BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
o0o
CÔNG TRÌNH DỰ THI CUỘC THI
SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
NĂM 2009
Tên công trình:
XÂY DỰNG CHUỖI CUNG ỨNG MẶT HÀNG CÁ TRA XUẤT KHẨU
KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
NHÓM NGÀNH : KHOA HỌC XÃ HỘI 1A - XH1a
Họ tên sinh viên : Mai Thùy Dung – Nữ – Dân tộc : Kinh
Lớp : Anh 4 - Khóa: K45A – Khoa : Kinh Tế Đối Ngoại
Họ tên sinh viên : Lê Thanh Phong – Nam – Dân tộc : Kinh
Lớp : Anh 4 - Khóa: K45A – Khoa : Kinh Tế Đối Ngoại
Họ và tên ngƣời hƣớng dẫn : Th.S Nguyễn Thế Anh
Hà Nội, tháng 07 năm 2009 http://svnckh.com.vn
2
TÓM TẮT CÔNG TRÌNH
Với thời gian trên dƣới 15 năm để một sản phẩm chƣa từng đƣợc biết đến, sản
xuất từ một loài cá vốn có giá trị không cao, nhờ sức sáng tạo của ngƣời lao động
Việt Nam kết hợp với đƣờng lối mở cửa, hội nhập của Nhà nƣớc, trở thành một “thế
lực” trên thị trƣờng cá thịt trắng toàn cầu, với sản lƣợng sản phẩm xuất khẩu năm
nghiệp và chuyên môn hóa là ƣu tiên hàng đầu.
Xét trong bối cảnh xu hƣớng của cạnh tranh quốc tế, khi mà sự cạnh tranh
không chỉ đơn thuần là giữa các doanh nghiệp, mà là giữa các chuỗi cung ứng, thì
xây dựng chuỗi cung ứng đƣợc xem nhƣ là một tài sản chiến lƣợc, có tác động quyết
định đến sƣ thành công trong công việc kinh doanh của doanh nghiệp. Mặt khác,
nếu xét góc độ quản lý và vận hành hoạt động sản xuất cá tra xuất khẩu ở Đồng
bằng sông Cửu Long, việc xây dựng mô hình chuỗi cung ứng sẽ cơ bản giúp giải
quyết những hạn chế, tồn tại, từ đó đảm bảo tính hiệu quả và bền vững của ngành.
Trong phạm vi bài nghiên cứu, doanh nghiệp chế biến đƣợc xem là ngƣời khởi
xƣớng và giữ vai trò chủ đạo, do lợi thế về quy mô, tổ chức, tín dụng cũng nhƣ khả
năng tiếp xúc và chi phối nguồn thông tin cho toàn bộ hoạt động của chuỗi so với
các thành phần khác nhƣ ngƣời sản xuất con giống hay các trang trại nuôi cá. Trên
cơ sở đó, việc xây dựng chuỗi cung ứng cho mặt hàng cá tra xuất khẩu ở Đồng Bằng
Sông Cửu Long đƣợc tiếp cận theo hƣớng tạo dựng cơ chế hợp tác trên năm lĩnh
vực – thông tin, sản xuất, hàng tồn kho, vận tải và định vị - giữa các thành phần
trong hoạt động sản xuất thông qua việc thiết kế một mạng lƣới phân phối cho
chuỗi, từ đó khơi thông ba dòng chảy chính của chuỗi cung ứng – dòng thông tin,
dòng hàng hóa và dòng tài chính. Cách tiếp cận này đảm bảo vừa tận dụng đƣợc
những cơ sở vật chất hiện có của hoạt động sản xuất cá tra xuất khẩu, vừa khắc phục
đƣợc tính phi hiệu quả, thiếu bền vững của hoạt động sản xuất hiện tại.
Dựa trên cơ sở lý thuyết về chuỗi cung ứng và xây dựng chuỗi cung ứng thông
qua việc thiết kế mạng lƣới cung ứng phù hợp, kết hợp với những đặc trƣng của
hoạt động sản xuất cá tra ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, nhóm nghiên cứu đã đề
xuất một mô hình chuỗi cung ứng khả thi gắn kết các thành phần tham gia sản xuất,
từ đó khắc phục những tồn tại cho ngành. Để thục hiện mục tiêu này, đề tài kiến
nghị hai nhóm giải pháp đồng bộ, bao gồm nhóm giải pháp vi mô đối với từng thành
phần tham gia vào chuỗi và nhóm giải pháp vĩ mô đối với các Bộ Ban ngành liên
quan đến hoạt động sản xuất cá tra xuất khẩu ở Đồng Bằng Sông Cửu Long. Vấn đề
cốt lõi khi đƣa ra nhóm giải pháp vĩ mô là phải tách bạch giữa vai trò hỗ trợ về mặt
hoạch định chính sách chủ trƣơng, khung pháp ly của các cơ quan chức năng đối với
Đồ thị 1.7: Mối quan hệ giữa chi phí logistics, thời gian đáp ứng đơn hàng
và số lƣợng kho
27
Hình 1.8: Ngƣời sản xuất trữ hàng và giao hàng trực tiếp
28
Bảng 1.9: Đặc điểm hoạt động của Mô hình Ngƣời sản xuất trữ hàng và
giao hàng trực tiếp
29
Hình 1.10: Mạng lƣới In-transit merge
30
Bảng 1.11: Đặc điểm hoạt động của mô hình In-transit merge
31
Hình 1.12: Ngƣời đại lý trữ hàng và giao hàng theo kiện
32
Bảng 1.13: Đặc điểm hoạt động của Ngƣời đại lý trữ hàng và giao hàng
theo kiện
33
Hình 1.14: Ngƣời đại lý trữ hàng và giao hàng chặng cuối
34
Bảng 1.15: Đặc điểm hoạt động của mô hình Ngƣời đại lý trữ hàng và giao
hàng chặng cuối
35
Hình 1.16: Mô hình Ngƣời sản xuất/ngƣời đại lý trữ hàng và khách hàng
tự lấy hàng
36
Bảng 1.17: Đặc điểm hoạt động của mạng lƣới phân phối qua các điểm
giao hàng
36
Bảng 1.18: Đặc điểm hoạt động của mô hình Ngƣời bán lẻ trữ hàng và
khách hàng tự lấy hàng
Hình 2.5: Đồ thị sản lƣợng và kim ngạch cá tra, giai đoạn 2000 – 2008
48
Hình 2.6: Biểu đồ cơ cấu thị trƣờng xuất khẩu cá tra của Việt Nam năm
2008
49
Hình 3.1: HTX đóng vai trò là “Ngƣời đại lý trữ hàng”của các cơ sở nuôi
trồng và giao hàng theo kiện cá nguyên liệu cho Doanh nghiệp chế biến
66
Hình 3.2. Mô hình chuỗi cung ứng đề xuất cho hoạt động sản xuất cá tra
xuất khẩu ở ĐBSCL.
69
http://svnckh.com.vn
7
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT CÁ TRA XUẤT
KHẨU Ở KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 49
2.1. TỔNG QUAN VỀ VỊ TRÍ NGÀNH SẢN XUẤT CÁ TRA XUẤT KHẨU
CỦA KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG (ĐBSCL) 49
2.2. KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH SẢN XUẤT CÁ TRA XUẤT
KHẨU Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 50
2.2.1 Ngành nuôi trồng cá tra 50
2.2.2 Các ngành cung ứng khác 52
2.2.3 Ngành chế biến cá tra 55
2.2.4 Hoạt động xuất khẩu cá tra 57
2.2.5 Thực trạng sự liên kết giữa các khâu trong quá trình sản xuất cá tra xuất
khẩu ở Đồng bằng sông Cửu Long 59
2.3 ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG CỦA MÔ HÌNH HỢP NHẤT THEO
3.3 MÔ HÌNH CHUỖI CUNG ỨNG ĐỀ XUẤT CHO HOẠT ĐỘNG SẢN
XUẤT CÁ TRA XUẤT KHẨU Ở KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU
LONG. 76
3.3.1 Các thành phần chính tham gia vào chuỗi cung ứng 76
3.3.2 Lựa chọn hình thức phân phối phù hợp với đặc thù của sản phẩm: 77
3.3.3 Doanh nghiệp chế biến là ngƣời khới xƣớng và giữ vai trò chủ đạo
trong chuỗi cung ứng. 79
3.3.4 Mô hình chuỗi cung ứng cá tra xuất khẩu ở khu vực ĐBSCL 80
3.3.5 Cơ chế hợp tác giữa các thành phần chính trong chuỗi cung ứng đề xuất 82
3.4 KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG HIỆU QUẢ MÔ HÌNH CHUỖI
CUNG ỨNG CÁ TRA XUẤT KHẨU CỦA KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG
CỬU LONG 90
3.4.1. Nhóm giải pháp đối với các thành phần chính tham gia trong chuỗi 91
3.4.2. Nhóm giải pháp vĩ mô 93
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 96
KẾT LUẬN CHUNG 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
A. Tài liệu tiếng Việt 99
http://svnckh.com.vn
9
B. Tài liệu tiếng Anh 99
PHỤ LỤC 100
Phụ lục 1: Bản đồ khu vực Đồng bằng sông Cửu Long 100
Phụ lục 2: Giải thích một số thuật ngữ về tiêu chuẩn VSATTP 101
Phụ lục 3: Quyết định số 102/2008/QĐ-BNN 101
với sản lƣợng nuôi tăng 50 lần, vƣợt 1,2 triệu tấn, giá trị xuất khẩu tăng 65 lần, đạt
gần 1,5 tỷ USD mỗi năm và xuất khẩu tới 126 quốc gia trên thế giới
2
. Sự phát triển
nhảy vọt của ngành sản xuất cá tra đƣợc các chuyên gia quốc tế thán phục là “thần
kỳ”.
Đồng bằng sông Cửu Long là khu vực có những lợi thế mà ít các khu vực
khác trên thế giới có đƣợc về sản xuất cá tra. Sản lƣợng cá tra ở Đồng bằng sông
Cửu Long đã đƣa Việt Nam trở thành nƣớc có sản lƣợng cá tra hàng đầu trên thế
giới, những sản phẩm cá tra cũng Việt Nam đang trở nên phổ biến với ngƣời tiêu
dùng quốc tế. Tuy nhiên, sự phát triển quá nóng của ngành sản xuất cá tra ở khu vực
Đồng bằng sông Cửu Long đã đặt ra nhiều vấn đề, nhƣ: tính tự phát, thiếu quy
hoạch trong nuôi trồng và chế biến dẫn đến sự thiếu ổn định trong cung cầu nguyên
liệu, không đảm bảo các tiêu chuẩn chất lƣợng vệ sinh an toàn thực phẩm, khó truy
xuất nguồn gốc (traceability) cũng nhƣ mâu thuẫn lợi ích giữa ngƣời nuôi trồng và
doanh nghiệp chế biến cùng những thách thức trong việc liên kết các khâu trong
chuỗi cung ứng… Những thách thức này không đƣợc giải quyết sớm sẽ có ảnh
hƣởng xấu đến hình ảnh con cá tra của Việt Nam trên trƣờng quốc tế. Nhận thấy
đƣợc những thách thức và lợi thế cạnh tranh cũng nhƣ tầm quan trọng của cá tra,
ngày 18/03/2009 vừa qua, Thủ tƣớng Nguyễn Tấn Dũng đã chí đạo các bộ ngành
liên quan và VASEP khẩn trƣơng xây dựng đề án Phát triển sản xuất và tiêu thụ cá
tra đến năm 2020, nhằm đƣa cá tra trở thành ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Đất
nƣớc. Đây cũng chính là lý do tại sao mà nhóm nghiên cứu đã lựa chọn chuỗi cung
ứng cá tra xuất khẩu là đối tƣợng nghiên cứu và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long
là giới hạn địa lý. 1
Cá basa (Pangasius bocourt) là một loài thuộc họ cá tra, do đó trong các báo cáo nghiên cứu thì cá tra, cá
basa đều đƣợc gọi chung là cá tra. Do vậy trong bài nghiên cứu này chúng tôi gọi chung đây là mặt hàng cá
nghiên cứu khoa học năm 2009” do Trƣờng Đại học Ngoại Thƣơng tổ chức.
2. MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu:
Vận dụng lý thuyết về xây dựng chuỗi cung ứng từ đó đề xuất giải pháp xây
dựng chuỗi cung ứng mặt hàng cá tra xuất khẩu của khu vực đồng bằng sông Cửu
Long.
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
http://svnckh.com.vn
12
Trên cơ sở tìm hiểu lý thuyết chuỗi cung ứng, phân tích thực trạng hoạt động
sản xuất cá tra xuất khẩu, đánh giá mối liên kết giữa các thành phần tham gia cũng
nhƣ điểm mạnh điểm yếu của mô hình sản xuất cá tra xuất khẩu hiện tại ở khu vực
Đồng bằng sông Cửu Long, từ đó đề xuất giải pháp xây dựng thành công chuỗi cung
ứng mặt hàng cá tra xuất khẩu ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long
3. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu:
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là mô hình chuỗi cung ứng cá tra xuất khẩu
ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Không gian nghiên cứu là khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Thời gian nghiên cứu giới hạn trong khoảng từ năm 2000 đến nay. Trong đó
tập trung vào khoảng thời gian sau năm 2003
3
đến đầu năm 2009. Năm 2003 là mốc
thời gian quan trọng đánh dấu sự phát triển mạnh của hoạt động xuất khẩu cá tra cả
về số lƣợng, kim ngạch lẫn vị thế.
3.3 Những giả định nghiên cứu
Chuỗi cung ứng đƣợc xây dựng trong điều kiện ổn định, không chịu ảnh
khu vực ĐBSCL hoạt động một cách hiệu quả?
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài áp dụng phƣơng pháp nghiên cứu ứng dụng. Bên cạnh đó, các phƣơng
pháp nghiên cứu phân tích, phƣơng pháp so sánh cũng đƣợc sử dụng nêu bật những
ƣu điểm của mô hình chuỗi cung ứng (liên kết theo chuỗi) so với mô hình hợp nhất
hóa theo ngành dọc cũng nhƣ sự lựa chọn chủ thể khởi xƣớng và đóng vai trò chủ
đạo trong chuỗi cung ứng, lựa chọn mô hình cung ứng phù hợp với đặc điểm của
ngành sản xuất cá tra xuất khẩu.
6. NGUỒN SỐ LIỆU
Nguồn số liệu thứ cấp trong các năm từ 2000 đến nay đƣợc thu thập từ: Hiệp
hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), Trung tâm khoa học –
thông tin – kinh tế thủy sản, Cục nuôi trồng thủy sản – Bộ NN&PTNT, Đề án sản
xuất và tiêu thụ cá tra vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020.
7. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU DỰ KIẾN
Trƣớc hết, bài nghiên cứu sẽ làm sáng tỏ khái niệm và cấu trúc của chuỗi
cung ứng, cũng nhƣ các mô hình xây dựng mạng lƣới cung ứng.
Tiếp đó, đƣa ra một mô hình hiệu quả và phù hợp với thực trạng hiện tại của
ngành sản xuất cá tra xuất khẩu. Dựa trên cơ sở đó, bài nghiên cứu có thể kiến nghị
bổ sung, xây dựng thêm hoặc củng cố những cơ sở còn thiếu hoặc chƣa đáp ứng
đƣợc yêu cầu của mô hình, nhằm mục đích hoàn thiện chuỗi cung ứng cá tra xuất
khẩu tại Việt Nam.
http://svnckh.com.vn
14
8. CÁC BƢỚC MỞ RỘNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO
Mô hình chuỗi cung ứng có thể đƣợc phát triển hƣớng đến một thị trƣờng
nhất định, nhƣ EU hay Bắc Mỹ, tức là vƣợt qua giới hạn không gian về cầu cảng/
sân bay (phụ thuộc vào đặc điểm của từng thị trƣờng về thị hiếu, phân phối…)
Mặt khác, mô hình chuỗi cung ứng trong điều kiện ổn định sẽ là cơ sở để CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHUỖI CUNG ỨNG VÀ XÂY
DỰNG CHUỖI CUNG ỨNG
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHUỖI CUNG ỨNG (SUPPLY CHAIN)
1.1.1 Khái niệm chuỗi cung ứng
1.1.1.1 Một số định nghĩa về chuỗi cung ứng (Supply Chain)
Thuật ngữ “quản lý chuỗi cung ứng” xuất hiện cuối những năm 1980 và trở
nên phổ biến trong những năm 1990. Trƣớc đó, các công ty sử dụng các thuật ngữ
nhƣ “hậu cần” (logistics) và “quản lý các hoạt động” (Operations management).
Dƣới đây là một vài định nghĩa về chuỗi cung ứng:
“Chuỗi cung ứng là sự liên kết các công ty nhằm đƣa sản phẩm hay dịch vụ
vào thị trƣờng” – “Fundaments of Logistics Management” của Lambert, Stock và
Ellram (1998, Boston MA: Irwin/McGraw – Hill, c.14)
“Chuỗi cung ứng là một mạng lƣới các lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm
thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành bán sản
phẩm, thành phẩm, và phân phối chúng cho khách hàng” “An introduction to supply
chain management” Ganesham, Ran and Terry P. Harrison, 1995
“Chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có liên quan, trực tiếp hay gián
tiếp, đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng. Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm nhà
sản xuất và nhà cung cấp, mà còn bao gồm cả nhà vận chuyển, kho bãi, ngƣời bán lẻ
và bản thân khách hàng. Trong mỗi tổ chức, nhƣ nhà sản xuất, chuỗi cung ứng bao
gồm (nhƣng không giới hạn) việc phát triển sản phẩm mới, marketing, điều hành
sản xuất, phân phối, tài chính và dịch vụ khách hàng.” – (Supply chain management:
Strategy, planning and operation”, tác giả Sunil Chopra và Peter Meindl, 2001,
Upper Saddle Riverm NI: Prentice Hall C1.)
Nhìn chung, các khái niệm trên đều quan niệm rằng chuỗi cung ứng là sự liên
kết các công ty ở các giai đoạn từ cung ứng nguyên vật liệu đầu vào cho đến chế
dòng chảy thông tin, và dòng chảy tài chính. Và một chuỗi cung ứng hoạt động tốt
khi ba dòng chảy trên vận hành một cách xuyên suốt, không bị gián đoạn.
- Thứ nhất, dòng hàng hóa là luồng nguyên vật liệu từ nhà cung cấp tới nhà sản
xuất, và luồng sản phẩm dịch vụ từ nhà sản xuất tới khách hàng. Một khi dòng hàng
hóa vận chuyển trong chuỗi một cách liên tục, không bị gián đoạn (tức là hàng tồn
http://svnckh.com.vn
17
kho của doanh nghiệp thấp) khi đó doanh nghiệp sẽ cắt giảm đƣợc chi phí tồn kho.
Tùy đặc điểm của mỗi loại mặt hàng, mỗi thị trƣờng mà doanh nghiệp sẽ để mức tồn
kho phù hợp, sao cho luồng hàng hóa vận chuyển một cách liên tục nhất có thể, cắt
giảm đƣợc chi phí, tăng lợi nhuận cho toàn bộ chuỗi.
- Thứ hai, dòng thông tin là dòng thông tin trao đổi giữa các mắt xích trong
chuỗi, những phản hồi từ khách hàng và các đơn vị trong chuỗi. Dòng thông tin
trong chuỗi cung ứng có vai trò vô cùng quan trọng, đây là nền tảng để đƣa ra quyết
định liên quan đến kế hoạch sản xuất, kết nối tất cả các hoạt động trong chuỗi cung
ứng. Khi thông tin chính xác, kịp thời và đầy đủ thì các mắt xích trong chuỗi sẽ có
các quyết định càng chuẩn xác. Thông tin từ cung cầu sản phẩm, phản hồi từ khách
hàng, dự báo thị trƣờng và kế hoạch sản xuất đƣợc các thành phần trong chuỗi chia
sẻ với nhau càng nhiều thì chuỗi sẽ đáp ứng càng nhanh và càng thỏa mãn nhu cầu
của khách hàng tốt hơn.
- Thứ ba đó là dòng tài chính: Đi ngƣợc với dòng hàng hóa từ nhà cung cấp tới
khách hàng là dòng tài chính. Đó chính là luồng tài chính từ ngƣời mua tới ngƣời
bán hoặc dòng tài chính mà các thành phần trong chuỗi hỗ trợ, chia sẻ cho nhau
vay… Dòng tài chính lƣu thông càng nhanh thì hiệu quả của chuỗi cung ứng càng
tăng, giảm thiểu chi phí do bị gián đoạn dòng lƣu chuyển tiền tệ.
Trong thời đại ngày nay, chuỗi cung ứng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Bởi lẽ khi doanh nghiệp bƣớc vào qu
bối cảnh cạnh tranh khốc liệt ở thị
Đặc điểm của mỗi chuỗi cung ứng các sản phẩm khác nhau thì khác nhau và
chúng gặp phải những thách thức và hƣớng tới những kiểu nhu cầu thị trƣờng khác
nhau. Tuy nhiên, bất kỳ một chuỗi cung ứng nào cũng sẽ gặp phải các vấn đề cơ bản
giống nhau - các thành phần cơ bản của một chuỗi cung ứng. Dây chuyền cung ứng
đƣợc cấu tạo từ 5 thành phần cơ bản, bao gồm: Sản xuất, hàng tồn kho, định vị, vận
chuyển và thông tin.
Sản xuất: là năng lực của chuỗi cung ứng để sản xuất và tồn trữ sản phẩm.
Các phƣơng tiện sản xuất là các nhà máy và kho. Các quyết định của doanh nghiệp
sẽ phải trả lời cho các câu hỏi: thị trƣờng muốn loại sản phẩm nào? Cần sản xuất
bao nhiêu loại sản phẩm và khi nào? Hoạt động này bao gồm việc lập kế hoạch sản
http://svnckh.com.vn
19
xuất chính theo công suất nhà máy, cân đối công việc, quản lý chất lƣợng và bảo trì
thiết bị
Hàng tồn kho: Hàng tồn kho có mặt trong suốt chuỗi cung ứng và bao gồm
từ nguyên liệu đến bán thành phẩm, đến thành phẩm đƣợc các nhà sản xuất, nhà
phân phối và nhà bán lẻ trong chuỗi cung ứng nắm giữ. Chức năng của hàng tồn là
bộ phận giảm xóc cho tình trạng bất định trong chuỗi cung ứng. Doanh nghiệp sẽ
phải quyết định khi cân nhắc giữa tính sẵn sàng đáp ứng với tính hiệu quả. Tồn kho
một lƣợng hàng lớn cho phép chuỗi cung ứng đáp ứng nhanh với những thay đổi về
nhu cầu của khách hàng. Tuy nhiên, việc sản xuất và lƣu trữ bảo quản hàng tồn kho
tốn kém. Tồn kho cũng phụ thuộc vào đặc tính bảo quản lƣu kho, vòng đời của
nguyên liệu, bán thành phẩm và thành phẩm. Trong một chuỗi cung ứng, doanh
nghiệp thƣờng phải trả lời các câu hỏi sau: Ở mỗi giai đoạn trong một chuỗi cung
ứng cần tồn kho những mặt hàng nào? Cần dự trữ bao nhiêu nguyên liệu, bán thành
phẩm hay thành phẩm?
Định vị (vị trí): Định vị là việc chọn địa điểm về mặt địa lý của các phƣơng
tiện của chuỗi cung ứng bao gồm các quyết định liên quan đến những hoạt động cần
Với các cách thức vận chuyển có các đặc thù, ƣu nhƣợc điểm khác nhau, vì
vậy các nhà quản lý cần lập ra lộ trình và mạng lƣới di chuyển sản phẩm dựa trên
nguyên tắc chung là giá trị sản phẩm càng cao (nhƣ mặt hàng điện tử, dƣợc phẩm,)
mạng lƣới vận chuyển càng nhấn mạnh tính đáp ứng nhanh và giá trị sản phẩm thấp
có thể bảo quản lâu (nhƣ gạo, gỗ…) thì mạng lƣới vận chuyển càng nhấn mạnh đến
tính hiệu quả.
Thông tin: Thông tin là nền tảng đƣa ra quyết định liên quan đến bốn yếu tố
dẫn dắt chuỗi cung ứng đã đề cập ở trên, là sự kết nối giữa tất cả các hoạt động và
hoạt động sản xuất trong chuỗi cung ứng. Khi sự kết nối này là một sự kết nối vững
chắc (tức là thông tin chính xác, kịp thời và đầy đủ), các mắt xích trong chuỗi cung
ứng sẽ có các quyết định chính xác cho hoạt động riêng của họ. Đây cũng là xu
hƣớng tối đa hóa tính lợi nhuận toàn chuỗi cung ứng. Trong bất kỳ chuỗi cung ứng
nào, thông tin đều đƣợc sử dụng vì hai mục đích chính. Thứ nhất, thông tin dử
dụng để phối hợp các hoạt động hàng ngày (quyết định kế hoạch sản xuất, mức tồn
kho, lộ trình vận chuyển, và vị trí lƣu trữ). Thứ hai, thông tin dùng để tiên đoán và
lập kế hoạch sản xuất dài hạn và thỏa mãn nhu cầu tƣơng lai, đặc biệt trong việc rút
lui khỏi thị trƣờng cũ hay thâm nhập thị trƣờng mới. Xét về tổng thể chuỗi cung
ứng, sự cân nhắc giữa tính đáp ứng nhanh với tính hiệu quả mà các công ty thực
hiện là một trong các quyết định về lƣợng thông tin có thể chia sẻ với các đối tác
khác trong chuỗi và lƣợng thông tin phải giữ bí mật. Thông tin về cung cầu sản
http://svnckh.com.vn
21
phẩm, phản hồi từ khách hàng, dự báo thị trƣờng và kế hoạch sản xuất mà các công
ty chia sẻ với nhau càng nhiều thì chuỗi cung ứng đáp ứng càng nhanh. Tuy nhiên,
công khai thông tin thế nào là hợp lý để tránh bị tiết lộ cho đối thủ cạnh tranh là
một vấn đề mà các đối tác trong chuỗi cần lƣu ý.
Hình 1.1 Sơ đồ năm yếu tố dẫn dắt chủ yếu của một chuỗi cung ứng
4. VẬN CHUYỂN
Chuyên chở sản phẩm
bằng cách nào? Khi nào?
3. VỊ TRÍ
Nơi nào tốt nhất cho hoạt
động nào?
5. THÔNG TIN
Cơ sở để ra
quyết định
http://svnckh.com.vn
22
Mô hình chuỗi cung ứng mở rộng (phức tạp) ngoài ba mắt xích đã xuất hiện
ở chuỗi cung ứng đơn giản còn có thêm ba mắt xích thành viên nữa, đó là: nhà cung
ứng của nhà cung ứng (nhà cung ứng cuối cùng tại điểm đầu của chuỗi cung ứng mở
rộng), khách hàng của khách hàng (khách hàng cuối cùng tại điểm cuối của chuỗi
cung ứng mở rộng), và cuối cùng là các công ty cung cấp dịch vụ cho các công ty
khác trong chuỗi cung ứng. Đây là những công ty cung cấp dịch vụ hậu cần, tài
chính, tiếp thị, và công nghệ thông tin. Các công ty cung cấp dịch vụ hậu cần tùy
thuộc vào đặc điểm mỗi chuỗi khác nhau có thể có các công ty cung cấp dịch vụ
khác nhau, ví dụ nhƣ chuỗi cung ứng mặt hàng thủy sản, ngoài các công ty cung cấp
dịch vụ về tài chính, tiếp thị, nghiên cứu thị trƣờng còn có các công ty cung cấp dịch
vụ thuốc thú y, thức ăn chăn nuôi…
Trong bất kỳ một chuỗi cung ứng luôn có sự kết hợp nhịp nhàng các thành
phần (hay còn gọi là các mắt xích) trong chuỗi cung ứng, và mỗi mắt xích sẽ thực
hiện chức năng khác nhau. Sau đây là các mắt xích điển hình trong chuỗi cung ứng
Nhà sản xuất: Các nhà sản xuất hay chế biến là các công ty làm ra sản
phẩm, gồm các nhà sản xuất nguyên liệu và các công ty sản xuất thành phẩm. Các
nhà máy sản xuất thành phẩm sử dụng nguyên liệu và các sản phẩm gia công của
chuyên môn và các kỹ năng đặc biệt nhằm tập trung vào một hoạt động đặc thù mà
chuỗi cung ứng cần. Chính nhờ sự chuyên môn hóa này, các nhà cung cấp dịch vụ
có thể thực hiện các dịch vụ hiệu quả hơn và ở một mức giá tốt hơn các nhà sản
xuất, nhà bán lẻ, nhà phân phối, hay khách hàng tự làm.
Hình 1.2: Cơ cấu chuỗi cung ứng
Mô hình chuỗi cung ứng đơn giản Mô hình chuỗi cung ứng mở rộng
Nhà cung cấp
Nhà sản xuất
Khách hàng
Nhà cung
cấp cuối
cùng
Nhà cung
cấp
Nhà sản
xuất
Khách
ổn định đƣợc nguồn cung nguyên liệu, giảm chi phí giao dịch, khắc phục khiếm
khuyết của thị trƣờng…
Tuy nhiên trải qua quá trình phát triển, các mô hình trên bộc lộ nhiều hạn chế
và xuất hiện những rủi ro tiềm ẩn: nhƣ phải chia sẻ nguồn lực doanh nghiệp, không
tận dụng tối đa nguồn lực, tính chuyên môn hóa chƣa cao, kém nhạy cảm với các
biến cố, triệt tiêu tính cạnh tranh… Cộng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và
quản lý tiên tiến, sự chuyên môn hóa và toàn cầu hóa cao trong quá trình sản xuất
khiên các doanh nghiệp nhận ra rằng, mô hình chuỗi cung ứng (liên kết dọc) là mô
hình hiệu quả nhất khắc phục đƣợc các nhƣợc điểm của mô hình hợp nhất theo
ngành dọc và quan hệ thị trƣờng thuần túy, mô hình chuỗi cung ứng tận dụng tối đa
http://svnckh.com.vn
25
sự chuyên môn hóa cao độ, có thể đáp ứng nhu cầu khách hàng tốt hơn trong một
khoảng thời gian ngắn hơn, lợi nhuận thu về cao hơn… Và từ những năm 1990 trở
lại đây, chuỗi cung ứng đã đóng một vai trò quan trọng trong chiến lƣợc phát triển
của các doanh nghiệp.
Xu hƣớng toàn cầu hóa và sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là
công nghệ thông tin đã giúp thế giới trở nên “phẳng” hơn, chuỗi cung ứng trên quy
mô toàn cầu, không chỉ bó hẹp trong phạm vi của một quốc gia hay một khu vực.
Toàn cầu hóa của chuỗi cung ứng tác động mạnh mẽ đến quá trình sản xuất kinh
doanh. Hiện nay và trong tƣơng lai, hầu hết các công ty phải quan tâm đến chuỗi
cung ứng mang tính toàn cầu. “Thách thức trong thập kỷ tới sẽ là triển khai rộng
khắp các nguyên lý có sẵn và tiếp tục đƣa các nguyên lý này lên một tầm cao mới”
4
Với sự c
a doanh nghiệp khác. Không chỉ các doanh nghiệp mới
chú trọng đến chuỗi cung ứng, mà chuỗi cung ứng còn đƣợc coi nhƣ một chiến lƣợc