHO
VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 NHTM và hoạt động của NHTM.
1.1.1 Khái niệm NHTM.
NHTM là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt
động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận , góp phần thực hiện các
mục tiêu kinh tế của Nhà nước. Hoạt động ngân hàng gồm các hoạt động như :
huy động vốn, hoạt động tín dụng, dịch vụ thanh toán, ngân quỹ và các hoạt động
khác.
1.1.2 Hoạt động chủ yếu của ngân hàng.
1.1.2.1 Hoạt động huy động vốn.
Ngân hàng muốn dễ dàng tìm kiếm nguồn vốn thì trước hết phải đa dạng hoá
hình thức huy động. Hình thức huy động càng phong phú thì ngân hàng càng dễ
huy động hơn. NHTM có thể huy động bằng cách huy động tiền gửi tiết kiệm
trong đó đưa ra nhiều thời hạn khác nhau cho các loại tiền gửi tiết kiệm có kỳ
hạn, tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức, cá nhân; huy động bằng cách phát
hành kỳ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác; các hình thức huy động vốn
khác theo quy định của NHNN. Cụ thể như :
 Hoạt động huy động tiền gửi không kỳ hạn : đây là loại tiền gửi mà chủ

trưởng kinh tế, đáp ứng đầy đủ nhu cầu về vốn, thúc đẩy lưu thông hàng hoá,
tăng tốc độ chu chuyển vốn cho xã hội, góp phần thúc đẩy tái sản xuất mở rộng,
tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế phát triển bền vững.

Một số hoạt động tín dụng của NHTM như: cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài
hạn; chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác; bảo lãnh vay, bảo lãnh
thanh toán…Cụ thể như sau:
 NHTM được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho
vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê
tài chính và các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
 NHTM cho các tổ chức, các nhân vay vốn dưới các hình thức: Cho vay
ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ,
đời sống. Cho vay trung hạn và dài hạn để thực hiện các dự án đầu tư
phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống.
 NHTM còn tiến hành các hình thức chiết khấu thương phiếu và các giấy
tờ có giá ngắn hạn khác cho các tổ chức, cá nhân. Tái chiết khấu thương
phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với các tổ chức tín dụng
khác.
 Trong quá trình cho vay các NHTM cần xét duyệt việc cho vay theo một
quy trình nhất định: lập hợp đồng tín dụng, thẩm định khách hàng vay
vốn, ra quyết định tín dụng, tiến hành giải ngân, giám sát quá trình thực
hiện hợp đồng, thu nợ và xử lý nợ.
 Quá trình thẩm định khách hàng vay vốn ngân hàng sẽ tiến hành yêu cầu
khách hàng công khai tình hình tài chính của mình, trình bày phương án,
dự án đầu tư và thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp
thông tin sai sự thật, vi phạm hợp đồng tín dụng.
 NHTM phải tuân thủ các quy định về bảo đảm tiền vay, chính sách lãi
suất, có quyền xử lý tài sản đảm bảo tiền vay của khách hàng vay, tài sản
của người bảo lãnh trong việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh để thu hồi nợ
theo quy định tại Nghị định của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các

của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo hợp đồng uỷ thác, đại lý.
 NHTM được cung ứng dịch vụ bảo hiểm, được thành lập công ty trực
thuộc hoặc liên doanh để kinh doanh bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
 NHTM được cung ứng các dịch vụ :Tư vấn tài chính, tiền tệ cho khách
hàng dưới hình thức trực tiếp tư vấn cho khách hàng hoặc thành lập công ty
trực thuộc theo quy định của pháp luật; bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có
giá, chi thuê tủ két, cầm đồ và các dịch vụ khác theo quy định của pháp
luật.
 NHTM không được trực tiếp kinh doanh bất động sản.
1.2 Tổng quan về bảo đảm trong hoạt động cho vay của NHTM.
1.2.1 Nguyên nhân hình thành yêu cầu bảo đảm trong hoạt động cho vay của
NHTM.
Trong cho vay kinh doanh, nguồn thu nợ thứ nhất từ doanh tu thực tế đối với
cho vay ngắn hạn; từ khấu hao và lợi nhuận đối với cho vay trung và dài hạn.
Trong cho vay tiêu dùng nguồn thu nợ thứ nhất từ thu nhập cá nhân như tiền
lương, các khoản thu nhập tài chính (lãi tiền gửi, cổ tức, trái tức) và các khoản thu
nhập khác. Các nguồn thu nợ thứ nhất này thể hiện dưới hình thức lưu chuyển
tiền tệ của người đi vay. Trong hoạt động kinh doanh có muôn ngàn lý do dẫn đến
nguồn thu nợ thứ nhất không thực hiện được, nếu không có một nguồn bổ sung
tất yếu ngân hàng sẽ gặp rủi ro tín dụng.
Vì vậy, để bảo vệ lợi ích của mình các ngân hàng thường yêu cầu người đi vay
phải có các bảo đảm cần thiết, ngoại trừ những khách hàng hoạt động tốt và có
quan hệ tín dụng thường xuyên. Nguồn thu nợ thứ hai chính là đảm bảo nợ vay,
nó giúp ngân hàng phòng ngừa được những diễn biến không thuận lợi trong quá
trình kinh doanh.

1.2.2 Khái niệm bảo đảm tiền vay.
Bảo đảm tiền vay (hay còn gọi là bảo đảm tín dụng) là việc bảo vệ quyền lợi của
người cho vay dựa trên cơ sở thế, cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người đi vay
hoặc bảo lãnh của bên thứ ba. Nhằm tạo cơ sở pháp lý và kinh tế để thu hồi được

1.2.3.3 Có đầy đủ cơ sở pháp lý để người cho vay có quyền ưu tiên về xử lý tài
sản.
Đặc trưng này phải thể hiện được các mặt sau : tài sản phải thuộc sở hữu hợp
pháp của nguời đi vay hoặc người bảo lãnh và được pháp luật cho phép giao dịch,
đồng thời phải có đủ các cơ sở pháp lý để ngân hàng - chủ thể cho vay được
quyền ưu tiên xử lý tài sản nhằm thu nợ khi người đi vay không thanh toán đúng
hạn.
1.2.4 Các nguyên tắc của bảo đảm tiền vay.
Khách hàng vay phải cầm cố, thế chấp tài sản (gồm cả tài sản hình thành từ vốn
vay) hoặc phải được bên thứ ba cầm cố, thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng, trừ trường hợp khách hàng vay được ngân hàng
cho vay có bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay hoặc cho vay không có
bảo đảm bằng tài sản theo quy định của Nghị định số 181/NĐ-CP về vấn đề bảo
đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng.
Ngân hàng và khách hàng vay thoả thuận lựa chọn áp dụng biện pháp bảo đảm
tài sản bằng cầm cố, thế chấp của khách hàng vay và/hoặc của bên thứ ba.
Ngân hàng có quyền lựa chọn tài sản đủ điều kiện để làm bảo đảm tiền vay;
lựa chọn bên thứ ba cầm cố, thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ
cho khách hàng vay. Trường hợp bên bảo đảm là cá nhân, tổ chức nước ngoài thì
ngân hàng được nhận bảo đảm đối với tài sản hợp pháp, hợp lệ ở Việt Nam. Đối
với tài sản đủ điều kiện làm bảo đảm tiền vay nhưng đang được bên bảo đảm cho

thuê; ngân hàng chỉ được nhận thế chấp khi đảm bảo xử lý được tài sản cho thuê
trong trường hợp xử lý để thu hồi nợ; hợp đồng thuê tài sản giữa bên cho thuê và
bên thuê có điều khoản quy định: Bên cho thuê phải giao tài sản cho ngân hàng
và hợp đồng thuê tài sản sẽ chấm dứt (kể cả trường họp hợp đồng cho thuê chưa
hết hiệu lực) nếu tài sản cho thuê bị ngân hàng xử lý để thu hồi nợ. Khi thế chấp
tài sản gắn liền với đất, khách hàng vay phải thế chấp cả giá trị quyền sử dụng đất
cùng với tài sản đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Sau khi xử lý tài sản, nếu khách hàng vay, bên vay, bên bảo lãnh vẫn chưa thực

Các biện pháp bảo đảm tiền vay trong trường hợp không có TSBĐ gồm có bảo
lãnh của Chính Phủ, bảo lãnh bằng tín chấp của tổ chức chính trị - xã hội.
1.3 Bảo đảm bằng tài sản trong hoạt động cho vay của NHTM.
1.3.1 Khái niệm bảo đảm bằng tài sản.
Bảo đảm bằng tài sản là việc ngân hàng cho khách hàng vay với điều kiện
khách hàng phải có tài sản để làm đảm bảo rằng nếu khách hàng không thực hiện
được nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng sẽ có quyền xử lý tài sản ấy để thu hồi nợ.
Đối với cho vay có bảo đảm NHTM cần quan tâm tới biện pháp bảo đảm tiền
vay, loại tài sản bảo đảm, giá trị TSBĐ cho hoạt động tín dụng, mức độ biến động
của tài sản bảo đảm tiền vay trong thời gian vay vốn.
1.3.2 Các hình thức của bảo đảm bằng tài sản.
1.3.2.1 Cầm cố bằng tài sản của khách hàng vay vốn.
Khái niệm : Cầm cố tài sản là hình thức theo đó khách hàng vay, bên thứ ba (bên
cầm cố) chuyển quyền kiểm soát tài sản bảo đảm sang cho ngân hàng cho vay
trong thời gian cam kết để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Tài sản cầm cố là động sản do cầm cố thích hợp với những tài sản ngân hàng có
thể kiểm soát và bảo quản tương đối chắc chắn, đồng thời việc ngân hàng nắm

giữ không ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của khách hàng. Các tài sản này
gọn nhẹ, dễ quản lý, không chịu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường tự nhiên.
Đối với hàng hoá ngân hàng thường chấp nhận các loại ít chịu tác động của môi
trường trong thời gian cầm cố.
Các tài sản có thể được cầm cố như :
 Tài sản thực như xe cộ, máy móc, hàng hoá, vàng, tàu biển, máy bay…
 Tiền gồm tiền mặt, tiền trên tài khoản.
 Giấy tờ có giá như cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu…
 Quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền
đòi nợ, quyền được nhận số tiền bảo hiểm…
 Lợi tức và các quyền phát sinh từ tài sản cầm cố.
Ngân hàng yêu cầu cầm cố khi xét thấy việc khách hàng nắm giữ tài sản bảo đảm

khoán. Sau khi hoàn thành toàn bộ hay từng hạng mục thì họ sẽ được các
cơ quan tổ chức thầu khoán thanh toán. Trong trường hợp này các doanh
nghiệp đó có thể cầm cố hợp đồng thầu khoán như một vật đảm bảo để vay
vốn ngân hàng. Nếu được ngân hàng chấp thuận thì các doanh nghiệp ấy ký
kết với ngân hàng một văn tự về cầm cố hợp đồng thầu khoán. Đây là hình
thức bảo đảm tương đối chắc chắn.
 Cho vay cầm cố bằng hàng hoá: Đây là hình thức tín dụng ngắn hạn mà
việc cấp tín dụng được xác định căn cứ vào giá trị của hàng hoá thuọc
quyền sở hữu của người vay vốn đã được cầm cố cho ngân hàng. Cho vay
có cầm cố bằng hàng hoá là một nghiệp vụ tín dụng có đảm bảo được áp
dụng phổ biến ở các NHTM.
1.3.2.2 Thế chấp bằng tài sản của khách hàng vay vốn.

Khái niệm : Thế chấp tài sản là hình thức theo đó khách hàng vay phải chuyển
các giấy tờ chứng nhận sở hữu hoặc sử dụng các tài sản bảo đảm sang cho ngân
hàng nắm giữ trong thời gian cam kết để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối
với ngân hàng cho vay.
Nhiều tài sản của khách hàng trở thành bảo đảm cho các khoản tài trợ của ngân
hàng song vẫn phải tham gia vào quá trình hoạt động. Những tài sản này khách
hàng không thể cầm cố. Ví dụ như máy móc, trang thiết bị, nhà đất đang trong
quá trình sử dụng, hàng hoá đang trong quá trình luân chuyển. Các loại tài sản
này thường cồng kềnh, phân tán. Hơn nữa việc bán hay chuyển nhượng cũng
không đơn giản. Trừ các ngân hàng, các công ty tài chính có thể nắm giữ nhiều
chứng khoán, tài sản chủ yếu của doanh nghiệp là hàng hoá và tài sản cố định. Vì
vậy, bảo đảm bằng thế chấp rất phổ biến, đặc biệt đối với doanh nghiệp và người
tiêu dùng. Do giá trị của loại tài sản này thường lớn nên doanh nghiệp có thể vay
ngân hàng với quy mô lớn.
Đảm bảo bằng thế chấp cho phép người nhận tài trợ sử dụng tài sản đảm bảo
phục vụ cho hoạt động kinh doanh, đó là một thuận lợi. Tuy nhiên, quá trình sử
dụng sẽ làm biến dạng tài sản, hơn nữa do khả năng kiểm soát của tài sản bảo

Bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay là việc khách
hàng vay dùng tài sản hình thành từ vốn vay để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ
cho chính khoản vay đó đối với ngân hàng cho vay.
Tài sản hình thành từ vốn vay dùng làm bảo đảm tiền vay có các điều kiện sau :
 Xác định được quyền sở hữu hoặc quyền quản lý, sử dụng.
 Có căn cứ để xác định được giá trị, số lượng và phải dễ chuyển nhượng.
 Phải được phép giao dịch, chuyển nhượng theo quy định của pháp luật.

 Với tài sản mà pháp luật có quy định phải mua bảo hiểm thì khách hàng
vay phải mua bảo hiểm trong suốt thời gian vay vốn khi tài sản đã được
hình thành đưa vào sử dụng.
1.3.3 Ưu và nhược điểm của bảo đảm bằng tài sản trong hoạt động cho vay của
NHTM.
1.3.3.1 Ưu điểm.
Việc các ngân hàng yêu cầu khách hàng của mình phải có tài sản bảo đảm khi đi
vay là nhằm đảm bảo món tiền cho vay có thể thu hồi về được nhiều nhất và tránh
rủi ro tín dụng có thể xảy ra do mất vốn. Tức nó là biện pháp để bảo đảm quyền
lợi của nguời cho vay.
Nâng cao trách nhiệm thực hiện cam kết trả nợ của bên vay. Tài sản bảo đảm
bảo cũng có ý nghĩa tác động đến việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ của khách hàng,
nó giúp nhắc nhở khách hàng đi vay phải có kế hoạch trả nợ cụ thể và phải chịu
trách nhiệm về món vay của mình.
Bảo đảm bằng tài sản còn giúp phòng ngừa gian lận.
1.3.3.2 Nhược điểm.
Do tài sản bảo đảm thường xuyên thay đổi giá trị theo sự biến động của thị
trường, nếu giá trị của TSBĐ đến khi xử lý giảm so với giá trị định giá ban đầu sẽ
dẫn đến việc ngân hàng bị thiệt hại về vốn, không thu hồi đủ nợ.
Một số cán bộ ngân hàng do dựa vào TSBĐ của khách hàng nên đã không để ý
đến tình hình tài chính, khả năng thanh toán của khách hàng dẫn đến nhiều rủi ro
có thể xảy ra. TSBĐ không phải là điều kiện duy nhất để cho vay.

cho vay với khách hàng.

Ngoài ra cán bộ tín dụng phải có đạo đức, nhạy bén trong phân tích sự việc để
thẩm định được chính xác, hợp lệ và khách quan. Phải có kiến thức chuyên môn,
nghiệp vụ, nắm vững và vận dụng tốt các quy định của nhà nước và của ngân
hàng để đánh giá chính xác, kịp thời tính pháp lý, giá trị, tính chuyển nhượng, các
yếu tố ảnh hưởng của tài sản được thẩm định. Ngày nay ở trong các ngân hàng thì
vấn đề đạo đức của cán bộ ngân hàng luôn được đặt lên hàng đầu.
Không phải cán bộ tín dụng nào cũng đưa ra một kết luận giống nhau, vì vậy mà
cán bộ tín dụng là nhân tố rất quan trọng trong việc ảnh hưởng đến chất lượng của
tài sản bảo đảm.
1.4.2.1.2 Công tác giám sát khách hàng.
Giám sát khách hàng cũng rất quan trọng, xem xét tình hình kinh doanh của tổ
chức kinh tế, phương án kinh doanh, phương án trả nợ cho ngân hàng. Thường thì
cán bộ ngân hàng thường căn cứ vào báo cáo tài chính khách hàng đưa cho để
theo dõi, tuy nhiên ngoài ra các cán bộ ngân hàng cũng thường xuyên phải xuống
đơn vị để nắm được hoạt động của doanh nghiệp.
Giám sát khách hàng cũng có nghĩa là theo dõi xem khách hàng có ý đồ xấu gì
không như có hiện tượng lừa đảo, chây lỳ không chịu trả nợ, để có phương án giải
quyết kịp thời.
1.4.2.1.3 Một số công tác khác.
Như công tác định giá TSBĐ, công tác quản lý TSBĐ. Để đảm bảo cho khoản
tiền của ngân hàng phát ra cho vay có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi khi
đến hạn, thì khoản vay đo phải được bảo đảm bằng tài sản của người vay. Với
điều kiện giá trị của tài sản đó phải lớn hơn giá trị của khoản vay và giá cả của tài
sản đó phải tương đối ổn định. Nếu trường hợp đến hạn người vay không trả được
nợ, ngân hàng phát mại tài sản thu hồi nợ thì tiền thu về bán tài sản đủ để ngân
hàng thu nợ gốc, lãi và các chi phí khác…Vì vậy, giá trị tài sản đưa ra làm bảo
đảm càng lớn thì mức độ đảm bảo của khoản tín dụng phát ra càng chắc chắn.


đến chất lượng bảo đảm bằng tài sản của ngân hàng.
Thường thì các cán bộ ngân hàng thu thập thông tin tài chính của khách hàng
mình dựa vào các báo cáo tài chính mà khách hàng mang tới, tuy nhiên để nắm rõ
được cụ thể hơn các cán bộ cần phải đi xuống thực tế đơn vị.

1.4.2.3 Nhân tố thuộc về môi trường.
Hàng năm có hàng nghìn văn bản được ban hành : quyết định, nghị định, thông
tư, công văn, chỉ thị…Tuy nhiên không phải văn bản nào cũng đi vào cuộc sống
được, các văn bản chồng chéo lên nhau, thiếu sự thống nhất, đồng bộ. Trong khi
đó ngân hàng là lĩnh vực phức tạp, nhạy cảm, liên quan đến hầu hết các văn bản
pháp luật. Nếu môi trường pháp lý không tốt sẽ gây khó khăn cho ngân hàng và
các chủ thể kinh tế khác trong xã hội, sẽ tạo ra những khe hở pháp luật để cho
những đối tượng xấu lợi dụng, luồn lách
Có những bộ luật tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng
như: Luật các tổ chức tín dụng, Luật Ngân hàng nhà nước…Những luật này quy
định tỷ lệ huy động vốn vủa ngân hàng so với vốn tự có, quy định việc phát hàng
trái phiếu, kỳ phiếu, quy định mức cho vay của NHTM đối với một khách hàng,
quy định về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng…
Vì vậy mà để nâng cao được chất lượng bảo đảm bằng tài sản của NHTM thì
cần phải làm cho môi trường pháp lý tốt hơn nữa, ý thức chấp hành pháp luật tốt
các văn bản ban hành cần phải được đồng bộ, thống nhất, đồng thời, minh bạch,
có tính thực tế.
Ngoài môi trường pháp lý thì môi trường kinh tế cũng là một trong những nhân
tố ảnh hưởng đến chất lượng bảo đảm bằng tài sản trong hoạt động cho vay của
NHTM. Do nền kinh tế càng phát triển thì doanh nghiệp càng phải hoàn thiện

mình hơn, phải có những dự án sản xuất có hiệu quả hơn, và muốn làm được điều
ấy cần phải có một số vốn lớn. Vốn tự có của doanh nghiệp chỉ đáp ứng được
phần nào, còn lại phải đi vay của ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác. Khi đó
càng phải quan tâm đến TSBĐ và chất lượng của nó.

Công thức :
Chỉ tiêu về giá trị Giá trị của khoản vay
khoản vay so với =
giá trị của TSBĐ Giá trị của TSBĐ
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ bù đắp vốn của một tài sản bảo đảm trong trường
hợp khách hàng không thực hiện được nghĩa vụ của mình. Thường thì tuỳ loại tài
sản bảo đảm sẽ cho chỉ tiêu khác nhau, chỉ tiêu này thay đổi theo thời gian do tác
động của nhiều yếu tố. Chỉ tiêu này thường từ 0.5 đến 0.7 là tốt.
Theo quy định của NHNH và chính sách hoạt động của từng ngân hàng thì giá
trị của khoản vay đều được quy định tỷ lệ đối với mỗi tài sản bảo đảm. Nếu
TSBĐ có tính thanh khoản cao, dễ tiêu thụ trên thị trường, ít bị hao mòn vô hình
thì sẽ có tỷ lệ cao hơn những TSBĐ khác.
Chỉ tiêu về giá trị khoản vay so với giá trị của TSBĐ phụ thuộc vào một số yếu
tố như: tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, loại hình
TSBĐ, biến động giá trị của TSBĐ…
1.4.3.3 Chỉ tiêu tỷ trọng dư nợ cho vay không có bảo đảm bằng tài sản so với
dư nợ cho vay có tài sản bảo đảm.
Công thức :
Chỉ tiêu tỷ trọng dư nợ cho Dư nợ cho vay không có BĐ bằng TS

vay không có BĐ bằng TS so =
với dư nợ cho vay có TSBĐ Dư nợ cho vay có TSBĐ

Chỉ tiêu này phản ánh tỷ lệ giữa việc cho vay không có bảo đảm bằng tài sản so
với cho vay có TSBĐ, thường thì tỷ lệ này thấp vì ngân hàng chỉ cho những
khách hàng uy tín, có truyền thống và có khả năng đảm bảo tài chính tốt cho vay
không có bảo đảm bằng tài sản, còn lại hầu hết đều là cho vay có TSBĐ để giúp
ngân hàng có nguồn thu nợ thứ hai chắc chắn và chịu ít rủi ro nhất.
Từ chỉ tiêu này mà ta có thể nhận biết được chính sách mà NHTM đang sử dụng
là chính sách thận trọng hay chính sách mở rộng nhóm khách hàng vay. Nhưng

khách hàng chỉ tiêu này mỗi ngân hàng có một cách đánh giá khác nhau; hay chỉ
tiêu về tỷ trọng các loại tài sản bảo đảm được khách hàng mua bảo hiểm so với
tổng TSBĐ thường thì các loại TSBĐ của khách hàng trong quá trình bảo đảm có
hao mòn hay những tài sản có thể gặp rủi ro thì ngân hàng thường yêu cầu khách
hàng phải mua bảo hiểm.
Chỉ tiêu mức cho vay so với giá trị tài sản bảo đảm, còn tuỳ thuộc vào loại tài
sản bảo đảm thuộc tài sản nào sẽ có mức cho vay tương ứng. Nhưng thông
thường mức cho vay của các NHTM tối đa là 70% giá trị TSBĐ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status