1
Luận văn
Phát triển đội ngũ lao động kỹ
thuật ở thành phố Đà Nẵng -
Thực trạng và giải pháp
2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với các yếu tố quyết định sự phát triển của một nền kinh tế như: ý
tưởng, áp dụng công nghệ cao, hạ tầng cơ sở hiện đại, vốn xã hội thì “vốn con
người”, xét đến cùng là quyết định nhất, cách mạng nhất. Ở Việt Nam, Nghị
quyết Đại hội IX của Đảng đã khẳng định: “con người và NNL là nhân tố
quyết định sự phát triển của đất nước trong thời kỳ CNH, HĐH”, trong đó
LĐKT là bộ phận quan trọng của NNL trở thành lực lượng tiên phong trong
sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Phát triển đội ngũ LĐKT có ý
nghĩa quan trọng trong việc tăng trưởng kinh tế, nâng cao khả năng cạnh tranh
của nền kinh tế trong xu thế hội nhập và phát triển.
Đối với thành phố Đà Nẵng, Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 16 tháng 10
năm 2003 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng
trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước đã xác định phương hướng phát triển
thành phố đến năm 2020 là: “Xây dựng thành phố Đà Nẵng trở thành một
trong những đô thị lớn của cả nước; là trung tâm KT - XH lớn của miền
Trung với vai trò là trung tâm công nghiệp, thương mại, du lịch và dịch vụ; là
thành phố cảng biển, đầu mối giao thông quan trọng về trung chuyển vận tải
HĐH thành phố Đà Nẵng”.
- Tác giả Lê Ngọc Trà với đề tài cấp Sở “Quy hoạch tào tạo NNL tỉnh
Bình Thuận giai đoạn 2002-2010”.
- Tác giả Nguyễn Đức Tĩnh với đề tài thạc sĩ “Hoàn thiện quản lý nhà
nước về đào tạo nghề ở nước ta hiện nay”.
- Tác giả Phạm Kim Sơn với đề tài cấp thành phố “Chính sách phát triển
nhân lực và thu hút nhân tài công nghệ thông tin thành phố Đà Nẵng”.
- Tác giả Đỗ Thị Xuân Phương với luận án tiến sỹ kinh tế “Phát triển thị
trường sức lao động giải quyết việc làm”.
- Tác giả Nguyễn Hữu Chí với đề tài thạc sĩ “Những giải pháp về quản lý
nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội”.
Ở nhiều góc độ, cấp độ nghiên cứu khác nhau, các công trình khoa học
nêu trên đã làm rõ những yêu cầu về lý luận cũng như thực tiễn xoay quanh
nội dung phát triển NNL.
4
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu nêu trên còn đặt ra cho luận văn
cần phải phát triển thêm một số vấn đề:
- Về lý luận: Làm rõ thêm một số vấn đề liên quan về LĐKT, đặc trưng
của LĐKT, phát triển LĐKT và yêu cầu phát triển LĐKT; LĐKT và nền kinh
tế tri thức; đổi mới công tác quản lý nhà nước về đào tạo LĐKT trong tiến
trình hội nhập kinh tế quốc tế.
- Về thực trạng: Bổ sung phân tích, đánh giá thực trạng cung - cầu
LĐKT, các yếu tố tác động đến phát triển LĐKT.
- Về giải pháp: Bổ sung mô hình, cơ sở dự báo phát triển lao động kỹ thuật.
Đề xuất thêm một số giải pháp phát triển LĐKT theo định hướng thị trường.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
3.1. Mục đích
Phân tích, đánh giá tình hình đào tạo, phát triển, sử dụng LĐKT, từ đó đề
- Về thực tiễn: Đóng góp những giải pháp để phát triển LĐKT phục vụ sự
nghiệp CNH, HĐH thành phố Đà Nẵng; luận văn làm rõ thêm xu hướng đào
tạo LĐKT theo định hướng cầu thị trường.
- Là tài liệu nghiên cứu, tham khảo về phát triển LĐKT để ngành Lao
động-Thương binh và Xã hội giúp Uỷ ban nhân dân thành phố nâng cao hiệu
quả quản lý nhà nước về đạo tạo LĐKT, đảm bảo phát triển đội ngũ LĐKT
phục vụ CNH, HĐH thành phố.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn được kết cấu gồm 3 chương, 11 tiết.
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về LĐKT và vai trò của nó trong quá
trình CNH, HĐH và hội nhập ở nước ta.
Chương 2: Thực trạng đội ngũ LĐKT ở thành phố Đà Nẵng.
Chương 3: Phương hướng và những giải pháp chủ yếu để phát triển đội
ngũ LĐKT ở thành phố Đà Nẵng đến năm 2010.
6
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LAO ĐỘNG KỸ THUẬT
VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ,
HIỆN ĐẠI HOÁ VÀ HỘI NHẬP Ở NƯỚC TA
1.1. LAO ĐỘNG KỸ THUẬT VÀ PHÁT TRIỂN LAO ĐỘNG KỸ THUẬT
TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ VÀ HỘI NHẬP Ở
NƯỚC TA
1.1.1. Khái niệm và đặc trưng của lao động kỹ thuật
Cho đến nay thuật ngữ “LĐKT” còn có những quan niệm khác nhau ở
nhiều tài liệu trong thực tế. Để làm rõ khái niệm “LĐKT” cần tìm hiểu các
khái niệm liên quan:
doanh thì khái niệm “LĐKT” cũng cần mở rộng ra, nghiên cứu thống nhất
trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Với cách tiếp cận mới hơn, nhóm tác giả Đỗ Minh Cương và Mạc Văn Tiến
với đề tài khoa học độc lập cấp nhà nước “Phát triển LĐKT ở Việt Nam giai đoạn
2001-2010” khái niệm “LĐKT (theo nghĩa hẹp) là loại lao động được đào tạo,
được cấp bằng hoặc chứng chỉ của các bậc đào tạo trong hệ thống giáo dục nghề
nghiệp của hệ thống giáo dục quốc dân, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động
và có kỹ năng hành nghề để thực hiện các công việc có độ phức tạp với các công
nghệ khác nhau, phù hợp với ngành nghề ở các cấp trình độ khác nhau, trực tiếp
tạo ra sản phẩm hàng hoá và dịch vụ phục vụ quốc kế dân sinh” [11, tr.21].
Với khái niệm này, LĐKT phải có hai điều kiện:
- Điều kiện 1: Được cấp bằng hoặc chứng chỉ của các bậc đào tạo trong
hệ thống giáo dục nghề nghiệp của hệ thống giáo dục quốc dân.
- Điều kiện 2: Đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động và có kỹ năng
hành nghề để thực hiện các công việc có độ phức tạp với các công nghệ khác
nhau, phù hợp với ngành nghề ở các cấp trình độ khác nhau, trực tiếp tạo ra
sản phẩm hàng hoá và dịch vụ phục vụ quốc kế dân sinh.
Tuy nhiên, trong thực tế đời sống sản xuất kinh doanh vẫn tồn tại một đội
ngũ lao động do nhiều nguyên nhân chưa đáp ứng điều kiện 1, nhưng do tích
luỹ kinh nghiệm, họ có thể đáp ứng điều kiện 2. Nếu xem điều kiện 1 là thủ
tục để có thể học thêm, được cấp bằng, chứng chỉ, thì khái niệm “LĐKT” có
thể nghiên cứu mở rộng thêm cho cả đối tượng này.
8
Còn trong “Thuật ngữ LĐ-TB&XH” tiếp cận khái niệm “LĐKT” thực tế
hơn. “LĐKT sản xuất kinh doanh là người lao động có trình độ kỹ năng và kỹ
xảo nhất định thông qua đào tạo hoặc tích luỹ kinh nghiệm thực tế, đảm
nhiệm được những công việc phức tạp, đáp ứng được các yêu cầu kỹ thuật -
công nghệ, có khả năng truyền nghề và DN” [4, tr.15]. Theo khái niệm này,
luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ, mà thị trường lao động cần nó chủ
yếu là để trực tiếp điều hành máy móc, thiết bị, công nghệ có độ phức tạp
khác nhau để tạo ra sản phẩm hàng hoá và dịch vụ có ích cho xã hội”.
Thuật ngữ LĐKT theo cách hiểu này cũng rất phù hợp với Quyết định số
201/2001/QĐ-TTG ngày 28 tháng 12 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về
việc phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, Quyết định số
48/2002/QĐ-TTg ngày 11 tháng 4 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ về
việc quy hoạch mạng lưới trường DN giai đoạn 2002-2010 và Luật Giáo dục
năm 2005. Theo đó, chủ trương “hình thành hệ thống đào tạo kỹ thuật thực
hành đáp ứng nhu cầu phát triển KT - XH, trong đó chú trọng phát triển đào
tạo nghề ngắn hạn và đào tạo công nhân kỹ thuật, kỹ thuật viên, nhân viên
nghiệp vụ có trình độ cao” và “mở rộng đào tạo công nhân kỹ thuật, kỹ thuật
viên và nhân viên nghiệp vụ theo nhiều trình độ; liên thông giữa các ngành
nghề, các trình độ đào tạo nghề và với các trình độ đào tạo khác trong hệ
thống giáo dục quốc dân”.
Ngoài ra, có thể tìm hiểu các khái niệm liên quan trong sơ đồ 1.1.
- Lao động chuyên môn: Là loại lao động được đào tạo và cấp bằng một
ngành chuyên môn nào đó trong phân hệ giáo dục ĐH và sau ĐH của hệ
thống giáo dục quốc dân, có năng lực nghiên cứu, sáng tạo, giải quyết những
vấn đề KH - CN ở trình độ cao, mà thị trường lao động cần họ chủ yếu là đảm
nhiệm những công việc quản lý, những công việc rất phức tạp, những hoạt
động đảm bảo quá trình sản xuất liên tục và hiệu quả (lao động gián tiếp). Họ
là những người quản lý, nghiên cứu, chuyên gia…, được đào tạo mang tính
hàn lâm, coi trọng lý thuyết và có khả năng chuyển sang làm các công việc
của LĐKT thì phải bổ sung hoặc nâng cao kỹ năng thực hành qua chương
trình đào tạo liên thông.
10
Sơ đồ 1.1: Phân loại LLLĐ
(giản đơn)
LĐKT
(có bằng/chứng chỉ)
LĐKT
(chưa bằng/chứng chỉ)
Dạy nghề
Sơ cấp nghề
Trung cấp nghề
CĐ nghề Thị
trường
lao
động
(lao
động
trực
tiếp
SXKD)
Lao động chuyên môn
( hàn lâm) 11
người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn
thành khoá học”.
đời nhiều sản phẩm có giá trị, suy cho đến cùng, nhân tố giữ vai trò quyết
định là trình độ, năng lực của con người, trong đó đội ngũ LĐKT phải là lực
lượng “xung kích”, đón đầu sự biến đổi đó.
Thứ tư, Có thể học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề ở các
trình độ cao hơn bằng chính sách học liên thông. LĐKT có thể nâng cao trình
độ từ bán lành nghề, đến lành nghề và trình độ cao hoặc có thể bổ sung những
phần chưa học để liên thông với phân hệ giáo dục ĐH và trên ĐH trong hệ
thống giáo dục quốc dân.
1.1.2. Khái niệm và nội dung phát triển lao động kỹ thuật
Như trên đã phân tích, LĐKT là bộ phận quan trọng của NNL. Phát triển
LĐKT chính là phát triển NNL ở giai đoạn người lao động trưởng thành.
Phát triển NNL là khái niệm rộng. Theo cách hiểu của các nhà kinh tế, là
phát triển tổng thể tiềm năng của con người, bao gồm cả giai đoạn giáo dục,
đào tạo cho con người chưa trưởng thành và đã trưởng thành. LĐKT là bộ
phận của NNL, phát triển đội ngũ LĐKT chỉ giới hạn ở giai đoạn đã trưởng
thành, bao gồm cả đào tạo mới và đào tạo lại đội ngũ LĐKT theo hướng thực
hành, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động.
Nhóm tác giả Đỗ Minh Cương và Mạc Văn Tiến quan niệm: “Phát triển
LĐKT là quá trình làm biến đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu LĐKT
ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường lao động và của nền KT -
XH trong quá trình CNH, HĐH”[11, tr.37].
Để phát triển LĐKT đáp ứng thị trường lao động hiện nay, một mặt phải
nâng cao tính năng động xã hội của nó, mặt khác thông qua chính sách, cơ
chế và giải pháp, biện pháp của nhà nước và cộng đồng xã hội để không
ngừng giải phóng tiềm năng vô tận của LĐKT, đáp ứng yêu cầu phát triển
kinh tế- xã hội. Như vậy, khi xem xét quá trình phát triển LĐKT phải được
xem xét trong mối quan hệ không thể tách rời với quá trình đào tạo, phân bố,
sử dụng hiệu quả và cả quản lý LĐKT.
13
14
Phát triển về chất lượng LĐKT không phải đơn thuần là không ngừng
nâng cao kỹ năng, khả năng hành nghề của người lao động ở các trình độ
tương ứng độ phức tạp công việc trong đời sống sản xuất xã hội mà còn phải
trau dồi đạo đức nghề nghiệp, tác phong, kỷ luật lao động. Học một nghề ra
thực hành được nghề đó trong thị trường lao động đã khó, nhưng hiểu về nghề
đó, say mê nó thì càng khó hơn.
Phát triển về chất lượng LĐKT còn phải gắn chặt hệ thống chuẩn mực,
đánh giá của thế giới. Chất lượng ở đây phải mang tính “sánh vai” cùng với lực
lượng LĐKT của khu vực và thế giới và tất nhiên hệ thống văn bằng, chứng chỉ
của LĐKT trong nước phải được công nhận ở cấp quốc gia và thế giới.
Thứ ba, biến đổi về cơ cấu LĐKT.
Sự biến đổi cơ cấu LĐKT gắn liền với chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ
cấu lao động. Sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, vùng kinh tế đặt ra áp lực
chuyển đổi cơ cấu LĐKT cho hợp lý. Nghiên cứu biến đổi cơ cấu LĐKT ở
Việt Nam hiện nay trong bối cảnh cuộc cách mạng KH - CN bùng nổ, quá
trình toàn cầu hoá diễn ra với tốc độ nhanh chưa từng thấy, đất nước lại đứng
trước yêu cầu phải rút ngắn quá trình CNH, HĐH, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng hiện đại, vấn đề đặt ra hình thành cơ cấu LĐKT phải thật hợp lý,
phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển KT - XH từng thời kỳ đất nước.
Mặt khác, xem xét biến đổi cơ cấu LĐKT trong phát triển đội ngũ LĐKT
còn phải gắn với phân bố LĐKT cho từng ngành, nghề, vùng kinh tế, mọi sự
phân bố không hợp lý đội ngũ LĐKT, gây ra dư thừa ngành này, thiếu hụt
LĐKT ngành khác sẽ không mang lại hiệu quả KT - XH lớn nhất và gây lãng
phí cho xã hội.
Thực trạng đối với nước ta, đội ngũ lao động CMKT hiện phân bố còn
bất hợp lý giữa các cấp, ngành, vùng kinh tế, nông thôn, thành thị. Đội ngũ
cán bộ khoa học kỹ thuật lại phân bố không đồng đều, phần lớn làm việc ở
các cơ quan trung ương (94,4%); trong các doanh nghiệp số lao động có trình
được trình độ chuyên môn và năng lực sáng tạo của mình trong quá trình sản
xuất. Ở đây vấn đề cần lưu ý là phải căn cứ vào công việc để xếp người, tức là
16
phải trên cơ sở yêu cầu của công việc để tìm người bố trí, sắp xếp. Người có
đào tạo ở chuyên ngành nào phải được làm đúng chuyên ngành được đào tạo,
người có trình độ tay nghề cao được làm việc ở những khâu, những công đoạn
phức tạp, người có trình độ lao động thấp sẽ nhận được khoản thù lao tương
xứng với công sức mình bỏ ra. Điều đó không những góp phần vào việc nâng
cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, mà quan trọng là khuyến khích
người lao động có ý thức nâng cao trình độ, người được đào tạo có điều kiện
cống hiến, thể hiện năng lực của mình trong quá trình sản xuất.
Nói tới vấn đề hiệu quả sử dụng LĐKT còn phải nói tới các chế độ, chính
sách đối với người lao động. Bởi, thông qua chế độ, chính sách đối với người
lao động nếu đặt ra một cách phù hợp, kịp thời sẽ tạo ra khả năng có thể khai
thác tính tích cực, năng động, sáng tạo đối với từng người lao động trong từng
cương vị của mình. Chế độ, chính sách đối với người lao động được thể hiện
ra trên nhiều phương diện như chính sách về tiền lương, các chế độ quyền lợi
được hưởng (cả về vật chất và tinh thần) của người lao động. Để phát huy tối
đa động lực tích cực trong các hoạt động của người lao động đối với công
việc, đòi hỏi các chế độ, chính sách này phải được ban hành đầy đủ, kịp thời,
đảm bảo giải quyết hài hoà về mối quan hệ giữa khả năng cống hiến và các
quyền lợi chính đáng được hưởng thụ của người lao động.
Sử dụng có hiệu quả LĐKT đòi hỏi phải tạo lập thị trường lao động để
mọi người có cơ hội lựa chọn việc làm đúng với năng lực, sở trường của
mình. Nhờ có thị trường lao động mà cung - cầu về LĐKT có điều kiện gặp
nhau. Thông qua thị trường lao động, người sở hữu sức lao động có thể bán
nó đúng giá trị như nó vốn có, ngược lại người bỏ tiền thuê sức lao động cũng
có thể thuê được sức lao động phù hợp với nhu cầu và khả năng của mình.
Thông qua thị trường lao động, các nhu cầu về cung - cầu LĐKT được đáp
một nước công nghiệp thì phải phát huy, huy động mọi nguồn lực, trong đó
nguồn lực con người, đặc biệt là NNL chất lượng cao mà đội ngũ LĐKT là
lực lượng đại diện cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu và tư duy đóng một vai
trò hết sức to lớn.
18
Đối với các nước đang phát triển như đất nước ta, muốn rút ngắn quá
trình CNH, HĐH phải xem giải pháp phát triển đội ngũ LĐKT là giải pháp
mang tính đột phá, đặc biệt trong điều kiện các nguồn lực khác như nguồn lực
tài chính còn hạn hẹp. Vị trí, vai trò của LĐKT được thể hiện ở tất cả các mặt,
lĩnh vực, các quan hệ trong đời sống KT - XH, an ninh, quốc phòng của quốc
gia, đặc biệt có vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng hiện đại, nâng cao khả năng cạnh
tranh của nền kinh tế trong bối cảnh của toàn cầu hoá kinh tế và của nền kinh
tế tri thức.
Thứ nhất, LĐKT với tăng trưởng kinh tế.
Bài toán tăng trưởng kinh tế của bất cứ một quốc gia nào, dù nước đó
giàu hay nghèo cũng đều được giải đáp bằng việc phát huy, sử dụng có hiệu
quả bốn thông số, đó là NNL, nguồn tài nguyên thiên nhiên, vốn và công
nghệ. Tuỳ theo điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia, sử dụng, phát huy định
lượng, tỷ trọng và định tính các nguồn lực trong tăng trưởng kinh tế ở mỗi
quốc gia là rất khác nhau và trình độ kết hợp chúng hiệu quả cũng đem lại kết
quả tăng trưởng kinh tế khác nhau.
Nhiều nhà kinh tế cho rằng, “ vốn, nguyên vật liệu, công nghệ - đều có
thể mua hoặc vay được trong nền kinh tế thế giới. Một nước có thể mua
những thiết bị thông tin viễn thông, máy tính, máy phát điện và máy bay
chiến đấu hiện đại nhất. Thế nhưng những hàng hoá vốn này chỉ có thể được
sử dụng và duy trì hữu hiệu bởi những người công nhân có kỹ năng và được
đào tạo. Trình độ văn hoá, sức khoẻ, kỷ luật được nâng cao và gần đây nhất là
khả năng sử dụng máy tính đã làm cho năng suất lao động tăng thêm rất
Cơ cấu kinh tế luôn ở trạng thái động, hình thành, biến đổi rất khách quan
theo yêu cầu của thị trường, thuộc quyền định đoạt của các chủ thể đầu tư,
kinh doanh, sản xuất trực tiếp và đặc biệt chịu sự tác động mạnh của áp dụng
công nghệ mới. Chính vì vậy, cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh hơn cơ cấu
lao động, thị trường lao động cần loại lao động nào, số lượng, chất lượng, cơ
cấu đào tạo, tay nghề ra sao trong một thời gian đều do xu hướng chuyển dịch
20
cơ cấu kinh tế quyết định và chi phối, không phải do bất cứ một mệnh lệnh
hành chính nào từ phía nhà nước.
Tuy nhiên, chuyển dịch cơ cấu kinh tế không thể nhanh và bền vững
được theo hướng CNH, HĐH và hội nhập một khi cơ cấu lao động quá lạc
hậu và không phù hợp, đây chính là lực cản lớn nhất trong quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đẩy nhanh việc
chuyển dịch cơ cấu lao động, mặt khác chuyển dịch cơ cấu lao động tạo điều
kiện và tiền đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Thúc đẩy việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế để phát huy tiềm năng, thế
mạnh của từng ngành, từng vùng, từng thành phần kinh tế trong sự nghiệp
CNH, HĐH ở nước ta với một tư duy mới là nâng cao hiệu quả và sức cạnh
tranh, lựa chọn những ngành hàng, những sản phẩm và dịch vụ có thể tạo ra
bước đột phá trong tốc độ phát triển nền kinh tế, mà ở đó LĐKT là bộ phận
của cơ cấu lao động, là lực lượng nòng cốt, tiên phong; phát triển đội ngũ
LĐKT là điều kiện, tiền đề để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế tổng thể.
Với ý nghĩa đó, đội ngũ LĐKT có vai trò hết sức to lớn với việc chuyển
dịch cơ cấu kinh tế. Sự thiếu hụt về số lượng, chất lượng, cơ cấu lao động,
bao gồm cả lao động chuyên môn, lao động quản lý, nhà nghiên cứu, các
chuyên gia và đặc biệt là đội ngũ LĐKT có trình độ cao là một cản trở lớn đối
với chuyển dịch cơ cấu kinh tế .
Thành tựu 20 năm đổi mới đất nước vừa qua là đáng ghi nhận và tự hào, tuy
nhiên “cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm”, “tỷ trọng ngành dịch vụ trong GDP
quốc tế lớn như: ASEAN, APEC, ASEM, WTO…, mở rộng quan hệ buôn
bán với 224/225 thị trường của các nước và vùng lãnh thổ, ký 87 hiệp định
thương mại song phương, 350 hiệp định hợp tác phát triển với các nhà tài trợ,
48 hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 42 hiệp định tránh đánh thuế hai
lần, 37 hiệp định hợp tác về văn hoá song phương với các nước và tổ chức
quốc tế. Việc gia tăng quan hệ kinh tế thương mại, gia tăng kim ngạch xuất
khẩu đã góp phần tăng trưởng kinh tế Việt Nam những năm qua. Từ một nước
có mức tăng trưởng kém, đến nay, Việt Nam luôn đạt mức tăng trưởng hơn
22
7%, đứng thứ hai sau Trung Quốc, kim ngạch xuất khẩu đã đóng góp 50%
GDP năm 2004…[46, tr.124-125].
Song, theo đánh giá của thế giới, năng lực cạnh tranh nền kinh tế là vấn
đề thách thức, đáng lo ngại nhất hiện nay. Ngày 26 tháng 9 năm 2006, Diễn
đàn kinh tế thế giới (WEF) công bố, Việt Nam đứng ở vị trí thứ 77 trên tổng
số 125 quốc gia và nền kinh tế được xếp hạng năm 2006, tụt 3 bậc so với năm
2005. Kết quả này dựa trên kết quả khảo sát đối với 11.000 doanh nghiệp
quốc tế và xem xét các nền kinh tế trên 9 tiêu chí: định chế, cơ sở hạ tầng,
kinh tế vĩ mô, y tế và giáo dục phổ thông, đào tạo ĐH, hiệu quả thị trường,
mức độ sẵn sàng về công nghệ, sự thông hiểu về quản lý kinh doanh, và tính
sáng tạo [25]. Trong 9 tiêu chí đó, các chỉ tiêu giáo dục ĐH, mức độ hài lòng
của doanh nghiệp và đặc biệt là chỉ tiêu độ sẵn sàng về công nghệ cũng như
chỉ tiêu hiệu quả của thị trường được xếp thứ hạng thấp.
Tuy những chỉ số này để tham khảo, nhưng không được phép coi nó là
bình thường. Về mặt lượng của một nền kinh tế có thể là tăng trưởng cao,
nhưng tụt hạng năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với tụt hậu xa hơn về mặt chất
của nền kinh tế.
Còn theo báo cáo giám sát giáo dục toàn cầu năm 2005 của UNESCO thì
chỉ số đánh giá tổng hợp về chất lượng NNL, Việt Nam chỉ đạt 32/100 điểm,
thuộc vào nhóm yếu kém nhất, xếp thứ 11 trong 12 quốc gia Châu Á được so
rất cần thiết ở nước ta.
Sự phát triển kinh tế tri thức làm tăng nhu cầu cung cấp NNL chất lượng
cao, đòi hỏi người lao động phải có kiến thức, kỹ năng, năng lực tiếp thu tri
thức mới, có khả năng hội nhập và thích ứng nhanh với môi trường toàn cầu
hoá về kinh tế. Đào tạo NNL chất lượng cao, mà trong đó phát triển lực lượng
LĐKT “cổ trắng” để tạo ra tri thức, sử dụng tri thức vào quá trình sản xuất để
tạo ra những sản phẩm có giá trị gia tăng lớn cho xã hội, có sức cạnh tranh nổi
trội là động lực chủ yếu của phát triển nền kinh tế tri thức. Vì vậy, phải đầu tư
mạnh vào giáo dục, đào tạo LLLĐ, đầu tư vào nghiên cứu KH - CN, phát
triển con người.
24
1.2. MỘT SỐ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN LAO
ĐỘNG KỸ THUẬT
Quá trình phát triển LĐKT chịu nhiều yếu tố tác động. Một yếu tố tác
động đến nhiều nội dung của phát triển LĐKT, một nội dung phát triển LĐKT
lại chịu nhiều yếu tố tác động. Ở góc độ hẹp, quá trình phát triển LĐKT chịu
tác động của các nhân tố như nguồn tuyển chọn, nhu cầu thị trường lao động,
mức đầu tư… (đầu vào), cơ sở vật chất nhà trường, đội ngũ giáo viên, chương
trình, giáo trình, điều kiện thực hành…(khâu tổ chức quá trình đào tạo), thị
trường lao động, lương, thưởng, chính sách đãi ngộ, thu hút nhân tài…(đầu
ra). Nhưng ở góc độ bao quát hơn, trước yêu cầu trình độ ngày càng cao của
nền KT - XH, trên cơ sở xác định các nội dung của quá trình phát triển
LĐKT, quá trình đó chịu tác động của tổng hợp các yếu tố, cả yếu tố nội lực
thuộc khả năng bên trong của LĐKT và môi trường KT - XH, nơi LĐKT
được đào tạo, duy trì, sử dụng và phát triển.
1.2.1. Tác động của yếu tố khoa học - công nghệ
Ngày nay, chúng ta chứng kiến cuộc cách mạng KH - CN mà đại diện
đỉnh cao của nó là công nghệ thông tin và tri thức (hay còn gọi là “cách mạng
số”) đã làm cho thế giới trở nên thu nhỏ lại, thậm chí siêu nhỏ và trở nên
Thứ ba, Tốc độ ứng dụng cũng như phát triển KH - CN luôn đi trước tốc
độ đào tạo LĐKT, thậm chí tốc độ phát triển chóng mặt của một số công nghệ
(máy vi tính, công nghệ viễn thông, rôbốt…), nếu không có chiến lược giáo
dục nghề nghiệp đón đầu thì chưa kịp tốt nghiệp nghề đã không sử dụng, tiếp
cận được những máy móc, thiết bị quá mới, đặc biệt là nhập từ nước ngoài
các công nghệ mới chưa từng thấy, điều đó gây lãng phí xã hội rất lớn.
Thứ tư, các yếu tố KH - CN làm thay đổi thói quen làm việc của LĐKT,
làm việc trong môi trường đa văn hoá, làm việc theo nhóm, làm việc rất năng
động, văn minh hơn, người lao động không được chậm trễ, ỷ lại, trông chờ
mệnh lệnh hành chính mà phải theo mệnh lệnh của máy móc, công nghệ, quy
trình sản xuất nghiêm ngặt, điều đó yêu cầu LĐKT không chỉ giỏi nghề mà
còn phải thay đổi suy nghĩ, phong cách làm việc hiện đại, văn minh.
Thứ năm, việc phát triển và ứng dụng rộng rãi KH - CN sẽ làm thay đổi
cấu trúc LĐKT. Tốc độ biến đổi cấu trúc, cơ cấu LĐKT tỷ lệ thuận với tốc độ