Kỹ thuật lưu lượng trong MPLS VPN - Pdf 10

HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
BÙI ANH TUẤN

KỸ THUẬT LƯU LƯỢNG TRONG MPLS-VPN

Chuyên ngành: Kỹ thuật điện tử
Mã số: 60.52.70 Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN TIẾN BAN
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ

2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MPLS
VÀ BÀI TOÁN ĐIỀU KHIỂN LƯU LƯỢNG
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Miền MPLS (MPLS Domain)
MPLS là viết tắt của “Multi-Protocol Label Switching”. Thuật ngữ Multi-Protocol (đa giao
thức) để nhấn mạnh rằng công nghệ này áp dụng được cho tất cả các giao thức lớp mạng chứ không
chỉ riêng có giao thức IP. MPLS cũng hoạt động tốt trên bất kỳ các giao thức lớp liên kết. Đây là
một công nghệ lai kết hợp những đặc tính tốt nhất của định tuyến lớp 3 (Layer 3 Routing) và
chuyển mạch lớp 2 (Layer 2 Switching).
Theo RFC 3031, miền MPLS là “một tập hợp các nút mạng thực hiện hoạt động định tuyến
và chuyển tiếp MPLS”. Các nút thuộc miền MPLS được gọi là các bộ định tuyến chuyển mạch nhãn
LSR (Label Switching Router). Một miền MPLS thường được quản lý và điều khiển bởi một nhà
quản trị (Administrator).

ri nú mó húa ngn xp nhón mi vo gúi v chuyn gúi i.
Chuyn tip gúi cha cú nhón cng tng t nhng xy ra Ingress-LER. LER phi phõn
tớch mo u lp mng xỏc nh FEC ri s dng ỏnh x FTN (FEC-to-NHLFE) ỏnh x FEC
vo mt NHLFE.
1.1.5. ng chuyn mch nhón (LSP)
ng chuyn mch nhón LSP (Label Switched Path) l mt ng ni gia Router ngừ
vo (Ingress-LER) v Router ngừ ra (Egress-LER), c thit lp bi cỏc nỳt MPLS chuyn cỏc
gúi i xuyờn qua mng. ng dn ca mt LSP qua mng c nh ngha bi s chuyn i cỏc
giỏ tr nhón cỏc LSR dc theo LSP bng cỏch dựng th tc hoỏn i nhón. Khỏi nim LSP tng
t nh khỏi nim mch o (VC-Virtual Circuit) trong ATM. Kin trỳc MPLS cho phộp phõn cp cỏc LSP, tng t nh ATM s dng VPI v VCI
to ra phõn cp kờnh o (VC) nm trong ng o (VP). Tuy nhiờn ATM ch cú th h tr 2 mc
phõn cp, trong khi vi MPLS thỡ s mc phõn cp cho phộp rt ln, nh kh nng cha c nhiu
nhón trong mt ngn xp nhón. V lý thuyt, gii hn s lng nhón trong ngn xp ph thuc giỏ
Tải
Mào
đầu IP

Đệm MPLS
Mào đầu lớp 2

Nhãn (20)
COS (3)

S (1)

TTL (8)


tuyến đường khả thi để tìm đến các Prefix địa chỉ IP. LER sẽ sử dụng các thông tin này để xây dựng
cơ sở thông tin chuyển tiếp FIB (Forwarding Information Base) trong mặt phẳng chuyển tiếp.
Mặt phẳng chuyển tiếp MPLS chịu trách nhiệm chuyển tiếp dữ liệu của người sử dụng
(User). Nó sử dụng LFIB để thực hiện chuyển tiếp các gói có gắn nhãn căn cứ vào giá trị của nhãn
nằm trên đỉnh Stack nhãn.
1.2.2. Cơ sở thông tin chuyển tiếp nhãn (LFIB)
Trong mạng IP, quyết định chuyển tiếp gói được xác lập bằng cách thực hiện tra cứu địa chỉ
đích trong bảng FIB để xác định nút tiếp theo và giao diện ra. Trong mạng MPLS, mỗi LSR duy trì
một bảng LFIB riêng rẽ và tách biệt với FIB. Bảng LFIB có hai loại Entry là ILM (Incoming Label
Map) và FTN (FEC-to-NHLFE). NHLFE (Next Hop Label Forwarding Entry) là Subentry chứa các
trường như địa chỉ nút tiếp theo, các tác vụ Stack nhãn, giao diện ra và thông tin mào đầu lớp 2.
ILM ánh xạ một nhãn đến một hoặc nhiều NHLFE. Nhãn trong gói đến sẽ dùng để chọn ra một
Entry ILM cụ thể nhằm xác định NHLFE. Còn FTN ánh xạ mỗi FEC vào một hoặc nhiều NHLFE.
Nhờ các Entry FTN, gói chưa có nhãn được chuyển thành gói có nhãn.
1.2.3. Thuật toán chuyển tiếp nhãn
Các nút MPLS sử dụng giá trị nhãn trong các gói đến làm chỉ mục để tra bảng LFIB. Khi
tìm thấy Entry tương ứng với nhãn đến, nút MPLS thay thế nhãn trong gói bằng nhãn ra và gửi gói
đi qua giao diện ra để đến nút tiếp theo được đặc tả trong Subentry NHLFE. Nếu Subentry có chỉ
định hàng đợi ra, nút MPLS sẽ đặt gói trên hàng đợi đã chỉ định. Trường hợp nút MPLS duy trì một
LFIB riêng cho mỗi giao diện, nó sẽ dùng LFIB của giao diện mà gói đến để tra cứu chuyển gói. 1.3. Các chế độ hoạt động của MPLS
1.3.1. Chế độ khung
Chế độ hoạt động này xuất hiện khi sử dụng MPLS trong môi trường các thiết bị định tuyến
thuần nhất định tuyến các gói tin IP điểm-điểm. Các gói tin gán nhãn được chuyển tiếp trên cơ sở
khung lớp 2.
1.3.2. Chế độ tế bào
Khi xem xét triển khai MPLS qua ATM cần phải giải quyết một số trở ngại sau đây:
- Hiện tại không tồn tại một cơ chế nào cho việc trao đổi trực tiếp các gói IP giữa 2 nút MPLS cận

1.5. Kết luận chương
Với các hạn chế thuộc về bản chất và ngày càng bộc lộ ra khi mạng phát triển nhanh về tốc
độ và số lượng thì mạng IP truyền thống đang đứng trước những vấn đề hết sức khó khăn. Tuy
nhiên, với sự xuất hiện của chuyển mạch nhãn đa giao thức MPLS thì có thể giải quyết nhanh chóng
các bài toán mà mạng IP đang mắc phải. Và thực tế chứng minh điều đó khi đã có một số nhà cung
cấp dịch vụ ứng dụng MPLS vào mạng đường trục của mình và thu được khá nhiều lợi ích.
Công nghệ chuyển mạch nhãn cho phép thay thế chuyển tiếp gói truyền thống theo kiểu
Hop-by-Hop dựa trên địa chỉ đích bằng kỹ thuật chuyển tiếp hoán đổi nhãn. Kỹ thuật này dựa vào
các nhãn có độ dài cố định, cải thiện được năng lực định tuyến lớp 3, đơn giản hóa việc chuyển gói,
cho phép dễ dàng mở rộng và đặc biệt là hỗ trợ kỹ thuật lưu lượng.
Chương này cũng đã trình bày các khái niệm và mục tiêu của việc triển khai kỹ thuật điều
khiển lưu lượng để từ đó làm căn cứ cho việc tìm hiểu, nghiên cứu ở các chương tiếp theo.

7
CHƯƠNG 2: CÔNG NGHỆ MPLS VPN

Mạng riêng ảo VPN là khái niệm đã có từ lâu, xuất phát từ nhu cầu của các doanh nghiệp và
tổ chức muốn tạo một đường truyền xuyên suốt và bảo mật giữa các chi nhánh của mình trên một
cơ sở hạ tầng chung. MPLS VPN có thể coi là mô hình VPN ưu việt nhất so với trước đây. Chương
này giới thiệu tổng quan về VPN, phân tích các mô hình VPN và sự ra đời của MPLS VPN. Phần
này cũng đi sâu vào tìm hiểu các kỹ thuật trong việc triển khai MPLS VPN sao cho đạt hiệu quả cao
nhất trong triển khai đồng thời cũng hạn chế thấp nhất những phí tổn.
2.1. Giới thiệu chung về VPN
2.1.1. Khái niệm VPN
VPN ra đời cho phép các nhà cung cấp dịch vụ triển khai những kết nối Point-to-Point giữa
các nhà cung cấp dịch vụ trên một hạ tầng vật lý chung. Một khách hàng sử dụng VPN sẽ bao gồm
các vùng riêng biệt chịu sự điều khiển của khách hàng gọi là Site khách hàng. Các Site này liên kết
với nhau bởi mạng của nhà cung cấp dịch vụ. Trước đây trong mạng truyền thống, mô hình VPN
đơn giản nhất là nhà cung cấp dịch vụ sẽ kết nối các Site khách hàng theo một đường Point-to-Point
dành riêng cho khách hàng đó. Khi số Site của khách hàng tăng lên, số kết nối sẽ tăng đồng nghĩa

+ Router PE chia sẻ: Một Router PE kết nối với nhiều Site khách hàng đấu nối vào mạng SP, nói
cách khác, Router đó là dùng chung cho nhiều khách hàng.
+ Router PE dành riêng: Mỗi Site khách hàng dùng riêng một Router PE. Loại mô hình này tuy
nâng cao khả năng hoạt động của mạng nhưng tốn kém thiết bị và chi phí triển khai. Mô hình này
chỉ dành cho các doanh nghiệp và tổ chức lớn có nhu cầu cao về bảo mật và truyền dữ liệu.
2.2. MPLS VPN
MPLS VPN phát triển trên công nghệ Peer-to-Peer VPN, nhưng có nhiều điểm phát triển
hơn và hội tụ cả những ưu điểm của Overlay VPN. Các PE Router tham gia trực tiếp vào quá trình
định tuyến khách hàng để đảm bảo đường đi của lưu lượng qua mạng là tối ưu. Bên cạnh đó, với
9
mô hình Router PE chia sẻ, MPLS VPN phân tách tốt nhất dữ liệu khách hàng bằng việc sử dụng
các bảng định tuyến riêng cho mỗi khách hàng. Thông tin khách hàng khi đi vào mạng trục MPLS
sẽ được gán thêm một tiền tố để nó là duy nhất trong mạng. Do vậy, MPLS VPN cho phép sử dụng
lại địa chỉ như trong mô hình Overlay VPN.
2.2.1. Mô hình tổng quát MPLS VPN

Mô hình MPLS VPN tổng quát gồm có các thành phần sau: Thành phần do người sử dụng
điều khiển, gọi là mạng khách hàng, thành phần do nhà cung cấp dịch vụ quản lý, gọi là mạng của
nhà cung cấp dịch vụ. Mạng khách hàng bị chia cắt bởi mạng của nhà cung cấp, các phần gián đoạn
của mạng khách hàng gọi là các Site.
Các Site được kết nối với mạng lõi thông qua các CE Router. Các CE Router kết nối trực tiếp với
các PE Router, PE Router có vai trò là Router cạnh giúp mạng P giao tiếp với mạng người sử dụng.
Cấu tạo mạng P gồm các P Router, có chức năng thiết lập kênh tuyền giữa các Site nhưng không
tham gia vào tiến trình định tuyến.
2.2.2. Mô hình định tuyến MPLS VPN
Hoạt động của MPLS VPN tương tự như mô hình Router Peer-to-Peer. Từ góc độ của một
Router CE, tất cả thông tin cập nhập IPv4 cũng như dữ liệu đều được Forward cho Router PE.
Router CE không cần một cấu hình đặc biệt nào để cho phép nó tham gia vào miền MPLS VPN.
Yêu cầu duy nhất của CE Router là phải cấu hình một giao thức định tuyến, có thể là tĩnh hoặc động
để nó có thể trao đổi thông tin định tuyến với các PE Router khác.

mạng Core có thể trùng lặp địa chỉ (địa chỉ IP ở mạng khách hàng). Vậy làm sao BGP có thể giúp
hội tụ định tuyến ở các PE Router trong khi vẫn giữ sự cách ly giữa các mạng ảo?
11
Cách duy nhất giải quyết vấn đề trên là mở rộng thành phần địa chỉ IP ở mạng khách hàng
khi gói tin đi vào mạng Core sao cho các gói tin IP ở các VPN khác nhau có cùng địa chỉ IP khi ở
C-Network trở nên duy nhất khi vào mạng Core. Trong MPLS phần mở rộng này gồm 64 bit được
gọi là RD. Kết quả nhận được khi mở rộng IPv4 được gọi là VPNv4 gồm 96 bit, trong đó 32 bit
IPv4 và 64 bit RD.
2.2.3.4. Số nhận dạng đường đi (RD)
Chức năng duy nhất của RDs là mở rộng IPv4, do đó mỗi 64 bit RD chỉ đại diện riêng cho
một Site và tương ứng là một VPN duy nhất. Do đó mô hình MPLS VPN sử dụng RD chỉ trong mô
hình đơn giản, khi sự trao đổi thông tin diễn ra một cách cục bộ trong từng VPN riêng biệt. Nhưng
nếu các VPN khác nhau cần trao đổi thông tin hoặc khi dịch vụ yêu cầu một Site thuộc về nhiều
VPN khác nhau thì ta cần phải có một phương pháp linh động hơn việc chỉ sử dụng RDs.
2.2.3.5. Số phân biệt đường đi (RT)
RDs không thể đặc trưng cho một Site tham gia nhiều VPN khác nhau. Do đó cần một
phương thức sao cho một bảng định tuyến ảo nhận biết được một tuyến thuộc VRF khác là thành
viên của mình. RT được ứng dụng trong cấu trúc MPLS VPN để đáp ứng yêu cầu trên.
2.2.3.6. Hoạt động của giao thức MP-BGP
Quy trình chuyển mạch trong VPN gồm các thao tác sau: gói tin chạy trong miền của nhà
cung cấp dịch vụ mạng sử dụng tiền tố VPNv4. Tiền tố này chứa cả giá trị RT và RD. RT có thể là
một thông số không bắt buộc trong cấu hình MPLS VPN, nhưng nó có thể được sử dụng tốt trong
một số mạng phức tạp mà một Site thuộc nhiều VPN. Hơn nữa RT cũng có thể được sử dụng để
chọn lọc Route nhập vào một VRF khi học các đường đi VPNv4 trong MP-BGP Updates. Nhãn
VPNv4 chỉ được Router Egress PE hiểu khi nó trực tiếp kết nối với Router biên khách hàng. Next
Hop của Router PE đó không hề biết sự tồn tại của nhãn VPNv4 mà chỉ thực hiện vai trò như những
MPLS VPN Router.
Router PE2 nhận Update MP-BGP, và đường đi được lưu trữ trong bảng chuyển tiếp tương
ứng cho khách hàng A dựa trên nhãn VPN. Đường đi MP-BGP được Redistribute vào bảng chuyển
tiếp giữa PE-CE, và đường đi đó được quảng bá đến CE-2.

+ Bước 4: Các tuyến VPNv4 trong VRF được chuyển thành các tuyến IPv4 dùng để hội tụ quá trình
định tuyến trong C-Network và giữa các C-Network (bị ngăn cách bởi P Network) với nhau.
2.4. MPLS VPN và quá trình chuyển gói dữ liệu.

Sau khi quá trình định tuyến đã được hội tụ trong toàn bộ hệ thống MPLS VPN, các gói thông tin sẽ
được chuyển giao qua mạng lõi bằng phương thức chuyển mạch nhãn. Tiến trình này được thực
hiện như sau:
Khi gói tin IPv4 từ C-Network đi vào PE phát (Ingress PE Router) nó sẽ được PE Router gán hai
loại nhãn:
13
+ Nhãn đầu tiên (Top Label) ứng với nhãn V trong mô hình trên bao gồm RDs hay RTs dùng để
đáp ứng dịch vụ MPLS như đã phân tích ở các phần trên. Nhãn V này dùng cho hoạt động định
tuyến MP-BGP giữa các PE Router. Nhãn V kết hợp với gói tin IPv4 tạo thành gói tin VPNv4, được
hội tụ giữa các PE Router thông qua MP-BGP.
+ Nhãn thứ hai (Secondary Label) được mạng Core dùng để chuyển mạch nhãn. Các P Router chỉ
xử lý các nhãn này, phần còn lại được xem là dữ liệu.
Nhãn V và L được xếp vào ngăn xếp xử lý nhãn của PE Router và được xử lý theo nguyên tắc
(LIFO – Last In First Out). Các nhãn L sẽ thay đổi khi qua các P Router (đóng vai trò là các LSR
trong mô hình MPLS), trong khi đó nhãn V được xem là dữ liệu nên không thay đổi. Việc phân
phối nhãn giữa các P Router được thực hiện bằng LDP (Label Distribution Protocol). Để mô hình
MPLS VPN hoạt động có hiệu quả, cần thỏa mãn hai điều kiện:
- Các P Router phải sử dụng LDP để phân phối nhãn đến PE Router cạnh ngoài (Egress PE Router).
- Các PE Router cạnh chỉ cần xử lý nhãn V, và dựa vào nội dung trong V mà nhập các thông tin
định tuyến chính xác vào các VRF tương ứng.
2.5. Kết luận chương
Chương này đã trình bày các khái niệm về mạng VPN, phân loại các mô hình VPN hiện tại,
ưu nhược điểm mô hình VPN và sự cần thiết ra đời của MPLS VPN.
MPLS VPN phát triển dựa trên công nghệ Peer-to-Peer VPN, nhưng có nhiều điểm phát
triển hơn và hội tụ cả những ưu điểm của Overlay VPN. Các PE Router tham gia trực tiếp vào quá
trình định tuyến khách hàng để đảm bảo đường đi của lưu lượng qua mạng là tối ưu. Bên cạnh đó,

Chuyển tiếp lưu lượng vào một dường hầm – (Forwarding Traffic Down a Tunnel).
3.1.1. Sự phân phối thông tin
MPLS TE sử dụng giao thức OSPF hay IS-IS để phân phối thông tin về các tài nguyên sẵn có
trong mạng. Có bốn thông tin chính được phân phối:
 Thông tin về băng thông sẵn có.
 Độ ưu tiên đường hầm.
 Các cờ thuộc tính.
 Trọng lượng quản trị.
Mỗi một thông tin này được quảng bá trên một đường kết nối cơ bản. Nói cách khác, một bộ
định tuyến quảng bá băng thông sẵn có, cờ thuộc tính và Metric quản trị cho tất cả các đường kết
nối được yêu cầu trong điều khiển lưu lượng MPLS.
3.1.2. Tính toán và thiết lập tuyến
Tính toán và thiết lập tuyến là hai việc khác nhau. Về mặt chức năng, mã quyết định đường
dẫn cho một đường hầm qua mạng là khác so với mã thiết lập đường hầm này. Tuy nhiên, hai công
nghệ này lại có mối quan hệ rất mật thiết. Tính toán tuyến được thể hiện ở hai nội dung:
 Thuật toán cơ bản SPF (Shortest Path First) được OSPF và IS-IS sử dụng để xây dựng
bảng định tuyến trong một mạng IP.
 CSPF (Constrained SPF) của kỹ thuật lưu lượng MPLS.
15
Sau khi tính toán tuyến, tuyến sẽ được thiết lập nhờ sử dụng giao thức dành riêng tài nguyên
RSVP (Resource Reservation Protocol). RSVP không chỉ đóng vai trò trong thiết lập tuyến mà còn
giúp báo hiệu lỗi và tuyến Teardown.
3.1.3. Báo hiệu và duy trì
RSVP là một kỹ thuật báo hiệu được sử dụng để dữ trự tài nguyên qua mạng. MPLS TE
không bao giờ đóng gói RSVP trong UDP. RSVP không phải là một giao thức định tuyến. Bất kỳ
một quyết định định tuyến nào được tạo bởi IGP (bao gồm cả TE mở rộng) và CSPF. Công việc của
RSVP là báo hiệu và duy trì tài nguyên dành riêng qua mạng. RSVP có ba chức năng chính:
 Thiết lập tuyến và duy trì.
 Tuyến Teardown.
 Báo hiệu lỗi.

MPLS TE có tính ứng dụng rất cao với các dịch vụ MPLS khác. Trong đó, một ứng dụng phổ
biến hiện nay là MPLS VPN kết hợp điều khiển lưu lượng. MPLS VPN sử dụng một nhãn cho dịch
vụ của mình và nhãn này được truyền qua mạng bởi một hay vài nhãn IGP. TE có thể cung cấp
nhãn IGP như với LDP. Ta có thể sử dụng TE LSP để mang lưu lượng VPN. Kỹ thuật MPLS TE
định tuyến lưu lượng xuống một đường hầm TE (có thể bằng tuyến tĩnh hay tuyến động) và MPLS
VPN quyết định thông qua nút tiếp theo.
3.2.1. Đường hầm TE giữa các bộ định tuyến PE
Khi hai đường hầm TE (mỗi đường hầm cho một hướng) tồn tại giữa một đôi bộ định tuyến
PE và giao thức cổng biên BGP nút tiếp theo của các tuyến VPNv4 được trỏ đến các đường hầm
TE, lưu lượng VRF truyền qua các đường hầm này. Gói tin có hai nhãn: đứng đầu là TE Label và
cuối là VPN Label. Nếu TE khởi tạo trên tất cả bộ định tuyến P để truyền lưu lượng VRF trên các
đường hầm TE mà không có LDP thì lưu lượng đến cuối đường hầm sẽ chỉ có nhãn VPN và không
bao giờ có thể đến được PE ra. Trong trường hợp này, LDP không được triển khai trên các đường
hầm TE như đối với đường hầm được triển khai trên các bộ định tuyến PE.

3.2.2. Đường hầm TE giữa các bộ định tuyến P
Khi ta thiết lập đường hầm TE trên một đôi bộ định tuyến P thay thế cho bộ định tuyến PE thì
cần đảm bảo hai điều sau:
 LDP được khởi tạo trên tất cả các liên kết.
 Một phiên LDP tồn tại giữa bộ định tuyến đầu và cuối của đường hầm LSP TE.
Với yêu cầu đầu tiên, nếu một đường hầm TE được đặt tại bộ định tuyến P, các gói tin vẫn
cần được chuyển mạch nhãn đến bộ định tuyến PE. Mặt khác, các gói tin trở thành không được gán
nhãn và nhãn IGP cũng như nhãn VPN sẽ bị mất. Không có nhãn IGP, gói tin không thể đến PE ra
bởi vì kết quả dò tìm địa chỉ IP đích của gói tin sẽ là gói bị loại bỏ hoặc gói tin được định tuyến sai.
Đó là kết quả của các tuyến IP VRF không được biết đến trên bộ định tuyến P.
Ở yêu cầu thứ hai, bộ định tuyến cuối đường hầm TE sẽ gửi một nhãn Implicit Null đến LSR
Upstream cho LSP. Nếu một bộ định tuyến cuối đường hầm là PE thì sẽ không có chuyện gì xảy ra
bởi vì gói tin có một nhãn bị loại bỏ do bộ định tuyến áp chót nhưng vẫn còn giữ nhãn VPN trong
17
gói tại PE ra. Tuy nhiên, đối với một bộ định tuyến P là bộ định tuyến cuối đường hầm của LSP TE

18
 Khu vực nhà cung cấp dịch vụ Service Provider bao gồm các bộ định tuyến biên R3 và R8,
các bộ định tuyến lõi là R4, R5, R6, R7. Trong khu vực của nhà cung cấp có sử dụng các đường kết
nối Serial T1. Với địa chỉ Loopback trên mỗi bộ định tuyến là 150.1.x.x để làm Router-ID khi chạy
giao thức định tuyến nội miền OSPF. Lần lượt là:
o R3 – 150.1.3.3/32
o R4 – 150.1.4.4/32
o R5 – 150.1.5.5/32
o R6 – 150.1.6.6/32
o R7 – 150.1.7.7/32
 Khu vực của khách hàng Customer bao gồm các bộ định tuyến biên CE là R1, R2, R9,
R10. Các bộ định tuyến biên khách hàng này được nối trực tiếp với bộ định tuyến biên nhà cung
cấp, cụ thể như sau: R1, R2 được nối với R3 và R9, R10 được nối với R8. Trong Topology này có
hai nhóm khách hàng, một là nhóm khách hàng giữa bộ định tuyến R1 với R9, hai là nhóm khách
hàng giữa R2 và R10. Đường liên kết từ bộ định tuyến biên khách hàng đến Router biên nhà cung
cấp là các đường kết nối FastEthernet. Tại mỗi bộ định tuyến biên khách hàng có một địa chỉ
Loopback là
o R1 – 1.1.1.1/32
o R2 – 2.2.2.2/32
o R9 – 9.9.9.9/32
o R10 – 10.10.10.10./32
Các đường kết nối trong Topology được sử dụng một cách gán địa chỉ là: 150.1.x.0/24. Ví dụ:
o R1-R3 – 150.1.13.0/24
o R3-R4 – 150.1.34.0/24
o R4-R6 – 150.1.46.0/24
3.3.3. Xây dựng kịch bản mô phỏng
Trong phần này xây dựng hai kịch bản mô phỏng dựa trên kỹ thuật chuyển mạch nhãn đa
giao thức trên phần mềm GNS-3.
 Kịch bản 1: Triển khai kỹ thuật MPLS VPN
o Triển khai giao thức Ripv2 trên tất cả các bộ định tuyến biên của khách hàng như R1,

tìm và lựa chọn đường dẫn phù hợp cho lưu lượng đi trong mạng lõi. 20
KẾT LUẬN
Với mục tiêu nghiên cứu kỹ thuật lưu lượng trong MPLS VPN, luận văn đã hoàn thành được
các nội dung sau:
 Tìm hiều về các thành phần, các khái niệm cơ bản và các bước hoạt động của mạng
chuyển mạch nhãn đa giao thức MPLS.
 Nghiên cứu kỹ thuật MPLS VPN bao gồm tìm hiều về các thuộc tính cơ bản của mạng
riêng ảo VPN, mô hình mạng riêng ảo trên nền mạng MPLS, các hoạt động gửi gói tin qua mạng
giữa các khách hàng với nhau.
 Nghiên cứu kỹ thuật điều khiển lưu lượng TE và sự kết hợp với kỹ thuật MPLS VPN
giữa các bộ định tuyến trong mạng của nhà cung cấp dịch vụ làm nâng cao hiệu suất mạng.
 Thực hiện mô phỏng thành công các kịch bản về kỹ thuật mạng riêng ảo MPLS VPN và
kết hợp điều khiển lưu lượng.
Hướng nghiên cứu tiếp theo của luận văn là nghiên cứu một số giải thuật tối ưu có thể ứng
dụng để tối ưu hóa bài toán điều khiển lưu lượng trong MPLS VPN.
HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG

BÙI ANH TUẤN
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN TIẾN BAN
Phản biện 1: ……………………………………………………………………………

Phản biện 2: ………………………………………………………………………… Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ tại Học viện Công nghệ
Bưu chính Viễn thông
Vào lúc: giờ ngày tháng năm Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Thư viện của Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status