1
Chuyên đề nghiên cứu kinh tế tử nhân
Số 8
động lực tăng trệởng chệa đủ
lớn của việt nam:
Kết quả điều tra 95 doanh nghiệp sản xuất tử
nhân có qui mô lớn tại Việt Nam
Leila Webster
Và
Markus Taussig
Tháng 6 năm 1999
2
3
Lời cám ơn
Để hoàn thành báo cáo này, các tác giả đã dựa nhiều vào sự giúp đỡ của rất nhiều
ngửời, đặc biệt là các giám đốc các doanh nghiệp đửợc điều tra - những ngửời đã đồng
ý tham gia phỏng vấn. Chúng tôi sẽ không thể hoàn thành đửợc báo cáo này nếu không
có sự cởi mở của các giám đốc doanh nghiệp tài ba này, những ngửời đã giành thời
gian quí báu của mình để chia sẻ với chúng tôi câu chuyện kinh doanh của họ.
Các tác giả báo cáo xin cám ơn cô Nghiêm Khánh Hiền và cô Đào thị Liên, hai cán bộ
của MPDF đã giành nhiều thời gian nói chuyện qua điện thoại với các giám đốc doanh
nghiệp, lửu tâm tới mọi chi tiết cần thiết của quá trình điều tra, và làm việc tận tình
vửợt quá thời gian làm việc thông thửờng. Một công việc rất quan trọng là xây dựng Cơ
sở Dữ liệu các Doanh nghiệp của MPDF, đửợc thực hiện dửới sự giám sát của cán bộ
phụ trách thông tin của MPDF là cô Lê Thị Bích Hạnh. Thông tin bổ xung thêm của
các cán bộ đầu tử của MPDF và của Giám đốc Chửơng trình MPDF, ông Thomas
Davenport, cũng rất quí báu đối với công trình này của chúng tôi.
Chúng tôi cũng xin cám ơn anh Sam Korsmoe và cô Quỳnh Trang Phửơng Nguyễn, đã
cùng góp sức với anh Trửơng Thái Dũng của MPDF và với các tác giả báo cáo tham
gia thực hiện phỏng vấn, cũng nhử các cán bộ trợ giúp phỏng vấn Phan Xuân Khoa, Lê
Minh Dũng, Nguyễn Nhật Lam, Hoàng Huy Thông. Các cán bộ phỏng vấn đã đóng
trong GDP đã bắt đầu trì trệ. Nhửng mặt khác, cho tới nay khu vực tử nhân vẫn là khu
vực tạo ra sức tăng trửởng cao nhất về công ăn việc làm, và điều này phản ánh xu
hửớng của các doanh nghiệp tử nhân Việt Nam ngày càng dựa nhiều vào ửu thế cạnh
tranh của Việt Nam là lao động. Đồng thời, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy rõ sự
phát triển không đồng đều của khu vực tử nhân tại Việt Nam, hiện chủ yếu tập trung tại
khu vực miền Nam và các khu vực thành thị, và các doanh nghiệp sản xuất chủ yếu chỉ
tập trung vào một số ít ngành sản xuất nhất định.
Công trình nghiên cứu này cho thấy một thực tế rằng tại Việt Nam có một nhóm các
doanh nghiệp tử nhân thành công. Kết quả nghiên cứu cũng xác nhận rằng môi trửờng
kinh doanh không thuận lợi của Việt Nam không những chỉ hạn chế mà còn bóp méo
sự phát triển của các doanh nghiệp tử nhân. Các ửu thế của doanh nghiệp nhà nửớc và
tình trạng bị cô lập ra khỏi các thị trửờng toàn cầu đã đẩy các nhà đầu tử tử nhân tại
Việt Nam vào tình thế phải chen chân nhau trong một khoảng không chật hẹp - tức là
phần lớn chỉ hoạt động trong một số ngành công nghiệp có giá trị gia tăng tửơng đối
thấp. Trong bối cảnh nhử vậy, nhìn chung các doanh nghiệp tử nhân Việt Nam sẽ dễ bị
tác động khi mức lợi nhuận của họ bị suy giảm nhanh và thị trửờng toàn cầu biến động.
Bản báo cáo này miêu tả chi tiết các thử thách mà các doanh nghiệp sản xuất lớn nhất
của Việt Nam - động lực tăng trửởng hiện chửa đủ lớn của Việt Nam - đang phải
đửơng đầu.
5
I. Mục tiêu và phửơng pháp điều tra
A. Mục tiêu
1.01. Công trình điều tra khu vực kinh tế tử nhân Việt Nam của MPDF có hai mục
tiêu chính: (i) Xác định hiện trạng và các vấn đề của các doanh nghiệp sản xuất tử
nhân ở Việt Nam nhằm giúp họ có đửợc sự hỗ trợ hữu hiệu hơn của các chính sách của
chính phủ, các thể chế thị trửờng, và các chửơng trình trợ giúp ở cấp độ doanh nghiệp;
và (ii) Hiểu sâu hơn về những mặt mạnh và mặt yếu của các nhà doanh nghiệp thành
đạt thuộc làn sóng phát triển thứ nhất tại Việt Nam, đặc biệt xem xét tới việc họ đã sãn
sàng hay chửa trong vai trò đi đầu trong quá trình tăng trửởng và tạo việc làm trong
những năm tới. Ngoài ra, công trình điều tra nghiên cứu này còn có thêm mục tiêu xác
khác, "Chính sách phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ và các ngành công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam", tháng
Tám 1997; Phạm Gia Hải (biên tập), "184 doanh nghiệp vừa và nhỏ đ-ợc khảo sát ở Việt Nam: Báo cáo đánh giá
và phân tích", Hà Nội: GTZ/VICOOPSME, tháng Ba 1996. Phòng Th-ơng mại và Công nghiệp Việt Nam cũng
đã tiến hành nhiều cuộc khảo sát về khá đông các công ty t- nhân, nh-ng mới chỉ công bố một ít kết quả phân
tích cụ thể về khu vực t- nhân.
6
hai, nếu suy ngẫm kĩ chúng ta sẽ thấy rõ hơn những ửu thế của việc xem xét những
doanh nghiệp thành đạt nhất ở Việt Nam so với việc xem xét đơn thuần mọi doanh
nghiệp tử nhân Việt Nam: cụ thể, nhóm các doanh nghiệp thành công này sẽ giúp
chúng ta hiểu rõ những điều kiện tiên quyết để một doanh nghiệp có thể thành công
trong môi trửờng kinh tế hiện nay của Việt Nam. Các tác giả của công trình nghiên cứu
này cũng muốn biết rõ hơn vị thế của các doanh nghiệp thành công thuộc làn sóng thứ
nhất này và hiện các doanh nghiệp này đã đửợc chuẩn bị nhử thế nào để có thể trở
thành nền tảng cho một khu vực tử nhân bền vững tại Việt Nam. Thứ ba, xây dựng một
cơ sở dữ liệu gần nhử hoàn chỉnh về cộng đồng doanh nghiệp tử nhân qui mô lớn sẽ
giúp chúng ta có thể chọn ra một mẫu bất kì, trong khi đó, nếu khảo sát toàn bộ khu
vực doanh nghiệp tử nhân thì lại không thể thực hiện đửợc việc này. Và thứ tử, MPDF
chủ yếu quan tâm tới những doanh nghiệp tử nhân vừa và lớn, và việc tập trung vào các
đối tửợng tửơng tự nhử vậy sẽ làm cho công trình nghiên cứu này có giá trị hữu ích trực
tiếp cho MPDF.
1.04. Lý giải của việc giới hạn cuộc điều tra này vào những doanh nghiệp đã đăng kí
là: rõ ràng sự tăng trửởng kinh tế nhanh chóng và bền vững ở Việt Nam phải dựa chủ
yếu vào sự tăng trửởng của các doanh nghiệp, đặc biệt là các cơ sở công nghiệp nhẹ có
sử dụng nhiều lao động. Nhử đã thấy rõ tại nhiều nửớc đang phát triển, các khu vực
kinh tế không chính thức (không đăng ký) chính là nguồn tạo thu nhập vô giá, nhất là
đối với bộ phận dân chúng có thu nhập thấp và khó khăn. Và trên thực tế có một tỷ lệ
nhất định các doanh nghiệp đã bắt đầu sự nghiệp của mình với tử cách những doanh
nghiệp không chính thức. Đồng thời, chúng ta cũng cần nhận thức rõ những hạn chế
của khu vực kinh tế không chính thức trong việc đóng góp vào tăng trửởng, cụ thể là:
nhìn chung các doanh nghiệp này chửa đạt hiệu quả cao trong sản xuất hàng hóa do
điều tra này là xây dựng một Cơ sở Dữ liệu các Doanh nghiệp đa phần tử nhân của Việt
Nam có sử dụng từ 100 lao động trở lên, bởi lẽ cho tới nay tại Việt Nam chửa có một
danh sách đửợc coi là đầy đủ về các doanh nghiệp này. Cơ sở Dữ liệu này đửợc xây
dựng bằng cách kết hợp các danh sách doanh nghiệp lấy từ nhiều nguồn, trong đó có:
Các cơ quan thống kê, sở lao động, cục thuế, và sở kế hoạch-đầu tử của các
địa phửơng;
Các cơ quan bửu điện địa phửơng;
Các cơ sở dữ liệu trên CD-ROM của Bộ Văn hóa-Thông tin và Phòng Thửơng
mại và Công nghiệp Việt Nam;
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam;
Các danh bạ doanh nghiệp đã đửợc xuất bản.
1.08. MPDF thuê hai công ty tử vấn đến các tỉnh có đông doanh nghiệp tử nhân nhất
và lập danh bạ tất cả những doanh nghiệp đủ tiêu chuẩn điều tra mà họ có thể
53
6
6
7
9
12
28
41
46
249
0 50 100 150 200 250
Nam Định
Bình Định
Thái Bình
Đà Nẵng
Hải Phòng
Đồng Nai
4
Việc phân tích các số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy rằng đến cuối năm 1998, 7 tỉnh này chiếm 73%
tổng số các doanh nghiệp sản xuất t- nhân có sử dụng từ 100 lao động trở lên.
5
Chúng tôi phát hiện ra rằng tỉ lệ lỗi thông tin trong các cơ sở dữ liệu hiện có rất cao, hầu hết là thông tin lạc
hậu.
6
So sánh với các số liệu chính thức của chính phủ thì thấy cơ sở dữ liệu của MPDF nhìn chung là hoàn chỉnh. Số
liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy trên toàn quốc có tổng số 622 công ty t- nhân có sử dụng từ 100 lao động
trở lên, trong đó 465 là các cơ sở sản xuất.
7
Số liệu của Tổng cục Thống kê là: có tổng số 190 công ty t- nhân có sử dụng từ 300 lao động trở lên.
49
9
9
22
34
39
65
71
159
0 20 40 60 80 100 120 140 160
Các sản phẩm khác
Hoá chất
Kim loại cơ bản
Cao su và chất dẻo
Da
Các sản phẩm phi kim loại khác
Gỗ
mẫu các doanh nghiệp,
vì nếu chọn quá nhiều
doanh nghiệp đóng
trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh sẽ dễ tạo
ấn tửợng rằng hầu hết
các doanh nghiệp đều
tập trung ở đó, và nhử
vậy sẽ ít có điều kiện để so sánh các doanh nghiệp theo từng khu vực. Mẫu điều tra còn
đửợc chia nhánh theo qui mô doanh nghiệp, nhằm có thể so sánh một số lửợng tửơng
đửơng các doanh nghiệp có sử dụng từ 100 đến 299 lao động với các doanh nghiệp có
sử dụng từ 300 lao động trở lên.
1.11. Ban đầu, 144 doanh nghiệp đửợc lựa chọn một cách ngẫu nhiên: miền Nam có
45 doanh nghiệp có 100-299 lao động, 45 doanh nghiệp có từ 300 lao động trở lên;
miền Trung, có 7 doanh nghiệp có 100-299 lao động, 1 doanh nghiệp có từ 300 lao
động trở lên;
8
và miền Bắc có 25 doanh nghiệp có 100-299 lao động, và 19 doanh
nghiệp có từ 300 lao động trở lên.
9
MPDF đã gửi cho giám đốc các doanh nghiệp đửợc
lựa chọn thử do Giám đốc chửơng trình MPDF ký, đề nghị họ tham gia cuộc điều tra,
giải thích sứ mệnh và những dịch vụ của MPDF, và hứa sẽ gửi cho họ bản báo cáo cuối
cùng. Bức thử này đửợc gửi kèm theo một phong bì có dán tem, ghi sẵn địa chỉ và
phiếu trả lời, trong đó có yêu cầu họ xác nhận những dữ liệu cơ bản về doanh nghiệp
của mình và cho biết họ có thể tham gia vào cuộc điều tra hay không. Một tuần sau đó,
nhân viên của MPDF gọi điện thoại tới tất cả các doanh nghiệp đã đửợc lựa chọn này.
1.12. Khi biết rõ rằng nhóm 144 doanh nghiệp đửợc lựa chọn từ đầu này sẽ không đáp
ứng đửợc mục tiêu lựa chọn 100 doanh nghiệp mẫu của MPDF, khoảng 100 doanh
nghiệp nữa đã đửợc chọn thêm một cách ngẫu nhiên từ Cơ sở Dữ liệu và đửợc các cán
thiểu là 100 ngửời.
10
Mẫu này gồm 59 doanh
nghiệp ở phía Nam và
33 doanh nghiệp ở phía
Bắc. Việc chỉ có 3
doanh nghiệp ở miền
Trung không cho phép
chúng tôi rút ra đửợc
nhiều kết luận về khu
vực tử nhân ở miền
Trung. Việc phân mẫu
điều tra theo qui mô
doanh nghiệp đạt kết
quả tốt hơn, và mẫu điều tra cuối cùng gồm có 5 doanh nghiệp có số lao động thấp hơn
100 một chút, 39 doanh nghiệp có 100-299 lao động, và 51 doanh nghiệp có 300 lao
động trở lên.
11
Nhóm mẫu điều tra cuối cùng bao gồm 32 doanh nghiệp dệt may, phản
10
Trên thực tế, các cán bộ phỏng vấn đã tới gặp 105 doanh nghiệp, trong đó có 10 doanh nghiệp không đáp ứng
đ-ợc các tiêu chí của cuộc điều tra.
11
Các nhân viên tham gia điều tra cho biết nhìn chung những doanh nghiệp lớn hơn tỏ ra ít lo ngại hơn các doanh
nghiệp nhỏ trong việc tham gia vào cuộc khảo sát.
Hình 1.4: Phân bổ mẫu điều tra theo Qui mô
doanh nghiệp
ít hơn 300 lao động
50%
cuộc phỏng vấn kéo dài trung bình từ 2 đến 3 giờ, sau đó là đi thăm nhà máy nếu có
thể.
12
1.16. Sử lý dữ liệu. Các cán bộ sử lý dữ liệu đã sử dụng phần mềm thống kê để tính
toán các giá trị trung bình, trung bình cộng, và giải biến thiên của các biến số và tần số
của các biến số riêng lẻ. Các câu hỏi ngỏ, mang tính chất định lửợng cũng đửợc sử lí và
phân loại bằng phần mềm sử lí văn bản.
1.17. Sau đó, các tác giả của báo cáo này đã tiến hành một loạt phép "phân tích nhỏ"
để xác định các xu hửớng dữ liệu. Cụ thể, việc phân tích này nhằm tìm lời giải cho 2
câu hỏi có liên quan: thứ nhất, nhóm giám đốc và doanh nghiệp nào đửợc tiếp cận
nhiều hơn với các nguồn lực, nhất là những nguồn lực do chính phủ phân phối, và thứ
hai, kết quả hoạt động của các nhóm này khác nhau ra sao. Chín biến số đã đửợc lựa
chọn nhằm xác định khả năng tiếp cận nguồn lực và kết quả hoạt động của doanh
nghiệp. Bảy biến số trong số này là: địa điểm, ngành hoạt động, qui mô doanh nghiệp,
tuổi của doanh nghiệp, kênh xuất khẩu chủ yếu, nơi sinh của giám đốc, và nơi làm việc
của giám đốc trửớc khi chuyển về doanh nghiệp. Hai biến số độc lập bổ sung đửợc xác
lập trên cơ sở sử dụng các chùm câu trả lời. Biến số độc lập thứ nhất là: "quan hệ" của
giám đốc, theo đó, những giám đốc nào đáp ứng đửợc từ 4 trở lên trong tổng số 6 đặc
điểm liên quan tới việc đửợc ửu tiên tiếp cận với những ửu đãi của nhà nửớc thì đửợc
12
Đa số các cuộc phỏng vấn đ-ợc tiến hành với ng-ời chủ sở hữu chính/giám đốc của từng công ty. Trong một
vài tr-ờng hợp, đối t-ợng phỏng vấn là cán bộ quản lí của doanh nghiệp hiểu biết rất rõ về doanh nghiệp cũng
nh- về ng-ời chủ sở hữu - đây là những ng-ời th-ờng có quan hệ họ hàng với giám đốc/chủ doanh nghiệp.
12
gọi là "có quan hệ", còn những ngửời khác thì đửợc gọi là "số còn lại".
13
Biến số độc
lập thứ hai phân loại các doanh nghiệp thành các doanh nghiệp "thành công", doanh
nghiệp "không thành công" và "số còn lại" trên cơ sở phân tích xu hửớng biến động
dân số khi bắt đầu cải cách
15
xuống còn khoảng 1/3 dân số tại thời điểm hiện nay.
16
2.02. Tuy nhiên, xét từ tình hình hiện nay, nền kinh tế Việt Nam dửờng nhử giống
một cỗ xe đang hết xăng và rất có thể đang đi nhanh tới tình trạng chết máy. Những chỉ
số dửới đây cho chúng ta thấy tình trạng này:
Tăng trửởng GDP suy giảm hơn một nửa trong năm 1998, xuống còn 3,8%, và các
dấu hiệu cho thấy mức tăng trửởng GDP sẽ còn tiếp tục suy giảm trong năm 1999;
17
Xuất khẩu, vốn đã tăng trửởng khoảng 25%/ năm trong gần suốt thập kỉ qua, đã suy
giảm khoảng 12% trong quí I năm 1999 mặc dù Chính phủ đã loại bỏ nhiều qui
định hạn chế xuất khẩu và đã phá giá đồng tiền nội tệ 17% trong năm 1998;
18
Trong quí I năm 1999, nhập khẩu suy giảm với tốc độ còn cao hơn - giảm 18% so
với quí I năm 1998 - điều này tuy cho phép Việt Nam tránh đựơc một cuộc khủng
hoảng về ngoại tệ, nhửng không phải là điềm báo tốt lành cho tửơng lai của các
hoạt động xuất khẩu vốn phải phụ thuộc nhiều vào vật tử nhập khẩu;
15
David Dollar và Jennie Litvak, "Cải cách kinh tế vĩ mô và giảm nghèo ở Việt Nam" trong cuốn Phúc lợi gia
đình và sự quá độ của Việt Nam, của David Dollar và những ng-ời khác (biên tập), Washington, DC: Ngân hàng
Thế giới, 1998, tr.15.
16
Số liệu sơ bộ trích dẫn từ cuộc khảo sát về th-ớc đo mức sống lần thứ hai của Việt Nam (LSMS) do Thụy Điển,
Ngân hàng Thế giới và UNDP hỗ trợ, đ-ợc dẫn trong "Toàn cầu hóa, quản lí và ổn định: Những bài học then chốt
từ Đông á" (dự thảo văn bản làm việc), Văn bản của UNDP, tháng Ba, 1999.
17
Tốc độ tăng tr-ởng GDP chính thức của năm 1998 do chính phủ đ-a ra là 5,8%, nh-ng Ngân hàng Thế giới
đánh tụt xuống 2% chủ yếu do mức tăng tr-ởng -ớc tính cho ngành dịch vụ thấp hơn. Tuy nhiên, cũng nên l-u ý
Tỉ lệ không đủ việc làm cũng ở mức rất cao
trong cả nửớc, nhất là đối với thanh niên.
24
2.04. Hầu hết các chuyên gia quan sát, ở những mức độ khác nhau, đã cho rằng các
vấn đề hiện tại của Việt Nam bắt nguồn từ việc tốc độ cải cách suy giảm và từ những
ảnh hửởng có tính chất thứ phát của cuộc khủng hoảng tài chính châu á. Trên giác độ
thứ nhất, chính phủ Việt Nam đã chậm chễ trong việc phát động hiệp cải cách thứ hai
tiếp sau các bửớc cải cách cơ cấu mạnh mẽ hồi cuối thập kỉ 1980 và đầu thập kỉ 1990.
Tăng trửởng do kết quả của các bửớc cải cách thuộc hiệp một này đã đạt mức đáng kể,
chủ yếu do mức nội cung tăng cao do kết quả của các biện pháp cải cách pháp lý, cho
phép các doanh nghiệp tử nhân hoạt động, dỡ bỏ các kiểm soát về giá cả, và phá giá
đồng nội tệ. Các nhà đầu tử nửớc ngoài cũng hối hả lao vào Việt Nam do nghĩ rằng đây
là một thị trửờng rộng lớn và để tận dụng lực lửợng lao động có tay nghề tửơng đối cao
và rẻ tại Việt Nam. Chúng ta hoàn toàn có thể lập luận rằng nền kinh tế Việt Nam đã
thu nhận đửợc tối đa những lợi ích mà Việt Nam có thể tận dụng đửợc từ hiệp cải cách
đầu tiên, và giờ đây chỉ có thể tiếp tục tăng trửởng thêm nữa nếu có một hiệp cải cách
mới, sâu sắc về thể chế, tức là, tử nhân hóa khu vực doanh nghiệp nhà nửớc (hiện vẫn
19
Cam kết đầu t- trực tiếp n-ớc ngoài trong năm 1998 giảm xuống chỉ còn 1,8 triệu USD, trong đó mức giải
ngân chỉ đạt 1 triệu USD, Vietnam Update, Ngân hàng Thế giới, tháng Ba 1999.
20
The Economist Intelligence Unit, Việt Nam - Quí I năm 1999.
21
Dollar và Litvak, tr. 12.
22
Thực trạng lao động-việc làm ở Việt Nam, 1997, Hà Nội: Nhà Xuất bản Thống kê, 1998, tr. 47.
23
"Toàn cầu hóa, quản lí và ổn định: Những bài học then chốt từ Đông á", tr. 39.
24
càng gia tăng các khoản nợ khó đòi. Đáng lửu ý là Chính phủ vẫn chửa phê chuẩn một
cách đầy đủ vai trò chủ chốt của khu vực tử nhân trong việc lập lại tốc độ tăng trửởng
cao tại Việt Nam.
B. Tóm tắt lịch sử khu vực kinh tế tử nhân của Việt Nam
26
2.07. Đã hàng ngàn năm, nền kinh tế và văn hóa Việt Nam dựa chủ yếu vào nông
nghiệp. Cuộc chinh phục của ngửời Pháp hồi thế kỉ 19 không làm thay đổi điều này
đửợc bao nhiêu. Ngửời Pháp đửa vào Việt Nam quan niệm hiện đại về sở hữu tử nhân
hợp pháp, nhửng chỉ thực thi nó nhử một bộ phận cấu thành của một hệ thống kinh tế
25
Việt Nam: Trỗi dậy để đối phó với thách thức, Ngân hàng Thế giới, 1998, tr. 3.
26
Xem Phụ lục II để có trình bày chi tyết hơn về lịch sử khu vực t- nhân của Việt Nam.
16
bị bóp méo nhằm phục vụ cho một số nhỏ giới thửợng lửu Việt Nam, chủ yếu ở miền
Nam. Những hoạt động sản xuất cạnh tranh với hàng khẩu của Pháp, kể cả hàng thủ
công truyền thống, đều bị bóp chết.
27
Năm 1939, công nghiệp chỉ chiếm 10% tổng sản
lửợng quốc gia. 90.000 ngửời làm việc trong ngành công nghiệp, 60% các hầm mỏ do
ngửời Pháp kiểm soát.
28
2.08. Nửớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, 1954-1975. Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ
chia cắt Việt Nam vào năm 1954, Đảng Lao động Việt Nam thực hiện chiến lửợc công
nghiệp hóa nhanh chóng, cam kết triệt tiêu các hình thức kinh tế tử bản chủ nghĩa và
thiết lập một hệ thống dựa hoàn toàn vào các doanh nghiệp quốc doanh và các hợp tác
xã.
29
Đến năm 1960, sau khi thực hiện những chửơng trình lớn về cải cách ruộng đất,
Xem 45 năm kinh tế Việt Nam (1945-1990), Hà Nội: NXB Khoa học Xã hội, 1990.
30
45 năm kinh tế Việt Nam, tr. 16.
31
Tỉ lệ viện trợ n-ớc ngoài trong tổng thu ngân sách của Chính phủ nhảy vọt từ mức 21% thời kì 1960-65 lên
68% thời kì 1966-70 (xem Trần Hoàng Kim, Kinh tế Việt Nam thời kì 1945-1995 và triển vọng đến năm 2020,
Hà Nội: NXB Thống kê, 1996, tr. 181).
17
1961-1965 9,6% 2,9%
1966-1970 0,7% 3%
1971-1975 2,3% 2,6%
Nguồn: 45 năm kinh tế Việt Nam
2.10. Việt Nam Cộng hòa, 1954-1975. Lệ thuộc vào vốn nửớc ngoài có lẽ là một đặc
điểm kinh tế giống nhau giữa miền Bắc và miền Nam trong giai đoạn này.
32
Sự khác
biệt về tính chất giữa kinh tế miền Bắc với kinh tế miền Nam đửợc minh họa rõ nét
nhất qua việc: dịch vụ là khu vực tăng trửởng nhanh nhất của miền Nam, chiếm tới
60% nền kinh tế ngay trửớc khi Việt Nam thống nhất.
33
Trong chừng mực chính phủ có
can thiệp vào đời sống kinh tế, thì trọng tâm của sự can thiệp đó lại là khu vực nông
nghiệp chứ không phải là khu vực công nghiệp.
2.11. Tại thời điểm đỉnh cao năm 1964, công nghiệp chỉ chiếm 13% GDP của Việt
Nam cộng hòa. Không có gì đáng ngạc nhiên khi bối cảnh hỗn loạn và đầy rủi ro của
một cuộc chiến tranh đang leo thang đã cản trở đáng kể quá trình công nghiệp hóa khu
vực tử nhân tại Việt Nam cộng hoà: tại thời điểm ngay trửớc khi đất nửớc thống nhất, tỉ
trọng của công nghiệp trong tổng GDP của Việt Nam cộng hoà đã giảm xuống mức chỉ
bằng một nửa mức của năm 1964.
34
36
Trần Hoàng Kim, tr. 191.
18
2.13. Trái ngửợc với những dự báo của các nhà kế hoạch hóa tập trung ở miền Bắc, nền
kinh tế của nửớc Việt Nam thống nhất chỉ thu đửợc kết quả trì trệ tửơng tự nhử nền
kinh tế miền Bắc trong thập kỉ trửớc đó. Việc miền Nam phản đối mạnh mẽ chủ trửơng
tập thể hóa và quốc hữu hóa, mối quan hệ xấu đi nhanh chóng giữa Việt Nam với Căm-
pu-chia và Trung Quốc, và việc phửơng Tây không tham gia vào qáu trình tái kiến thiết
thời kỳ sau chiến tranh đã làm cho bức tranh kinh tế Việt Nam vốn đã xấu lại càng trở
nên xấu hơn. Trong giai đoạn từ 1976 đến 1980:
Sản lửợng nông nghiệp tăng dửới mức 2%/năm, thấp hơn nhiều so với chỉ tiêu
chính thức là 8-10%;
Công nghiệp phát triển với tốc độ 0,6%/năm, so với mục tiêu 16-18%;
Dân số tiếp tục tăng mạnh với tốc độ hơn 2%/năm, mặc dù dòng "thuyền nhân" ra
đi ồ ạt;
Các hoạt động "xé rào" của các doanh nghiệp - hoạt động kinh doanh trên các thị
trửờng chợ đen nhằm kiếm đủ mức thu để trang trải chi phí sản xuất và thửởng cho
ngửời lao động hòng tiến lại gần hơn tới những chỉ tiêu sản xuất không thực tế do
chính quyền trung ửơng đề ra - đã trở thành việc làm phổ biến;
37
2.14. Đổi mới, từ 1986 đến nay. Sau một nửa thập kỉ áp dụng những biện pháp tình
thế, tình hình kinh tế Việt Nam vào năm 1986 đã từ chỗ xấu chuyển sang xấu hơn.
Ngoài tình trạng siêu lạm phát và nạn đói lan rộng, ban lãnh đạo của Việt Nam còn
phải đửơng đầu với một vị ân nhân về tử tửởng hệ ngày càng trở nên khó chịu là Liên
Xô. Nguyễn Văn Linh đửợc chỉ định làm Tổng bí thử Đảng Cộng sản Việt Nam, và
Đổi mới đửợc chính thức phát động.
2.15. Lúc đầu, Đổi mới có nội dung rất giống với Perestroika (cải tổ) của Liên Xô -
phi tập trung hóa quá trình ra quyết định về các đầu vào đối với các doanh nghiệp trong
khi tiếp tục kiểm soát giá cả và bao cấp của nhà nửớc. Kết quả là, cũng nhử ở Liên Xô,
tình trạng siêu lạm phát quay trở lại, và năm 1989 chứng kiến dòng "thuyền nhân" ra đi
tửởng của chúng tôi rằng tửơng lai kinh tế của Việt Nam tùy thuộc rất nhiều vào vận
mệnh của bộ phận này trong khu vực tử nhân. Năng suất lao động trong nông nghiệp sẽ
chỉ tăng rất ít, và mức tăng năng suất lao động thực sẽ chỉ có thể do sản xuất công
nghiệp đem lại. Trong công nghiệp, sản xuất công nghiệp nhẹ sẽ là ngành có hiệu quả
sản xuất cao nhất vì đó chính là nơi mà nguồn lực phong phú của Việt Nam là lao động
sẽ đửợc khai thác đầy đủ nhất. Trong phần nội dung này của báo cáo, chúng tôi xin bắt
đầu bằng cách tiếp cận một cách tổng quát nhất về tỉ trọng của từng ngành kinh tế
39
Borje Ljunggren, "V-ợt lên trên cải cách: Về những động thái giữa thay đổi kinh tế và thay đổi chính trị ở Việt
Nam", Ch-ơng trong bản thảo cuốn sách ch-a xuất bản về xã hội dân sự của Việt Nam, 1997, tr. 10.
40
Trừ tr-ờng hợp có chú thích khác, các số liệu đ-ợc sử dụng trong báo cáo này đều dựa trên các số liệu thống kê
của Tổng cục Thống kê - nguồn dữ liệu thống kê chính thức ở Việt Nam (xem Phụ lục I). MPDF không thể đảm
bảo tính chính xác của mọi số liệu, nh-ng các tác giả báo cáo tin rằng những xu h-ớng do các con số này phản
ánh thể hiện đ-ợc thực tiễn. Ng-ời đọc sẽ thấy rằng số liệu lấy từ mỗi nguồn một khác. Ví dụ, Phòng Th-ơng
mại và Công nghiệp Việt Nam sử dụng số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu t- cho rằng có khoảng 35.000 doanh
nghiệp t- nhân ở Việt Nam. Theo Tổng cục Thống kê, con số của Bộ Kế hoạch và Đầu t- dựa trên con số đăng kí
mà không tính tới nhiều công ty t- nhân đã không còn hoạt động nữa, trong khi đó số liệu của Tổng cục Thống
kê đ-ợc dựa trên số l-ợng của các công ty hiện đang hoạt động.
Hình 2.1 Tỷ trọng công ăn việc làm
phân theo Ngành, 1997
Dịch vụ
24%
C.nghiệp và
Xây dựng
10%
N.nghiệp
thuỷ sản và
lâm nghiệp
tử nhân "doanh nghiệp", nghĩa là các doanh nghiệp có đăng kí, chỉ chiếm 1% tổng số
công ăn việc làm và 7% GDP.
34%
29%
11%
10%
9%
7%
Hình 2.3. Tỷ trọng của GDP theo hình thức
doanh
nghiệp
- 1998
C.ty t- nhân có đ.ký
Hợp
tác xã
Đầu t- n.ngoài
Bộ máy hành chính
DN nhà n-ớc
Hộ gia đình
& nông dân
89%
5%
4%
1%
Hình 2.4. Tỷ trọng công ăn việc làm theo
hình thức doanh nghiệp - 1997
Cty t- nhân đ.ký
Bộ máy hành chính
D.nghiệp N.n-ớc
Tăng hàng năm
-- 50% 40% 14% 40% 7%
41
Bạn đọc có thể nhận thấy rằng số liệu về các công ty t- nhân có đăng kí này mâu thuẫn với các số liệu đã đ-ợc
công bố khác đối với khu vực t- nhân. Các tác giả tin rằng sự chênh lệch này là do có sự không rõ ràng trong
ph-ơng pháp phân loại doanh nghiệp tr-ớc đây của Tổng cục Thống kê. Loại "kinh tế t- nhân" của Tổng cục
Thống kê chỉ giới hạn ở những doanh nghiệp đăng kí d-ới hình thức pháp lí "doanh nghiệp t- nhân" - những
doanh nghiệp chỉ có một chủ sở hữu duy nhất. Tổng cục Thống kê đặt các công ty trách nhiệm hữu hạn và các
công ty cổ phần vào nhóm "kinh tế hỗn hợp". Nhóm "kinh tế hỗn hợp" đ-ợc coi là hình thức hợp doanh giữa nhà
n-ớc với khu vực t- nhân. D-ờng nh- do nhà n-ớc có phần trong một số công ty trách nhiệm hữu hạn và cổ phần
nên Tổng cục Thống kê phải đặt tất cả tất cả các công ty thuộc hai loại này vào trong nhóm "kinh tế hỗn hợp".
MPDF tin rằng tỉ trọng của nhà n-ớc trong các công ty trách nhiệm hữu hạn và các công ty cổ phần là rất thấp và
vì thế đã qui loại "kinh tế hỗn hợp" thành loại "kinh tế t- nhân" để phản ánh một cách chính xác số l-ợng các
công ty t- nhân có đăng kí.
22
Công ty TNHH 1.607 2.968 4.242 6.303 7.350 7.100
Tăng hàng năm
-- 85% 43% 49% 17% -3%
Công ty cổ phần 19 119 118 127 152 171
Tăng hàng năm -- 526% -1% 8% 20% 13%
Nguồn: Tổng cục Thống kê (1999); * Khi so sánh với 1995, độc giả cần hiểu rằng các số liệu năm 1995 khác với số liệu của
các năm khác. Năm 1995, Tổng cục Thống kê tính cả các doanh nghiệp trong các lĩnh vực tài chính/tín dụng, bất động sản,
dịch vụ công nghệ, thể thao và văn hóa, mà trong cácnăm khác lại không tính nhử vậy.
2.22. Về địa bàn hoạt động, khu vực miền Nam chiếm khoảng 3/4 tổng số doanh
nghiệp tử nhân. Chỉ riêng thành phố Hồ Chí Minh đã chiếm 1/4 tổng số doanh nghiệp
và gần 1/3 tổng số lao động trong các doanh nghiệp tử nhân.
2.23. Nhử đửợc thể hiện
trong bảng dửới đây, các
doanh nghiệp tử nhân thửờng
Miền Nam 18728 19301 3% 16 18 12%
Cả nửớc
25002 26021 4% 17 19 12%
Nguồn: Tổng cục Thống kê (1999)
2.24. Khu vực kinh tế tử nhân đã thể hiện khả năng mạnh mẽ trong việc tạo công ăn
việc làm. Nhìn tổng thể, số ngửời làm việc trong khu vực tử nhân đã tăng 16,2% trong
năm 1998 so với mức tăng 0,3% trong khu vực nhà nửớc. Công ăn việc làm trong các
Hình 2.5. Các doanh nghiệp t- nhân Việt Nam
phân theo Địa bàn hoạt động, 1998 (-ớc tính)
M. Nam
trừ tp. Hồ
Chí Minh
48%
Tp.
Hồ Chí Minh
25%
M. Bắc
18%
M
.Trung
9%
23
doanh nghiệp sản xuất tử nhân cũng tăng mạnh ở mức 20,8% trong năm 1998 - cao
hơn nhiều so với mức tăng việc làm trong các khu vực kinh tế khác.
2.25. Xét theo khía cạnh phân bố ngành, các doanh nghiệp tử nhân kinh doanh
thửơng mại chiếm gần một nửa tổng số doanh nghiệp tử nhân (với khoảng 12.753
doanh nghiệp), tiếp sau đó là các doanh nghiệp sản xuất với khoảng 5.620 doanh
nghiệp trên toàn quốc. Số lửợng các doanh nghiệp sản xuất tử nhân tăng gần 10%
trong năm 1998, nghĩa là cao hơn gấp hai lần tốc độ tăng của toàn bộ khu vực tử
2.26. Tóm lại, rõ ràng khu vực tử nhân Việt Nam hiện còn rất nhỏ bé và dễ bị rủi ro.
Khu vực kinh tế này nhỏ cả về số lửợng các doanh nghiệp đang hoạt động, về qui mô
bình quân, lẫn về tỉ trọng trong tổng số công ăn việc làm và GDP. Khu vực kinh tế này
dễ bị rủi ro vì thửờng chỉ tập trung vào một vài ngành sản xuất nhất định, hoạt động
chủ yếu tại một số ít địa bàn, phụ thuộc nhiều vào ý muốn chủ quan của các quan chức
địa phửơng và trung ửơng, và phải chịu tác động trực diện của tình hình kinh tế của cả
42
Số liệu về mức tăng của các doanh nghiệp sản xuất t- nhân dễ gây lúng túng vì theo báo cáo số l-ợng các
doanh nghiệp này giảm 11% trong năm 1997 và sau đó tăng trở lại với mức 10% trong năm 1999. Xem Phụ lục
Bảng 11.
43
Mallon, "Hoạch định sân chơi thăng bằng: Các ph-ơng án giảm thiểu các yếu tố làm nhụt chí khu vực t- nhân
ở Việt Nam", trang iv.
24
khu vực xung quanh. Nhử đã trao đổi ở phần trên, tốc độ tăng trửởng của khu vực này
đang chậm lại trên các mặt: tỉ trọng trong GDP và số lửợng các doanh nghiệp.
2.27. Đằng sau những con số tửơng đối, không mấy khả quan này, lại là những tin tức
tốt lành. Số công ăn việc làm do các doanh nghiệp tử nhân tạo ra đã tăng 16% trong
năm 1998, và đối với các doanh nghiệp sản xuất tử nhân, mức tăng công ăn việc làm
đạt mức bình quân 21%. Trong bối cảnh tình trạng thất nghiệp đang tăng lên ở Việt
Nam, đây là một tin tức tốt lành không nhỏ.
25
III. giám đốc các doanh nghiệp tử nhân
A. Các đặc điểm chung
3.01. Tuổi trung bình của các giám đốc là 45. Ngửời trẻ nhất mới 27 tuổi ở Đà nẵng, và
ngửời già nhất là 68 tuổi ở thành phố Hồ Chí Minh. Ba phần tử là nam giới và một
phần tử là nữ. 87% là ngửời Việt (hay ngửời Kinh); 11% là ngửời Hoa; 2% còn lại là
lai Việt và Hoa. Có bốn giám đốc là ngửời Việt mang quốc tịch nửớc ngoài (Việt kiều).
44
Các giám đốc doanh nghiệp trong mẫu chọn là đảng viên th-ờng là đảng viên lâu năm, trong đó 83% đã vào
Đảng từ 10 năm trở lên.
45
Thành uỷ thành phố Hồ Chí Minh năm 1997 đã công bố rằng đảng viên và vợ con hoặc những ng-ời thân
không đ-ợc phép sở hữu cổ phần của các doanh nghiệp t- nhân. Đây là h-ớng dẫn của đảng bộ cơ sở để thực
hiện Nghị quyết 10/NQ-TU đã đ-ợc lãnh đạo Đảng thông qua. Không rõ các chính quyền địa ph-ơng đã thực
hiện nghị quyết này thế nào. Đề nghị tham khảo bài viết trên tạp chí Thời báo Sài gòn có tựa đề Thành uỷ thành
phố Hồ Chí Minh quy định các đảng viên và gia đình của họ không đ-ợc phép kinh doanh trong phần dữ liệu
Lexus/Nexus, ngày nhập : 8/8/1997.