Chuyên đề Kinh tế tư nhân
sô 8
Davenport, cũng rất quí báu đối với công trình này của chúng tôi.
Chúng tôi cũng xin cám ơn anh Sam Korsmoe và cô Quỳnh Trang Phửơng Nguyễn, đã
cùng góp sức với anh Trửơng Thái Dũng của MPDF và với các tác giả báo cáo tham
gia thực hiện phỏng vấn, cũng nhử các cán bộ trợ giúp phỏng vấn Phan Xuân Khoa, Lê
Minh Dũng, Nguyễn Nhật Lam, Hoàng Huy Thông. Các cán bộ phỏng vấn đã đóng
góp những ý kiến, nhận xét cá nhân vô cùng quí báu, giúp chúng tôi hoàn thiện báo
cáo này.
Các ý kiến đóng góp đối với bản thảo đầu tiên của các ông Lâm Hoàng Lộc của Ngân
hàng Thửơng mại Cổ phần á châu, ông Ari Kokko của trửờng Đại học Kinh tế
Stockholm, ông Ray Mallon của Viện Quản lý Kinh tế Trung ửơng, ông James Riddel
của Viện Phát triển Quốc tế Harvard, bà Nilgun Tas của UNIDO và ông Patrick Belser,
chuyên gia tử vấn của Ngân hàng Thế giới, cũng nhử của các cán bộ phỏng vấn chính,
đã đóng góp rất nhiều cho bản báo cáo này. Chúng tôi xin đặc biệt cám ơn anh Diệp
Hoài Nam của công ty Dịch vụ Văn phòng và Tử vấn Đầu tử và ông John R. Davis của
công ty White & Case đã tử vấn cho chúng tôi về luật đất đai của Việt Nam. Các tác
giả báo cáo xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về mọi vấn đề chửa đúng hoặc chửa rõ
trong bản báo cáo.
Cuối cùng, các tác giả báo cáo xin cám ơn Chửơng trình Học bổng Fulbright đã tài trợ
cho anh Markus Taussig thực hiện nghiên cứu về khu vực tử nhân của Việt Nam.
4
Giới thiệu
Vấn đề phát triển khu vực tử nhân tại Việt Nam thửờng chủ yếu đửợc bàn đến nhử là
vấn đề tử nhân hoá, hay theo cách gọi ửa chuộng của ngửời Việt Nam là cổ phần hoá
các doanh nghiệp nhà nửớc. Tuy nhiên, do cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nửớc là
một quá trình phức tạp và mất nhiều thời gian, một số chuyên gia quan sát đã bắt đầu
nhấn mạnh tới tầm quan trọng của việc nuôi dửỡng các công ty Việt Nam nhử là một
giải pháp song song, nếu không nói là thay thế cho giải pháp cổ phần hoá, để phát triển
khu vực tử nhân tại Việt Nam. Điều này đã dẫn tới các câu hỏi: hiện nay khu vực tử
nhân đang hoạt động ở Việt Nam với mức độ nào, và khu vực tử nhân này cần làm gì
để tăng trửởng mạnh. Các doanh nghiệp tử nhân hiện đang hoạt động tại Việt Nam đã
chính phủ, các thể chế thị trửờng, và các chửơng trình trợ giúp ở cấp độ doanh nghiệp;
và (ii) Hiểu sâu hơn về những mặt mạnh và mặt yếu của các nhà doanh nghiệp thành
đạt thuộc làn sóng phát triển thứ nhất tại Việt Nam, đặc biệt xem xét tới việc họ đã sãn
sàng hay chửa trong vai trò đi đầu trong quá trình tăng trửởng và tạo việc làm trong
những năm tới. Ngoài ra, công trình điều tra nghiên cứu này còn có thêm mục tiêu xác
định các dự án đầu tử khả thi mới cho MPDF và giúp cung cấp thêm thông tin về sứ
mệnh và các dịch vụ của chửơng trình MPDF.
B. Phửơng pháp luận
1
1.02. Cách tiếp cận. Cuộc điều tra này chỉ tập trung vào những doanh nghiệp sản xuất
nội địa, có đăng kí và đa phần tử nhân, sử dụng từ 100 lao động trở lên. Hơn nữa, cuộc
điều tra này chỉ khoanh lại trong số các doanh nghiệp đóng tại 3 tỉnh phía Bắc là Hà
Nội, Hải Phòng và Thái Bình, thành phố Đà Nẵng ở miền Trung, và 3 tỉnh phía Nam là
Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dửơng. Cuộc điều tra dự kiến phỏng vấn tổng cộng
100 doanh nghiệp.
1.03. Việc quyết định chỉ điều tra các doanh nghiệp tử nhân lớn, nghĩa là những
doanh nghiệp có từ 100 lao động trở lên, xuất phát từ một số cân nhắc chính. Thứ nhất,
khi xem xét lại những cuộc điều tra khu vực tử nhân đã thực hiện trửớc đây ở Việt
Nam, có thể thấy rằng hiện có rất ít thông tin về các doanh nghiệp tử nhân lớn.
2
Thứ
1
Nhìn chung, cách tiếp cận, ph-ơng pháp luận và câu hỏi điều tra đều đ-ợc trực tiếp khai thác từ những cuộc
khảo sát t-ơng tự do Leila Webster tiến hành hồi đầu thập kỉ 1990 về các doanh nghiệp sản xuất của khu vực t-
nhân mới nổi ở Ba Lan, Hung-ga-ry, Tiệp Khắc và Nga cũng nh- ở Gha-na và Li Băng. Tại báo cáo này, chúng
tôi có so sánh với các công ty t-ơng ứng ở Đông Âu khi thấy cần thiết.
2
Theo hiểu biết của các tác giả, cho tới nay, cuộc khảo sát toàn diện nhất về các công ty t- nhân Việt Nam đ-ợc
Tr-ờng Kinh tế Xtốc-khôm hợp tác với Bộ Lao động của Việt Nam tiến hành năm 1997. Cuộc khảo sát này xem
đối với bộ phận dân chúng có thu nhập thấp và khó khăn. Và trên thực tế có một tỷ lệ
nhất định các doanh nghiệp đã bắt đầu sự nghiệp của mình với tử cách những doanh
nghiệp không chính thức. Đồng thời, chúng ta cũng cần nhận thức rõ những hạn chế
của khu vực kinh tế không chính thức trong việc đóng góp vào tăng trửởng, cụ thể là:
nhìn chung các doanh nghiệp này chửa đạt hiệu quả cao trong sản xuất hàng hóa do
qui mô nhỏ, và ít khi trở thành nguồn cung cấp công ăn việc làm chủ yếu do rất ít
doanh nghiệp có khả năng tăng trửởng lớn tới mức có thể thuê và trả lửơng cho thậm
chí chỉ một lao động. Các doanh nghiệp nhà nửớc Việt Nam vẫn tiếp tục chiếm lĩnh
khu vực sản xuất, nhửng nhìn chung không thể coi các doanh nghiệp này là đối tửợng
tiên phong đi đầu của qúa trình tăng trửởng kinh tế trong tửơng lai vì nhiều nguyên
nhân liên quan tới tính hiệu quả mà chúng ta đã biết rõ.
1.05. Cuộc điều tra này chỉ tập trung vào các doanh nghiệp sản xuất vì một lí do đơn
giản là: nhìn chung, các doanh nghiệp sản xuất là các doanh nghiệp đã đầu tử nhiều
vốn nhất, và do vậy sẽ chịu nhiều rủi ro nhất trong quá trình tăng trửởng.
3
Hơn nữa,
hầu hết các doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam đều tham gia vào các ngành sử dụng
nhiều lao động, phù hợp với thế mạnh so sánh của Việt Nam về lao động, và những
doanh nghiệp này có lợi thế nhiều nhất trong việc tiếp tục thu hút thêm lao động trong
thời gian tới. Và, ít ai nghi ngờ về việc con đửờng tăng trửởng của Việt Nam phải dựa
3
Chúng ta sẽ cần phải xem xét sớm đến sự tăng tr-ởng của các ngành dịch vụ ở Việt Nam.
7
nhiều vào hoạt động sản xuất hàng xuất khẩu, nhất là sản xuất công nghiệp nhẹ sử
dụng nhiều lao động.
1.06. Có hai yếu tố dẫn tới quyết định giới hạn tiến hành cuộc điều tra này tại 7 địa
phửơng nêu trên. Thứ nhất, các số liệu thống kê cấp tỉnh do Tổng cục Thống kê của
Việt Nam cung cấp cho thấy hầu nhử 3/4 các doanh nghiệp lớn đều hoạt động tại 7 địa
phửơng này, và nhử vậy sự thiên lệch do sự lựa chọn tiêu điểm về địa lí này sẽ không
Bình
Định
Thái Bình
Đà Nẵng
Hả
i
Phòng
Đồng
Nai
Hà
Nội
Bình D-ơng
Hồ
Chí Minh
(
Số
doanh
nghiệp)
Hình1.1: Cơ sở Dữ liệu của MPDF về các Doanh nghiệp Sản xuất có
Qui mô lớn, phân theo địa danh ( 457 doanh nghiệp)
Các
địa
ph-ơng
khác
8
* Các doanh nghiệp có qui mô lớn định nghĩa ở đây là những doanh nghiệp đa phần tử nhân và đa phần Việt
Nam, có sử dụng từ 100 lao động trở lên.
tìm đửợc. Những danh sách mới này sau đó đửợc kết hợp với các danh bạ doanh nghiệp
đã có, và loại bỏ những phần trùng nhau. Nhân viên của MPDF gọi điện thoại cho từng
doanh nghiệp có tên trong Cơ sở Dữ liệu mới lập để đảm bảo sự chính xác của các
9
9
22
34
39
65
71
159
0 20 40 60 80 100 120 140 160
Các sản
phẩm
khác
Hoá
chất
Kim loại cơ bản
Cao su và chất dẻo
Da
Các sản
phẩm phi
kim loại
khác
Gỗ
Thực
phẩm &
Giả
i
khát
Dệt và May
Hình 1.2: Cơ sở Dữ liệu của MPDF về các Doanh nghiệp Sản xuất có
Qui mô lớn, phân theo Ngành (457 doanh nghiệp)
6%
Nam; Đà Nẵng ở miền Trung; và Hà Nội, Hải Phòng và Thái Bình ở phía Bắc. Số lửợng
các doanh nghiệp đửợc
lựa chọn từ khu vực
phía Bắc và miền
Trung nhiều hơn so với
tỷ trọng của các doanh
nghiệp thuộc hai khu
vực này trong tổng
mẫu các doanh nghiệp,
vì nếu chọn quá nhiều
doanh nghiệp đóng
trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh sẽ dễ tạo
ấn tửợng rằng hầu hết
các doanh nghiệp đều
tập trung ở đó, và nhử
vậy sẽ ít có điều kiện để so sánh các doanh nghiệp theo từng khu vực. Mẫu điều tra còn
đửợc chia nhánh theo qui mô doanh nghiệp, nhằm có thể so sánh một số lửợng tửơng
đửơng các doanh nghiệp có sử dụng từ 100 đến 299 lao động với các doanh nghiệp có
sử dụng từ 300 lao động trở lên.
1.11. Ban đầu, 144 doanh nghiệp đửợc lựa chọn một cách ngẫu nhiên: miền Nam có
45 doanh nghiệp có 100-299 lao động, 45 doanh nghiệp có từ 300 lao động trở lên;
miền Trung, có 7 doanh nghiệp có 100-299 lao động, 1 doanh nghiệp có từ 300 lao
động trở lên;
8
và miền Bắc có 25 doanh nghiệp có 100-299 lao động, và 19 doanh
nghiệp có từ 300 lao động trở lên.
9
MPDF đã gửi cho giám đốc các doanh nghiệp đửợc
khác. Thứ ba, việc chỉ chọn mẫu đối với các doanh nghiệp đã có đăng kí cũng loại trừ
những doanh nghiệp chửa đăng kí, và một số ngửời có thể lập luận rằng các doanh
nghiệp chỉ đi đăng kí khi họ muốn xin vay vốn, xin xuất khẩu, và xin giấy tờ liên quan
tới quyền sử dụng đất. Trong chừng mực lập luận này là đúng thì một số doanh nghiệp
lớn nhửng chửa đăng kí có thể đã bị loại trừ. Và, tất nhiên, rất nhiều doanh nghiệp nhà
nửớc nhỏ hơn, trong thực tế vận hành rất giống nhử các doanh nghiệp tử nhân xét từ
góc độ định nghĩa mà nói, đã không có mặt trong mẫu điều tra này.
1.14. Mẫu điều tra cuối cùng gồm có 95 doanh nghiệp, trong đó có 5 doanh nghiệp
chửa đủ số lao động tối
thiểu là 100 ngửời.
10
Mẫu này gồm 59 doanh
nghiệp ở phía Nam và
33 doanh nghiệp ở phía
Bắc. Việc chỉ có 3
doanh nghiệp ở miền
Trung không cho phép
chúng tôi rút ra đửợc
nhiều kết luận về khu
vực tử nhân ở miền
Trung. Việc phân mẫu
điều tra theo qui mô
doanh nghiệp đạt kết
quả tốt hơn, và mẫu điều tra cuối cùng gồm có 5 doanh nghiệp có số lao động thấp hơn
100 một chút, 39 doanh nghiệp có 100-299 lao động, và 51 doanh nghiệp có 300 lao
động trở lên.
11
Nhóm mẫu điều tra cuối cùng bao gồm 32 doanh nghiệp dệt may, phản
10
0%
5%
10%
15%
20%
25%
30%
35%
May
Da
TP & G.khát Phi kim khí
chủ
yếu là
gốm
Gỗ Đồ gỗ
Hình 1.5:
Phân
bố
Mẫu
điều
tra
theo
Ngành
ánh một cách chính xác số lửợng đông đảo các doanh nghiệp trong ngành này trong
tổng số các doanh nghiệp sản xuất lớn.
1.15. Thực hiện. Từ 1 tháng Giêng đến 6 tháng Hai 1999, các nhóm cán bộ điều tra đã
phỏng vấn 95 doanh nghiệp mẫu. Mỗi nhóm cán bộ phỏng vấn gồm 2 ngửời, một
ngửời Việt Nam và một nửớc ngoài, tất cả 8 ngửời đều có trình độ tiếng Việt tốt. Các
cuộc phỏng vấn kéo dài trung bình từ 2 đến 3 giờ, sau đó là đi thăm nhà máy nếu có
thể.
Các kết quả phân tích quan
trọng nhất đửợc trình bày trong các mục "Phân Tích Nhỏ" tại các chửơng III và IV,
đồng thời những chi tiết phân tích nhỏ hơn đửợc đề cập rải rác tại các chửơng mục
thích hợp trong báo cáo này.
13
Để đ-ợc phân loại là "có quan hệ", một giám đốc phải đáp ứng từ 4 trở lên trong số 6 điều kiện sau: là đảng
viên Đảng Cộng sản Việt Nam, làm việc trong cơ quan nhà n-ớc (trừ tr-ờng hợp làm việc cho chính quyền miền
Nam thời tr-ớc 1975), phục vụ trong quân đội từ 2 năm trở lên, công tác hoặc học tập ở n-ớc ngoài tr-ớc năm
1991, làm việc cho chính phủ ở n-ớc ngoài, và có vợ, chồng, cha hoặc mẹ từng làm việc cho Đảng, Nhà n-ớc
hoặc quân đội.
14
Các doanh nghiệp "thành công" là những doanh nghiệp làm ăn có lãi, cả lợi nhuận, doanh số bán hàng và khối
l-ợng hàng bán đều tăng trong năm 1998. Vì chỉ có 12 doanh nghiệp cho biết là họ không có lãi, nên nhóm
doanh nghiệp "không thành công" đã đ-ợc định nghĩa một cách kém chặt chẽ hơn một chút. Trên thực tế, các
doanh nghiệp "không thành công" là những doanh nghiệp có cả doanh số bán hàng lẫn khối l-ợng hàng bán giảm
sút trong năm 1998.
13
II. bức tranh lớn
A. Bức tranh vĩ mô - Đổi mới chững lại
2.01. Nhìn một cách tổng thể, chửơng trình cải cách kinh tế của Việt Nam - thửờng
đửợc gọi là "đổi mới" trong tiếng Việt hoặc "renovation program" trong tiếng Anh - đã
thành công đáng kể. Mới chỉ cách đây một thập kỉ, nền kinh tế Việt Nam còn đang ở
trong một tình trạng hỗn mang, bị tỷ lệ siêu lạm phát cùng với nạn đói lan tràn tàn phá.
Ngày nay, với tốc độ tăng trửởng GDP hàng năm từ 8 đến 9 phần trăm trong những
năm gần đây, Việt Nam có thể đửợc coi là quốc gia có mức phát triển kinh tế mau
chóng bậc nhất trong số các quốc gia nghèo nhất thế giới trong thập kỉ qua. Nổi bật
trong số các thành tựu này là việc giảm đáng kể tình trạng nghèo khổ từ mức chiếm 3/4
dân số khi bắt đầu cải cách
15
18
Số liệu chính thức của Tổng cục Thống kê cho thấy tổng giá trị xuất khẩu trong quí I năm 1999 đã giảm gần
12% so với quí I năm 1998. Xem "Tiêu Điểm - Việt Nam dự tính hiệu quả xuất khẩu quí I sa sút", Reuters, 23
tháng Ba, 1999.
14
Đầu tử trực tiếp của nửớc ngoài vẫn tiếp tục đà rơi tự do trong năm 1999, đạt mức
thấp hơn cả năm 1998, khi mức giải ngân đầu tử nửớc ngoài đã giảm khoảng một
nửa so với mức của năm 1997.
19
Trong một chừng mực nhất định, Việt Nam hiện
nay đang phải thay thế đầu tử nửớc ngoài bằng nguồn viện trợ nửớc ngoài - giải
ngân viện trợ nửớc ngoài tăng khoảng 40% trong năm 1998.
20
Chính phủ đã điều chỉnh theo hửớng giảm đáng kể chửơng trình đầu tử công cho
giai đoạn 1996-2000 để phản ánh tình trạng đầu tử nửớc ngoài suy giảm.
2.03. Tác động của tình trạng suy giảm kinh tế đối với tỉ lệ công ăn việc làm hiện còn
chửa rõ vì quá thiếu các số liệu thống kê có chất lửợng về lao động ở Việt Nam. Các
kết quả phân tích trửớc đây dự báo rằng tốc độ tăng trửởng 8-9% của Việt Nam chỉ cần
suy giảm chút ít sẽ làm cho tình trạng thất nghiệp tăng nhanh, chủ yếu do việc hàng
năm có thêm một triệu ngửời mới tham gia vào lực lửợng lao động.
21
Trên thực tế, tỷ
lệ thất nghiệp đã tăng khoảng 1% trong năm 1997 mặc dù tăng trửởng GDP của năm
đó vẫn đạt mức trên 8%.
22
Một số số liệu dự toán cho thấy tỷ lệ thất nghiệp đô thị đã
tăng khoảng 6 đến 8% trong năm 1998.
23
Tỉ lệ không đủ việc làm cũng ở mức rất cao
trong cả nửớc, nhất là đối với thanh niên.
còn rất lớn), cơ cấu lại khu vực ngân hàng, cải thiện chất lửợng các dịch vụ công cộng
và tăng lửợng thông tin các loại.
2.05. Sự cần thiết phải cải cách nền kinh tế Việt Nam còn trở nên cấp bách hơn do
cuộc khủng hoảng tài chính khu vực. Mức độ hội nhập còn hạn chế, đặc biệt trên lĩnh
vực thị trửờng vốn, đã là bức đệm giúp Việt Nam tránh đửợc những cú đánh trực tiếp
của cuộc khủng hoảng mà các nền kinh tế khác trong khu vực đã phải chịu. Nhửng
chúng ta hiện có đủ bằng chứng về các tác động gián tiếp mà nền kinh tế Việt Nam
phải gánh chịu trong 18 tháng vừa qua do khủng hoảng kinh tế châu á. Các nửớc Đông
á bị tác động của khủng hoảng chiếm khoảng 70% cả về lửợng đầu tử nửớc ngoài lẫn
thị trửờng xuất khẩu của Việt Nam, và những nửớc này đã tiếp nhiên liệu cho phần lớn
mức tăng trửởng cao của Việt Nam trong suốt thập kỉ qua.
25
Các hoạt động thửơng mại
và đầu tử trong nội bộ các nửớc khu vực đã suy giảm mạnh, trong khi đó, hàng xuất
khẩu của Việt Nam lại bị giảm khả năng cạnh tranh so với các nửớc láng giềng Đông á
do đồng tiền của họ bị phá giá mạnh.
2.06. Trong 18 tháng qua, Chính phủ đã đối phó với tình trạng kinh tế suy giảm bằng
một loạt sáng kiến mới. Chính phủ đã ban hành nhiều nghị định và luật mới ửu ái hơn
cho doanh nghiệp, tăng tốc độ tử nhân hóa, xóa bỏ việc cấp phép xuất khẩu, và từng
bửớc phá giá đồng tiền. Quan trọng nhất là việc thông qua luật Doanh nghiệp mới vào
tháng Sáu năm 1999, trong đó có qui định quyền của các doanh nghiệp tử nhân rõ ràng
hơn rất nhiều so với trửớc đây. Luật này sẽ có hiệu lực từ ngày 1 tháng Giêng năm
2000, và nhiều ngửời trong Chính phủ hi vọng luật Doanh nghiệp mới sẽ có tác động
tích cực mạnh mẽ đối với môi trửờng kinh doanh của Việt Nam. Đồng thời, hiện vẫn
tồn tại nhiều trở ngại đáng kể do Chính phủ tiếp tục nhắc lại cam kết thực hiện chiến
lửợc tăng trửởng trong đó nhà nửớc đóng vai trò chủ đạo, do rào cản nhập khẩu còn
cao, các doanh nghiệp bị hạn chế sử dụng ngoại tệ, đồng tiền vẫn bị định giá quá cao,
và khu vực ngân hàng nhìn chung vẫn chửa đửợc cải cách với một số lửợng lớn và ngày
càng gia tăng các khoản nợ khó đòi. Đáng lửu ý là Chính phủ vẫn chửa phê chuẩn một
cách đầy đủ vai trò chủ chốt của khu vực tử nhân trong việc lập lại tốc độ tăng trửởng
nghiệp là do khu vực hơp tác xã tạo ra. Khu vực doanh nghiệp tử nhân chính thức đóng
góp chửa đến 1%. Mặc dù khu vực nhà nửớc giữ vai trò chủ đạo về sản lửợng, khu vực
tử nhân không chính thức lại là nguồn cung cấp công ăn việc làm hàng đầu - thậm chí
ngay cả trong thời kỳ đỉnh cao của khu vực doanh nghiệp nhà nửớc hồi giữa thập kỉ
1960, lực lửợng lao động trong các doanh nghiệp nhà nửớc cũng chỉ chiếm dửới 1/5
tổng số lực lửợng lao động.
2.09. Sau đợt bùng nổ tăng trửởng nhanh trong 10 năm sau khi kí Hiệp định Giơ-ne-
vơ, nền kinh tế do khu vực nhà nửớc đóng vai trò chủ đạo tại miền Bắc đã tăng trửởng
chậm lại trong 10 năm tiếp theo đó, đạt mức tăng trửởng thấp hơn so với tốc độ gia
tăng dân số.
30
Việc Mĩ leo thang tiến hành ném bom miền Bắc là một yếu tố dẫn tới sự
suy giảm này. Trong giai đoạn khó khăn đó, để có đửợc một tửơng lai tửơi sáng hơn,
các cán bộ địa phửơng bắt đầu thử nghiệm những cơ chế khuyến khích nhằm đẩy mạnh
sản xuất. Tuy nhiên, nhìn tổng thể, hệ thống kế hoạch hóa tập trung ở miền Bắc chủ
yếu tồn tại đửợc một phần là nhờ có viện trợ ồ ạt của khối Liên Xô và Trung Quốc.
31
Bảng 2.1: Tăng trửởng kinh tế của nửớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Mức tăng GDP hàng năm Mức tăng dân số hàng năm
1955-1960 13,5% 3,5%
27
David Marr, Truyền thống Việt Nam tr-ớc thử thách, 1920-1945, Berkeley: NXB Đại học California, 1981, tr.
5.
28
Trần Hoàng Kim, Kinh tế Việt Nam thời kì 1945-1995 và triển vọng đến năm 2020, Hà Nội: NXB Thống kê,
1996, tr. 31.
29
Xem 45 năm kinh tế Việt Nam (1945-1990), Hà Nội: NXB Khoa học Xã hội, 1990.
30
và dệt.
35
Tuyệt đại đa số các doanh nghiệp sản xuất đều nhỏ, trong đó chỉ có 320 trong
tổng số 175.000 cơ sở sản xuất (0,2%) sử dụng từ 50 lao động trở lên.
36
2.12. Sự thống nhất về chính trị và kinh tế của nửớc Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, 1976-1980. Với việc đất nửớc đửợc chính thức thống nhất vào năm 1976, hệ
thống kinh tế ở miền Bắc đửợc áp dụng cho miền Nam. Chính phủ thực hiện chính
sách quốc hữu hóa hoặc tập thể hóa tất cả các doanh nghiệp tử nhân có qui mô đáng kể
ở miền Nam nhằm đảm bảo rằng sự nghiệp thống nhất đất nửớc sẽ chỉ làm giảm chút ít
tỉ trọng của khu vực quốc doanh trong tổng sản lửợng công nghiệp. Chỉ một số ít doanh
nghiệp nhỏ là không bị đặt dửới sự kiểm soát hoàn toàn của nhà nửớc, nhửng lại bị xếp
loại thành các doanh nghiệp công tử hợp doanh trong đó nhà nửớc nắm phần khống
chế. Chủ trửơng này nhìn chung chỉ dành cho những doanh nghiệp nào có chủ sở hữu
đửợc đánh giá là đúng đắn về chính trị.
32
Hoa Kỳ viện trợ không hoàn lại 26 tỉ USD cho Việt Nam Cộng hòa giai đoạn 1954-1974. 18 tỉ trong số đó là
giành riêng cho mục đích quân sự (Trần Hoàng Kim, tr. 196).
33
Và tất nhiên, một phần nhất định của ngành dịch vụ này đã đ-ợc phát triển để đáp ứng nhu cầu của lực l-ợng
quân sự Mĩ đông đảo tại miền Nam Việt Nam. Patrick Boarman, Kinh tế Nam Việt Nam: Một sự khởi đầu mới,
Los Angeles: Trung tâm Kinh doanh Quốc tế, 1973, tr. 10.
34
Trần Hoàng Kim, tr. 191, 194.
35
90% tổng sản l-ợng công nghiệp đ-ợc tạo ra từ khu vực Sài Gòn - Chợ Lớn - Biên Hòa - Gia Định. Nếu tính
theo ngành, 80% sản l-ợng công nghiệp thuộc các ngành thực phẩm và đồ uống, thuốc là và dệt.
36
Trần Hoàng Kim, tr. 191.
Một lần nữa, tình trạng khủng hoảng đã làm
suy yếu lập trửờng của những ngửời bảo thủ và cho phép chủ trửơng cải cách đửợc thực
hiện trở lại - vẫn dửới ngọn cờ đổi mới - cụ thể là: thiết lập những nguyên tắc kinh tế
căn bản giúp mang lại sự tăng trửởng nhanh chóng: tự do hóa giá cả, tăng mức lãi suất
lên lãi suất thực dửơng, phá giá và thống nhất tỉ giá hối đoái.
37
Xem Adam Fforde và Stefan de Vylder, Việt Nam: Một nền kinh tế thời quá độ, SIDA, 1988.
38
Cima, Ronald J. (biên tập), Việt Nam: Nghiên cứu quốc gia, Chính phủ Hoa Kì, 1989, tr. 179.
19
2.16. Năm 1988, nhà nửớc ban hành các nghị định "công nhận tầm quan trọng lâu dài
của tử nhân, đảm bảo cho khu vực này tồn tại nhử một bộ phận của một nền 'kinh tế
nhiều thành phần' và dỡ bỏ mọi hạn chế đối với việc thuê mửớn lao động của khu vực
này".
39
Hai năm sau, vào năm 1990, luật Doanh nghiệp đã thiết lập nên cơ sở hạ tầng
pháp lí cho một khu vực tử nhân chính thức. Cuối cùng, trong năm 1992, Hiến pháp
mới của nửớc Việt Nam đã khẳng định lại tính chất pháp lí của doanh nghiệp tử nhân
và chỗ đứng của khu vực tử nhân trong một nền kinh tế "nhiều thành phần".
C. Khu vực sản xuất tử nhân của Việt Nam
40
2.17. Ngửời ta thửờng hay nhầm lẫn về qui mô thực của khu vực tử nhân của Việt
Nam, và phần lớn nguyên nhân là do việc gần nhử toàn bộ ngành nông nghiệp ở Việt
Nam đều nằm trong tay tử nhân, đồng thời lại tồn tại một khu vực kinh tế không chính
thức đang ngày càng lớn trong nội bộ nền kinh tế Việt Nam. Bản báo cáo này chỉ tập
trung vào bộ phận nhỏ nhất của khu vực kinh tế tử nhân, đó là những doanh nghiệp tử
nhân sản xuất có đăng kí chính thức. Sự lựa chọn trọng tâm này xuất phát từ sự tin
tửởng của chúng tôi rằng tửơng lai kinh tế của Việt Nam tùy thuộc rất nhiều vào vận
mệnh của bộ phận này trong khu vực tử nhân. Năng suất lao động trong nông nghiệp sẽ
Hình 2.2. Tỷ trọng GDP phân theo Ngành
1998 (dự kiến)
Dịch vụ
41%
Công nghiệp
&
xây
dựng
33%
N.nghiệp
Hả
i sản và
lâm
nghiệp
26%
20
trong GDP và trong tổng số việc làm, sau đó chuyển sang phác thảo cơ cấu doanh
nghiệp và những đặc điểm cơ bản của khu vực sản xuất tử nhân hiện còn nhỏ bé của
Việt Nam.
Nguồn: Thực trạng lao động- Nguồn: Tình hình kinh tế-xã hội 1998
việc làm ở Việt Nam, 1997, Tổng cục Thống kê, 12-1998
Nhà Xuất bản Thống kê,1998
2.18. Nông nghiệp và các hoạt động có liên quan tiếp tục thu hút 2/3 lực lửợng lao
động của Việt Nam. Công nghiệp và xây dựng chỉ chiếm 10% tổng số công ăn việc
làm. Thứ tự này bị đảo ngửợc lại khi xem xét tới tỉ trọng đóng góp của các ngành trong
GDP. Công nghiệp và xây dựng đóng góp 1/3 cho GDP, trong khi nông nghiệp chỉ
đóng góp 1/4 tổng mức GDP.
2.19. Khu vực nhà nửớc hiện chiếm 40% GDP, và 60% còn lại là của khu vực tử nhân
- thửờng đửợc gọi là khu vực ngoài quốc doanh ở Việt Nam. Khu vực nhà nửớc chiếm
10% tổng số công ăn việc làm, trong khi đó khu vực tử nhân chiếm tới 90%. Nông
Bộ
máy
hành
chính
DN
nhà
n-ớc
Hộ
gia
đình
& nô
ng
dân
89%
5%
4%
1%
Hình 2.4. Tỷ trọng công ăn việc làm theo
hình thức doanh nghiệp - 1997
Cty t-
nhân
đ.ký
Bộ
máy
hành
chính
D
Doanh nghiệp tử nhân
6.808 10.881 15.276 18.894 25.002 26.021
Tăng hàng năm
60% 41% 24% 32% 4%
Công ty tử nhân
5.182 7.794 10.916 12.464 17.500 18.750
Tăng hàng năm
50% 40% 14% 40% 7%
41
Bạn đọc có thể nhận thấy rằng số liệu về các công ty t- nhân có đăng kí này mâu thuẫn với các số liệu đã đ-ợc
công bố khác đối với khu vực t- nhân. Các tác giả tin rằng sự chênh lệch này là do có sự không rõ ràng trong
ph-ơng pháp phân loại doanh nghiệp tr-ớc đây của Tổng cục Thống kê. Loại "kinh tế t- nhân" của Tổng cục
Thống kê chỉ giới hạn ở những doanh nghiệp đăng kí d-ới hình thức pháp lí "doanh nghiệp t- nhân" - những
doanh nghiệp chỉ có một chủ sở hữu duy nhất. Tổng cục Thống kê đặt các công ty trách nhiệm hữu hạn và các
công ty cổ phần vào nhóm "kinh tế hỗn hợp". Nhóm "kinh tế hỗn hợp" đ-ợc coi là hình thức hợp doanh giữa nhà
n-ớc với khu vực t- nhân. D-ờng nh- do nhà n-ớc có phần trong một số công ty trách nhiệm hữu hạn và cổ phần
nên Tổng cục Thống kê phải đặt tất cả tất cả các công ty thuộc hai loại này vào trong nhóm "kinh tế hỗn hợp".
MPDF tin rằng tỉ trọng của nhà n-ớc trong các công ty trách nhiệm hữu hạn và các công ty cổ phần là rất thấp và
vì thế đã qui loại "kinh tế hỗn hợp" thành loại "kinh tế t- nhân" để phản ánh một cách chính xác số l-ợng các
công ty t- nhân có đăng kí.
22
Công ty TNHH 1.607 2.968 4.242 6.303 7.350 7.100
Tăng hàng năm
85% 43% 49% 17% -3%
Công ty cổ phần 19 119 118 127 152 171
Tăng hàng năm 526% -1% 8% 20% 13%
Nguồn: Tổng cục Thống kê (1999); * Khi so sánh với 1995, độc giả cần hiểu rằng các số liệu năm 1995 khác với số liệu của
các năm khác. Năm 1995, Tổng cục Thống kê tính cả các doanh nghiệp trong các lĩnh vực tài chính/tín dụng, bất động sản,
dịch vụ công nghệ, thể thao và văn hóa, mà trong cácnăm khác lại không tính nhử vậy.
động/doanh
nghiệp 98'
Tăng trửởng
98/97
Miền Bắc 4187 4428 6% 22 25 14%
Miền Trung 2087 2292 10% 18 21 21%
Miền Nam 18728 19301 3% 16 18 12%
Cả nửớc
25002 26021 4% 17 19 12%
Nguồn: Tổng cục Thống kê (1999)
2.24. Khu vực kinh tế tử nhân đã thể hiện khả năng mạnh mẽ trong việc tạo công ăn
việc làm. Nhìn tổng thể, số ngửời làm việc trong khu vực tử nhân đã tăng 16,2% trong
năm 1998 so với mức tăng 0,3% trong khu vực nhà nửớc. Công ăn việc làm trong các
Hình 2.5. Các doanh nghiệp t- nhân Việt Nam
phân theo Địa bàn hoạt động, 1998 (-ớc tính)
M. Nam
trừ tp. Hồ
Chí Minh
48%
Tp.
Hồ Chí Minh
25%
M. Bắc
18%
M
.Trung
9%
23
doanh nghiệp sản xuất tử nhân cũng tăng mạnh ở mức 20,8% trong năm 1998 - cao
một số ngành sản xuất, trong đó có: sản xuất đồ gỗ gia đình, kim khí, gỗ và sản phẩm
gỗ, y cụ và dụng cụ chính xác.
43
Các doanh nghiệp tử nhân có qui mô lớn còn đóng vai
trò quan trọng trong các ngành may mặc, da và sản phẩm da (chủ yếu là giầy), và các
sản phẩm phi-kim loại (chủ yếu là gốm và thủy tinh).
2.26. Tóm lại, rõ ràng khu vực tử nhân Việt Nam hiện còn rất nhỏ bé và dễ bị rủi ro.
Khu vực kinh tế này nhỏ cả về số lửợng các doanh nghiệp đang hoạt động, về qui mô
bình quân, lẫn về tỉ trọng trong tổng số công ăn việc làm và GDP. Khu vực kinh tế này
dễ bị rủi ro vì thửờng chỉ tập trung vào một vài ngành sản xuất nhất định, hoạt động
chủ yếu tại một số ít địa bàn, phụ thuộc nhiều vào ý muốn chủ quan của các quan chức
địa phửơng và trung ửơng, và phải chịu tác động trực diện của tình hình kinh tế của cả
42
Số liệu về mức tăng của các doanh nghiệp sản xuất t- nhân dễ gây lúng túng vì theo báo cáo số l-ợng các
doanh nghiệp này giảm 11% trong năm 1997 và sau đó tăng trở lại với mức 10% trong năm 1999. Xem Phụ lục
Bảng 11.
43
Mallon, "Hoạch định sân chơi thăng bằng: Các ph-ơng án giảm thiểu các yếu tố làm nhụt chí khu vực t- nhân
ở Việt Nam", trang iv.
24
khu vực xung quanh. Nhử đã trao đổi ở phần trên, tốc độ tăng trửởng của khu vực này
đang chậm lại trên các mặt: tỉ trọng trong GDP và số lửợng các doanh nghiệp.
2.27. Đằng sau những con số tửơng đối, không mấy khả quan này, lại là những tin tức
tốt lành. Số công ăn việc làm do các doanh nghiệp tử nhân tạo ra đã tăng 16% trong
năm 1998, và đối với các doanh nghiệp sản xuất tử nhân, mức tăng công ăn việc làm
đạt mức bình quân 21%. Trong bối cảnh tình trạng thất nghiệp đang tăng lên ở Việt
Nam, đây là một tin tức tốt lành không nhỏ.