Một số phương hướng và giải pháp để phát triển kinh tế tư nhân - Pdf 33

LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình xây dựng đất nước Đảng ta đã không ngừng đổi mới nhận
thức, quan điểm về vấn đề sở hữu, các thành phần kinh tế cho phù hợp với từng
chặng đường phát triển kinh tế của đất nước.
Yêu cầu thực tiễn của đất nước đòi hỏi phải đổi mới cho phù hợp, đó là
vấn đề sống còn của đất nước. Sự nghiệp đổi mới nói chung và đổi mới kinh tế
nói riêng do Đảng ta khởi sướng và lãnh đạo đã thức nhận trên cả lý luận và
thực tiễn nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Đại hội lần thứ IX của Đảng đã khẳng định nền kinh tế nước ta hiện nay có sáu
thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước; kinh tế tập thể; kinh tế cá thể, tiểu chủ;
kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Đồng thời nhần
mạnh: "Thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần,
các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan
trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu
dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ
đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng".
Kinh tế tư nhân được xác định là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tư
nhân về tư liệu sản xuất. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội Đảng ta chưa bao giờ phủ nhận vai trò của kinh tế tư nhân,
tuy nhiên nhận thức về vai trò của nó trong mỗi giai đoạn là hoàn toàn khác
nhau. Ngay từ Hội nghị TW lần thứ 24, khoá III, đã chỉ ra: trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội nền kinh tế nước ta còn tồn tại nhiều thành phần. Đến Đại
hội Đảng lần thứ IV khẳng định tư tưởng này và còn ghi rõ: "Trong một thời
gian nhất định, trong một số lĩnh vực sản xuất nhất định, kinh tế miền Nam còn
có nhiều thành phần". Nhưng lúc đó do còn nhận thức hạn chế nên chưa thực sự
chú ý dến vai trò to lớn của khu vực tư nhân. Phải đến Đại hội Đảng lần thứ VI
Đảng ta mới thực sự coi trọng kinh tế tư nhân. Sau 15 năm đổi mới và kiểm
điểm đánh giá 10 năm thực hiện chiến lược và ổn định phát triển kinh tế - xã hội
(1991 - 2000), Đảng ta đã tiến hành Đại hội lần thứ IX (4/2001). Trong Đại hội
cũng đã khẳng định vai trò của kinh tế tư nhân, đánh giá và dưa ra những giải
pháp phát triển.

thức kinh tế tư hữu nhưng có thuê lao động tuy nhiên thu nhập vẫn chủ yếu dựa
vào sức lao động và vốn của bản thân và gia đình. Thành phần kinh tế này giữ
một vị trí quan trọng trong nhiều ngành, nghề, có điều kiện phát huy nhanh và
hiệu quả tiềm năng về vốn, sức lao động, tay nghề của từng gia đình, người lao
động. Do vậy cần phải phát triển mạnh thành phần kinh tế này để góp phần đạt
được mục tiêu tạo ra nhiều của cải vật chất, giải quyết việc làm cho xã hội.
1.2 Phạm vi của kinh tế tư nhân ở Việt Nam :
1.2.1 Quan điểm của Đảng về sở hữu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội:
2
Sở hữu về tư liệu sản xuất là một trong những vấn đề không phải chỉ của
riêng nước ta mà còn ở nhiều nước khác trên thế giới. Nó là một vấn đề cơ bản
của hệ thống quan hệ sản xuất của các chế độ kinh tế xã hội. Mỗi một chế độ xã
hội được xây dựng trên cơ sở một chế độ sở hữu thống trị. Đối với nước ta, để
thực hiện nhất quán chính sách kinh thế nhiều thành phần theo định hướng xã
hội chủ nghĩa, tất yếu phải xác lập được một chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất
phản ánh đúng bản chất kinh tế của xã hội mới. Do đó xây dựng một chế độ sở
hữu về tư liệu sản xuất phát triển từ thấp đến cao theo hướng dần dần làm sở
hữu xã hội chủ nghĩa giữ vai trò nền tảng của nền kinh tế quốc dân là một trong
những nhiệm vụ then chốt và phải được tiến hành trong suốt thời kỳ quá độ.
Nước ta lựa chọn con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội không qua chế
độ tư bản chủ nghĩa. Ở nước ta đã xuất hiện tiền đề về chính trị cho sự ra đời
chủ nghĩa xã hội nhưng chưa xuất hiện tiền đề vật chất khách quan cho sự ra đời
chế độ kinh tế, chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế còn tồn tại nhiều
loại hình và hình thức sở hữu, trong đó sở hữu tư nhân còn tạo địa bàn cho lực
lượng sản xuất phát triển, đang là động lực để chuyển sản xuất nhỏ sang sản
xuất lớn.
Sau khi giành chính quyền, trước thực trạng một nền kinh tế lạc hậu,
chúng ta dã dùng sức mạnh chính trị và tư tưởng để xoá bỏ nhanh chóng chế độ
tư hữu, chuyển trực tiếp sang chế độ công hữu dưới hai hình thức: toàn dân và

chủ sở hữu những đối tượng thuộc sở hữu toàn dân, có quyền và có trách hiệm
quản lý, chi phối toàn bộ tài sản quốc gia nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng, bảo
tồn và phát triển nguồn tài sản đó.
Sở hữu tập thể là sở hữu của một tập thể người lao động. Đối tượng của
nó là phần tài sản do quá trình tích luỹ chung tạo nên, hoặc phần tài sản được
cho, biếu, tặng. Những tài sản này có thể tồn tại dưới hình thức hiện vật hoặc
hình thức giá trị.
Sở hữu tư nhân đó là hình thức sở hữu của các nhà sản xuất tư nhân (lớn,
nhỏ) đối với tư liệu sản xuất, tiền vốn, ... bỏ vào sản xuất kinh doanh. Trong
hình thức sở hữu này, các quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền chi phối, ... về
cơ bản thuộc một chủ thể. Nhà nước chủ trương tôn trọng và bảo vệ quyền sở
hữu những tài sản và thu nhập hợp pháp của các chủ sở hữu tư nhân.
Tóm lại, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, ở nước ta còn tồn tại
đa dạng các hình thức sở hữu trong đó sở hữu toàn dân, nhà nước và tập thể
ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân.
1.2.2 Tất yếu tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần :
Thời kỳ quá độ là một thời kỳ lịch sử đặc biệt, trong đó kết cấu xã hội vừa
bao hàm những yếu tố của xã hội cũ đang suy thoái dần, vừa bao hàm những
yếu tố xã hội mới ra đời, đang lớn lên từng bước nhưng chưa giành toàn thắng.
Điều đó có nghĩa là nó mang tính chất quá độ. Lênin viết: "danh từ quá độ có
nghĩa là gì? Vận dụng vào kinh tế, có phải nó có nghĩa là trong chế đô hiện nay
có những thành phần, những bộ phận, những mảnh của chủ nghĩa tư bản và chủ
nghĩa xã hội không? Bất cứ ai cũng đều thừa nhận là có" (Lênin toàn tập, Nhà
xuất bản tiền bộ, 1978).
Lênin cũng chỉ ra rằng, ở các nước đi lên chủ nghĩa xã hội phổ biến có ba
thành phần kinh tế cơ bản: kinh tế xã hội chủ nghĩa, kinh tế tư bản chủ nghĩa và
kinh tế sản xuất hàng hoá nhỏ.
Vận dụng tư tưởng của Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Đảng ta
khẳng định ở nước ta hiện có các thành phần kinh tế sau: kinh tế nhà nước; kinh
4

Kinh tế tư bản tư nhân là các đơn vị kinh tế mà vốn do một, hoặc một số
nàh tư bản góp lại để sản xuất kinh doanh và thuê mướn nhân công. Kinh tế tư
bản tư nhân dựa trên sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và bóc
lột lao động làm thuê.
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là các đơn vị kinh tế do các nhà tư bản
nước ngoài bỏ 100% vốn hay góp vốn với các đơn vị kinh tế trong nước để sản
xuất kinh doanh.
Sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế ở nước ta là tất yếu. Bởi vì:
5
- Khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành được chính quyền và
bước vào con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội thì đòi hỏi khách quan là phải
từng bước xây dựng cơ sở kinh tế xã hội của chế độ mới, chế độ sở hữu xã hội
chủ nghĩa về tư liệu sản xuất với hai hình thức sở hữu nhà nước xã hội chủ
nghĩa và sở hữu tập thể. Kinh tế nàh nước và kinh tế tập thể hình thành trên chế
độ sở hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất.
- Do lực lượng sản xuất phát triển không đồng đều giữa các vùng, do tính chất
quá độ từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đi lên chủ nghĩa xã hội không qua
chế độ tư bản chủ nghĩa, nươc ta tất yếu còn tồn tại kinh tế tư bản tư nhân, kinh
tế cá thể tiểu chủ.
1.2.3 Vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế:
Sự phát triển của kinh tế tư nhân là kết quả thực hiện đường lối, chủ
trương, chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước ta theo định hướng xã hội chủ
nghĩa.
Kinh tế tư nhân đã huy động và khai thác một phần tiềm năng về vốn,
kinh nghiệm, khả năng kinh doanh, quan hệ xã hội, thông tin... vào phát triển
kinh tế đất nước.
Sự phát triển kinh tế tư nhân đóng vai trò quan trọng để tạo thêm công ăn
việc làm, góp phần xoá đói giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân.
Sự phát triển kinh tế tư nhân góp phần tăng thu ngân sách, góp phần gia
tăng tổng sản phẩm quốc dân.

nghiệp bâc thấp là hợp tác xã có quy mô nhỏ, diện tích đất trung bình là 33 ha
ruộng, và 68 hộ trong 1 hợp tác xã), gần 100% số hộ tư sản thuộc diện cải tạo đã
được cải tạo, 87,9% số thợ thủ công đi vào con đường làm ăn tập thể, 45,6% số
tiểu thương vào hợp tác xã mua bán, chuyển được 11.000 người sang sản xuất
và một số ít được tuyển vào làm nhân viên cho mậu dịch quốc doanh. Nhà nước
nắm 100% ngoại thương. Việc tiến hành cải tạo vận dung một cách chủ quan
duy ý chí đã xoá bỏ gần như hoàn toàn kinh tế tư nhân.
Trong thời kỳ thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, thực hiện nhất quán
chủ trương xoá bỏ kinh tế tư nhân nên trong giai đoạn này kinh tế tư nhân ngày
càng bị thu hẹp. Cùng với đó là sự gia tăng số hộ nông dân vào hợp tác xã từ
85,8% năm 1960 lên 90,1% năm 1965; số hợp tác xã bậc cao tăng từ 10,6% năm
1960 lên 58% năm 1964. Quy mô hợp tác xã cũng lớn hơn, trung bình mỗi hợp
tác xã có 85 hộ và 49 ha.
Thời kỳ kháng chiễn chống Mĩ mặc dù chiến tranh ác liệt nhưng công cuộc
xây dựng chủ nghĩa xã hội vẫn giành được những thành tựu to lớn. Số hợp tác
7
xã bậc cao tăng lên 77% vào năm 1967, số hộ nông dân vào hợp tác xã nông
nghiệp tăng lên 95,2% vào năm 1975.
Tóm lại, trong cả giai đoạn này kinh tế tư nhân đã bị thủ tiêu thay vào đó
là sự gia tăng của kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể.
2.1.2 Giai đoạn từ 1975 đến 1985:
Trong chiến tranh, kinh tế quốc doanh và tập thể đã phát huy được sức
mạnh của nó, góp phần quan trọng vào sự thắng lợi của toàn dân tộc. Nhưng khi
hoà bình lập lại nó lại bộc lộ những yếu điểm của nó. Những yếu điểm này xuất
phát từ sự phát triển không đồng đều giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất. Lực lượng sản xuất của ta sau chiến tranh là thấp kém, đi lên chủ nghĩa xã
hội từ một nền kinh tế nông dân lạc hậu. Quan hệ sản xuất phát triển cao, nó
không phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất, cản trở lực lượng sản xuất
phát triển. Trên thực tế mô hình tập thể hoá nông nghiệp không còn phù hợp
thay vào đó là chỉ thị 100 về khoán sản phẩm (1/1981 Ban Bí thư trung ương

Thương nghiệp 384.272 3,21
Dịch vụ 14.165 1,18
Ngành nghề khác 1.479.341 12,35
Trong số các ngành nghề hoạt động của các hộ thì nhóm hộ nông nghiệp
chiếm tỷ trọng lớn nhất 79,58%, nếu bao hàm các ngành nghề nông, lâm, ngư
nghiệp thì nó chiếm tỷ trong khá cao 81,65%.
Nếu xét theo cơ cấu thành phần thì số hộ xã viên là 7.078.179 hộ
(51,11%); hộ cá thể là 33.333.788 hộ (27,84%); hộ nông dân chuyên làm thuê là
672.319 hộ (5,61%).
Kinh tế hộ tư nhân, cá thể trong nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao và thực
sự nó là một lực lượng kinh tế mạnh. Chỉ trong một thời gian ngắn các hộ nông
dân đã mua sắm rất nhiếu trang thiết bị hiện đại, tăng cường cơ sở vật chất kỹ
thuật cho nông nghiệp . Các hộ đã mua thêm 109.483 máy phát điện, 9.088 động
cơ điện, 36.011 động cơ chạy xăng, 97.808 máy tuốt lúa, 28.643 máy kéo lớn,
75.268 máy kéo nhỏ, 537.809 máy bơm, 106.305 máy xay,15.157 máy nghiền
thức ăn gia súc, 11.392 máy cưa. Theo báo cáo của Bộ nông nghiệp và phát triển
nông thôn thì nông dân nước ta đã bỏ vốn lập trên 110.000 trang trại trong đó
riêng các tỉnh phía Bắc là 67.000 trang trại, vốn bình quân là 291,43 triệu đồng,
các trang trại đã tạo ra một lượng hàng hoá lớn trung bình lượng hàng hoá cung
cấp của một trang trại là 91,449 triệu đồng, chiếm 86,74% tỉ trọng hàng hoá chủ
yếu là các sản phẩm nông nghiệp.
Như vậy, qua đây ta cũng thấy được khu vực kinh tế tư nhân trong nông
nghiệp đã góp phần thúc đẩy nông nghiệp phát triển, tạo ra 1/4 tổng sản lượng,
30% kim ngạch xuất khẩu. Theo tổng cục thống kê thì năm 1999 nông nghiệp
chiếm tỉ trọng 24% GDP.
2.2.1.2 Công nghiệp:
9
Sau đổi mới kinh tế tư nhân cũng đã thâm nhập vào lĩnh vực công nghiệp
đóng góp vào tổng sản lượng quốc dân năm 1990 là 37%, năm 2000 là 58%,
trong đó các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiểm tỷ trọng lớn 35,2%.

công nghiệp chiếm 30,21%, xây dựng chiếm 0,81%, giao thông vận tải chiếm
11,63%, thươngmại, dịch vụ chiếm 51,89%, các hoạt động khác chiếm 5,46%
trong tổng số hộ kinh doanh cá thể).
10
Hộ kinh doanh cá thể phi nông nghiệp phát triển rộng khắp cả thành thị và
nông thôn trong cả nước, tập trung cao ở một số địa phương. Địa phương có số
hộ kinh doanh cá thể phi nông nghiệp nhiều nhất nước là: thành phố Hồ Chí
Minh có 184.463 hộ, Hà Tây có 97.280 hộ, Thanh Hoá có 96.777 hộ, Đồng
Tháp có 95.049 hộ, thành phố Hà Nội có 92.302 hộ. Tổng cộng là 565.871 hộ,
chiếm 26,4% cả nước. Năm địa phương có số hộ ít nhất là: Bắc Kạn có 4.454
hộ, Hà Giang có 7.575 hộ, Lai Châu có 8.201 hộ, Kon Tum có 8.439 hộ, Lào
Cai có 9.029 hộ. Tổng cộng là 37.698, chiếm 1,8% cả nước (thời điểm thống kê
31/12/2000).
2.2.2.3 Hộ sản xuất, kinh doanh nông nghiệp:
Trước đây hầu hết các hộ sản xuất, kinh doanh nông nghiệp tham gia hợp
tác xã. Hiện nay số hộ ngoài hợp tác xã trong sản xuất nông nghiệp là 7.656.165
hộ, chiếm 62,7% tổng số hộ nông nghiệp. Hộ sản xuất, kinh doanh bao gồm cả
nông, lâm, ngư nghiệp và các ngành nghề khác trong nông nghiệp. Tổng số có
12.22.302 hộ; trong đó, nông, lâm, ngư nghiệp: 11.780.184 hộ, ngành nghề khác
trong nông nghiệp (là diêm, một số dịch vụ trực tiếp và tận thu sản phẩm phụ
trong nông, lâm, ngư nghiệp không tính vào phi nông nghiệp ...) 440.118 hộ. Số
hộ trong hợp tác xã chiếm 37,3%. Số hộ ngoài hợp tác xã chiếm 62,7%. Trong
đó, hộ nông nghiệp chiếm 89,2%, hộ lâm nghiệp chiếm 0,5%, hộ ngư nghiệp
chiếm 4,6%, hộ ngành nghề khác trong nông nghiệp chiếm 5,7%. Một số lớn các
hộ tham gia các tổ hợp tác.
Số hộ phát triển mạnh kinh tế hàng hoá, tích tụ vốn nhanh dần và hình
thành các trang trại, tính đến hết sáu tháng đầu năm cả nước đã có 60.758 trang
trại, so với năm 1999 tăng 15.836 trang tại, so với năm 2000 tăng 5.000; trong
đó có 48,3% trồng cây hàng năm, 20,4% trồng cây lâu năm, 2,9% chăn nuôi,
3,5% lâm nghiệp, 20,8% nuôi trồng thuỷ sản, 4,1% sản xuất, kinh doanh tổng

nghiệp chiềm 12,4% (nông nghiệp 0,8%, lâm nghiệp 0,9%, ngư nghiệp 10,7%)
trong tổng số doanh nghiệp.
2.3 Những đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân cho nền kinh tế:
2.3.1 Tạo thêm nhiều việc làm:
Năm 2000, lao động của khu vực kinh tế tư nhân là 21.017.326 người
chiếm 56,3% lao động có việc làm thường xuyên trong cả nước. Trong đó, lao
động trong hộ kinh doanh cá thể có số lượng lớn lao động trong doanh nghiệp,
lao động trong doanh nghiệp tuy số lượng còn nhỏ nhưng tăng rất nhanh.
Số liệu về lao động của khu vực kinh tế tư nhân
Đvt 1996 1997 1998 1999 2000
Tổng số Người 3.865.163 3.666.825 3.816.942 4.097.455 4.643.844
Tỷ lệ so với tổng
lao động xã hội
% 11,2 10,3 10,3 10,9 12
Doanh nghiệp của
tư nhân
DN 354.328 395.705 453.907 539.533 841.787
Công nghiệp DN 233.078 252.657 273.819 322.496 498.847
Thương nghiệp DN 60.936 63.050 62.470 96.720 151.433
Các ngành khác DN 60.314 79.998 99.618 120.317 191.507
Hộ cá thể DN 3.510.835 3.271.120 3.381.035 3.557.922 3.802.057
Công nghiệp DN 1.524.708 1.403.205 1.350.152 4.646.013 1.622.381
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status