A. LỜI MỞ ĐẦU
Phát triển kinh tế hợp tác và hợp tác xã trong nông nghiệp là
yêu cầu tất yếu và khách quan của nền kinh tế Việt Nam ngay từ
xưa cha ông ta đã đúc rút ra bài học quý báu đó là:
"Một cây làm chẳng lên non
Ba cây chụm lại lên hòn núi cao".
Đối với nông nghiệp nước ta cũng vậy có rất nhiều việc mà
một hộ gia đình nông dân không thể làm được mà cần có sự liên
kết, hợp tác lại thì công việc đó mới làm được hoặc là tạo ra hiệu
quả công việc cao hơn.
Song, hợp tác xã trong nông nghiệp phát triển phụ thuộc vào
môi trường pháp lý, kinh tế xã hội cùng với quá trình chuyển đổi
nền kinh tế từ cơ chế cũ sang cơ chế mới đòi hỏi hợp tác xã phải có
sự nhận thức, tổ chức lại để phù hợp với môi trường này. Do vậy
mà em chọn đề tài "Thực trạng và giải pháp để phát triển kinh tế
tập thể ở nước ta hiện nay" để làm đề án môn học.
Nội dung của đề án là:
PHẦN THỨ NHẤT : Đó là một số vấn đề về hợp tác xã.
PHẦN THỨ HAI : Thực trạng của hợp tác xã trong nông
nghiệp Việt Nam qua các giai đoạn.
PHẦN THỨ BA : Từ lý luận và thực trạng của hợp tác xã nông
nghiệp thì em có nên ra một số giải pháp để
phát triển hợp tác xã trong nông nghiệp.
Qua đây em xin chân thành cảm ơn: PGS.TS: Phạm Văn Khôi
đã hướng dẫn em hoàn thành đề án này.
1
B. NỘI DUNG ĐỀ TÀI
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KINH TẾ TẬP THỂ.
1. Khái niệm về kinh tế tập thể.
1.1. Kinh tế tập thể .
Hợp tác và các hình thức hợp tác vốn đã xuất hiện rất sớm
công ty từ các công ty liên kết lại tạo ra tập đoàn kinh tế. Còn trong
khu vực nhỏ bao gồm kinh tế hộ, kinh tế trang trại, kinh tế tiểu chủ
thì các hình thức liên kết hợp tác lại phát triển hết sức đa dạng như:
các tổ đổi công, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã.
Sự hợp tác ở các ngành, lĩnh vực khác nhau có sự khác nhau
do đặc điểm của ngành, lĩnh vực đó quy định điều này thể hiện tính
tất yếu kinh tế, quá trình phát triển các hình thức hợp tác luôn phải
thích ứng với quá trình hiện đại hoá chuyên môn hoá; tập trung hoá
trong phát triển kinh tế. Như vậy thực chất của kinh tế hợp tác là
quá trình xã hội hoá sản xuất thông qua các hình thức liên kết, hợp
tác mềm dẻo, linh hoạt, năng động hài hoà giữa lực lượng sản xuất
và quan hệ sản xuất, giữa các chủ sở hữu ,giữa các doanh nghiệp
trên cơ sở đó bảo đảm lợi ích giữa các thành viên.
1.2. Kinh tế tập thể
Hợp tác xã là sản phẩm của lịch sử. Nó có từ trước khi chủ
nghĩa Mác ra đời. Lúc đầu khi phê phán các nhà chủ nghĩa xã hội
không tưởng, Mác và Ăng ghen chưa thấy được vai trò to lớn của
hợp tác xã đối với hình thái kinh tế xã hội tương lai. Sở dĩ như vậy
3
là vì hai ông cho rằng có thể chuyển trực tiếp từ chủ nghĩa tư bản
lên chủ nghĩa xã hội mà không cần có những bước quá độ trung
gian. Nhưng từ giữa thập kỷ 60 của thế kỷ 18, chú ý đến thực tiễn
của lịch sử về sự hình thành của các "Hợp tác xã công nhân sau
cách mạng dân chủ tư sản ở châu âu (1848 - 1894) hai ông đã dần
dần thấy được triển vọng của kinh tế hợp tác xã trong chế độ tương
lai. Trong tuyên ngôn thanh lập hội liên hiệp công nhân quốc tế
(quốc tế I) hai ông đã đi đến khẳng định vai trò to lớn của hợp tác
xã sau khi giai cấp vô sản giành chính quyền vào năm 1886,
Ăngghen còn khẳng định một cách rõ ràng rằng: khi chuyển sang
nền kinh tế cộng sản chủ nghĩa hoàn toàn, chúng ta phải ứng dụng
dân và những người lao động có nhu cầu và lợi ích chung tự nguyện
cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật. Mục đích
để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp
nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động dịch vụ hỗ trợ cho kinh tế
hộ gia đình và các xã viên. Kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất ,chế
biến, trên thị trường sản phẩm nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ
sản và kinh doanh các ngành nghề khác ở nông thôn phục vụ cho
sản xuất nông nghiệp.
* Các nguyên tắc về tổ chức và hoạt động của hợp tác xã
nông nghiệp.
-Tự nguyên gia nhập và ra khỏi hợp tác xã nông nghiệp mọi
công dân có đủ điều kiện quy định để trở thành xã viên theo luật và
5
điều lệ hợp tác xã đều có thể viết đơn gia nhập hợp tác xã nông
nghiệp và có thể viết đơn xin ra khỏi hợp tác xã nông nghiệp.
- Các xã viên đều bình đẳng với nhau trong việc tham gia
quản lý, kiểm tra, giám sát và có quyền ngang nhau trong biểu
quyết dù cổ phần đóng góp không giống nhau.
- Tự quản, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh.
- Có tư cách pháp nhân, bình đẳng trước pháp luật
- Mục đích thành lập hợp tác xã nông nghiệp chủ yếu là phục
vụ cho sản xuất nông nghiệp của hộ nông dân. Do vậy việc phân
phối lãi của hợp tác xã nông nghiệp theo nguyên tắc là lãi chia theo
cổ phần có giới hạn còn trích quỹ chung của hợp tác xã và có thể
chia cho xã viên theo mức dộ sử dụng dịch vụ của hợp tác xã.
- Hợp tác xã nông nghiệp và kinh tế hộ gia đình có mối quan
hệ mật thiết gắn bó với nhau. Chúng hỗ trợ cho nhau để cùng nhau
phát triển.
2. Đặc điểm của kinh tế tập thể trong nông nghiệp
Do đối tượng của sản xuất nông nghiệp là các cơ thể sống
mở rộng vốn bằng cách thực hiện mức giá và lãi suất nội bộ thấp
hơn giá thị trường.
Tiếp theo, hợp tác xã nông nghiệp thành lập và hoạt động
theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và cùng có lợi.
7
Hợp tác xã nông nghiệp là một tổ chức liên kết kinh tế chỉ
liên quan đến xã viên thực sự có nhu cầu, có mong muốn không lệ
thuộc vào nơi ở và cũng chỉ liên kết ở những dịch vụ cần thiết và
đủ khả năng quản lý kinh doanh. Như vậy, trong mỗi thôn, mỗi xã
có thể cùng tồn tại nhiều loại hình hợp tác xã có nội dung kinh
doanh khác nhau có số lượng xã viên không như nhau, trong đó một
số nông trại, trang trại đồng thời là xã viên của một vài hợp tác xã.
Đặc điểm trên cho thấy sự khác biệt của hợp tác xã sau khi
đổi mới với hợp tác xã trước đổi mới là nông hộ, trang trại xã viên
vừa là đơn vị kinh tế tự chủ trong hợp tác xã vừa là đơn vị kinh tế
cơ sở hoạt động kinh doanh và hoạch toán độc lập. Do vậy quan hệ
giữa hợp tác xã và xã viên vừa là quan hệ liên kết, giúp đỡ nội bộ
vừa là quan hệ giữa hai đơn vị kinh doanh có tư cách pháp nhân độc
lập.
3. Vai trò của kinh tế tập thể trong nông nghiệp.
Hợp tác xã nông nghiệp là hình thức kinh tế tập thể của nông
dân vì vậy hoạt động của hợp tác xã có tác động to lớn tích cực tới
hoạt động sản xuất của hộ nông dân. Nhờ có hoạt động của hợp tác
xã các yếu tố đầu vào và các khâu dịch vụ cho hoạt động sản xuất
nông nghiệp được cung cấp kịp thời, đẩy đủ và bảo đảm chất lượng,
các khâu sản xuất tiếp theo được đảm bảo đã làm cho hiệu quả sản
xuất của nông dân được nâng lên.Thông qua hoạt động dịch vụ vai
trò điều tiết sản xuất của hợp tác xã nông nghiệp được thực hiện,
sản xuất của hộ nông dân được thực hiện theo hướng tập trung, tạo
điều kiện hình thành các vùng sản xuất tập trung, chuyên môn hoá.
lộ những yếu kém cần được khắc phục. Chỉ thị 100 của ban bí thư
trung ương Đảng ra đời đánh dấu bước ngặt quan trọng trong phát
triển nền nông nghiệp nước ta, nó góp phần giải phóng lực lượng
sản xuất thông qua chủ trương "cải tiến công tác khoán mở rộng sản
phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp"
Chỉ thị 100 là điểm khởi đầu của quá trình đổi mới hợp tác xã nông
nghiệp kiểu cũ sang hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới. Nội dung cơ
bản của chỉ thị 100 là mở rộng công tác khoán sản phẩm cuối cùng
tới nhóm và người lao động, trong đó hợp tác xã điều hành 5 khâu
(làm đất, giống mạ, phân bón hoá học, tưới tiêu nước, phòng trừ sâu
bệnh) còn xã viên bỏ sức lao động, vốn đầu tư thâm canh vượt mức
khoán và được tự do sử dụng sản phẩm vượt khoán.
Theo đường lối đổi mới đại hội Đảng khoá VI ngày 5 tháng 4
năm 1988. Bộ chính trị đã ra nghị quyết số 10/NQTW về đổi mới
quản lý kinh tế nông nghiệp mở đường cho bước phát triển sản xuất
nông ngiệp mạnh mẽ trong những năm sau đó. Tinh thần cơ bản của
nghị quyết 10 là đổi mới mối quan hệ giữa hợp tác xã sản xuất nông
nghiệp với các hộ nông dân xã viên. Hợp tác xã giao khoán ruộng
đất cho nông dân xã viên sử dụng ổn định lên dài. Hợp tác xã có
chức năng làm dịch vụ phục vụ xã viên thông qua quan hệ hàng hoá
tiền tệ.
Sau đại hội Đảng toàn quốc khoá VII nghị quyết của hội nghị
trung ương lần thứ 5 về tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế xã hội
nông thôn (6-1993) đã đề ra việc đổi mới kinh tế hợp tác xã, phát
huy vai trò tự chủ của kinh tế hộ xã viên cụ thể là: tiếp tục đổi mới
các hợp tác xã theo hướng phát huy hơn nữa tiềm năng to lớn và vị
trí quan trọng lêu dài của kinh tế hộ xã viên.
10
Ngày 20-03-1996 Nhà nước ta ban hành luật hợp tác xã nhằm
định hướng cho công cuộc chuyển đổi hợp tác xã từ kiểu cũ sang
1.Giai đoạn từ đầu năm 1958 đến năm 1981
Có thể nói đây là giai đoạn Hợp tác xã nông nghiệp được hình
thành một cách mạnh mẽ. Song nó cũng bị ảnh hưởng bởi cơ chế
kinh tế kế hoạch của tập trung nên các Hợp tác xã vẫn chưa thực sự
phát huy được vai trò của mình và có thể phân ra làm các giai đoạn
nhỏ sau:
1.1. Giai đoạn 1958 -1965 đây là giai đoạn tiến hành tập thể
hoá nông nghiệp trên quy mô lớn, tốc độ cao
Sau cải cách ruộng đất xuất phát từ nhận thức muốn xoá bỏ
tận gốc chế độ bóc lột, chặn đứng con đường phát triển tự phát của
chủ nghĩa tư bản ở nông thôn, muốn có cơ sở để tiến hành công
nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa; muốn củng cố mối liên minh công
nông trong giai đoạn mới. Đảng công sản Việt Nam trên cơ sở vận
dụng kinh nghiệm của các nước xã hội chủ nghĩa, đã quyết định
hợp tác hoá nông nghiệp trên toàn miền bắc. Coi đó là khâu then
chốt trong toàn bộ công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa.
Đứng trước một sự nghiệp mới mẻ, phức tạp quan điểm chỉ
đạo của đảng ta lúc đó đối với phong trào hợp tác hoá là: Thận
trọng, tiến hành từng bước, từ thấp đến cao.Nhưng khi chủ trương
hợp tác hoá đưa vào thực hiện đã được các tổ chức đảng, chính
quyền địa phương nhận thức, triển khai với một khí thế cách mạng
đặc biệt phần đông nông dân tin theo đảng đã tình nguyện gia nhập
hợp tác xã, các tổ chức đảng ,chính quyền,đoàn thể quần chúng
12
hăng hái, nỗ lực vận động, giáo dục, thuyết phục quần chúng (có
những nơi còn áp dụng biện pháp cưỡng bức) vì vậy mà phong trào
hợp tác hoá phát triển với tốc độ không ngờ từ 3 hợp tác xã thí
điểm năm1955 đến cuối năm 1958 đã có 4.273 hợp tác xã nông
nghiệp. Sự phát triển ồ ạt, với một số lượng hợp tác xã nông ngiệp
lớn hơn nhiều lần so với dự tính đã làm cho Đảng đi đến kết luận:
Quản lý tài chính không minh bạch tệ nạn tham ô lãng phí phổ biến
ở nhiều nơi vốn ít, sản xuất kém, mất dân chủ .Đối với dân như gò
ép dân vào Hợp tác xã, xã viên xin ra khỏi Hợp tác xã không trả lại
ruộng. Từ lý do trên làm cho hoạt động sản xuất nông nghiệp có
chiều hướng suy giảm, thu nhập của hộ nông dân, xã viên sa sút.
1.2. Giai đoạn từ năm 1965 đến năm 1975 Hợp tác xã nông
nghiệp trong thử thách của chiến tranh.
Từ đầu năm 1965 đế quốc mỹ đã huy động một lực lượng lớn
không quân, hải quân đánh phá miền bắc nhằm tiêu diệt tiềm lực
kinh tế quốc phòng của miền bắc, chặn đứng sự tiếp viện từ hậu
phương lớn vào tuyền tuyến lớn. Để đối phó với đế quốc mỹ và
đánh bại âm mưu của địch. Đảng và Nhà nước ta có chủ trương tiếp
tục củng cố hợp tác xã và tăng cường chi viện sức người, sức của
cho cách mạng miền nam.
Trong năm chiến tranh, các Hợp tác xã tiếp tục đẩy mạnh
cuộc vận động cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật cùng với việc áp
dụng thành tựu giống mới, cùng với sự đầu tư của Nhà nước sự hỗ
trợ của công nghiệp trung ương, công nghiệp địa phương mà các
14