LUẬN VĂN:
Một số giải pháp nhằm hoàn thiện dịch vụ
thanh toán thẻ tại Ngân hàng Ngoại thương
Việt Nam - Chi nhánh Quận Hai Bà Trưng
tôi bởi tính hấp dẫn của nó. Nhận thấy đây là khía cạnh khá mới mẻ , xuất hiện ở Việt nam
chưa được bao lâu, phần lớn dân cư còn chưa thông hiểu , nên tôi đã mạnh dạn đi sâu vào
nghiên cứu và quyết định chọn đề tài “ Một số giải pháp nhằm hoàn thiện dịch vụ thanh
toán thẻ tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Quận Hai Bà Trưng.” Cho
chuyên đề tốt nghiệp của mình.
chương 1: lý luận cơ bản về
thanh toán không dùng tiền mặt và thẻ ngân hàng trong nền kinh tế thị trường
1.1. tổng quan về thanh toán không dùng tiền mặt.
1.1.1 Sự cần thiết và vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt trong hoạt động
kinh tế.
1.1.1.1 Sự cần thiết của thanh toán không dùng tiền mặt.
Như chúng ta đã biết, sự ra đời và phát triển của lưu thông tiền tệ gắn liền với quá
trình ra đời và phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá. Sở dĩ như vậy là do yêu cầu
của quá trình trao đổi hàng hoá mà tiền tệ đã ra đời với vai trò làm trung gian trao đổi các
loại hàng hoá được thực hiện dễ dàng, nhanh chóng góp phần thúc đẩy sản xuất và lưu
thông hàng hoá phát triển.
Quá trình tái sản xuất xã hội là một quá trình liên hoàn và không ngừng mở rộng,
trong đó tồn tại các quan hệ trao đổi, mua bán hàng hoá dịch vụ do đó không thể không có
hoạt động thanh toán.
Khi nền sản xuất còn ở trình độ thấp, thanh toán tiền tệ chỉ bó hẹp trong phạm vi và
khối lượng nhỏ, việc thanh toán được thực hiện bằng việc chi trả tiền mặt, sự vận động của
vật tư hàng hoá gắn liền với sự vận động của một khối lượng tiền mặt nhất định. Thanh
toán bằng tiền mặt lúc này tỏ ra là phương thức thanh toán hữu hiệu nhất, nó được thực
hiện rất linh hoạt tuỳ theo thoả thuận giữa hai bên mua bán mà ít gặp trở ngại.
Tuy nhiên, khi sản xuất hàng hoá phát triển ở trình độ cao hơn, khối lượng sản phẩm
sản xuất nhiều hơn thì trao đổi hàng hoá không chỉ bó hẹp trong phạm vi một vùng mà mở
rộng ra cả nước và quốc tế.
Lúc này, thanh toán bằng tiền mặt đã bộc lộ những hạn chế nhất định như chi phí tốn
kém trong việc in ấn, bảo quản, vận chuyển, kiểm đếm, không đáp ứng các nhu cầu thanh
sản xuất.
- Tăng tỷ trọng TTKDTM sẽ góp phần làm giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông
từ đó tiết kiệm được chi phí của xã hội và của Ngân hàng. Cụ thể đó là những chi phí trong
việc in ấn, vận chuyển, bảo quản, kiểm đếm tiền mặt… Nhờ vậy, có thể sử dụng các nguồn
vốn tiết kiệm được để đầu tư mở rộng sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm mục tiêu
tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra, TTKDTM còn góp phần hạn chế đến mức thấp nhất các tệ
nạn xã hội như tham ô, hối lộ, trộm cắp…, ngăn chặn hoạt động "rửa tiền", làm tiền giả
hay đầu cơ, tích trữ…
-TTKDTM tạo điều kiện để Ngân hàng thu hút nguồn vốn nhàn rỗi mở rộng tín dụng
và phát triển dịch vụ Ngân hàng.
Như chúng ta đã biết, nghiệp vụ tín dụng và nghiệp vụ thanh toán luôn có mối quan hệ
ràng buộc hữu cơ với nhau, chỉ khi thực hiện tốt mối quan hệ này thì Ngân hàng mới có
điều kiện phát triển được. TTKDTM đòi hỏi các doanh nghiệp phải có tài khoản tiền gửi
tại Ngân hàng và số dư trên tài khoản tiền gửi phải đảm bảo khả năng thanh toán khi cần
thiết. Các tổ chức kinh tế và cá nhân mở tài khoản tiền gửi thanh toán ở Ngân hàng có
quyền sử dụng toàn bộ số tiền đó vào bất cứ lúc nào và Ngân hàng phải có trách nhiệm
thoả mãn nhu cầu đó. Tuy nhiên, có sự không ăn khớp giữa những người có nhu cầu rút
tiền và gửi tiền vào, do đó hình thành một số dư tương đối lớn và ổn định về nguồn vốn
ngắn hạn cho Ngân hàng. Mặt khác, Ngân hàng hoàn toàn có kế hoạch một cách tương đối
chính xác nhu cầu rút tiền mặt của khách hàng trong từng thời kỳ. Như vậy, ngoài phần dự
trữ tiền mặt để đảm bảo khả năng chi trả, thanh toán kịp thời cho khách hàng, số còn lại,
Ngân hàng có thể sử dụng để đầu tư, mở rộng tín dụng của mình. Thực tế, khối lượng tiền
gửi thanh toán chiếm tỷ trọng khá cao trong toàn bộ nguồn vốn của Ngân hàng, tạo thuận
lợi cho Ngân hàng trong việc giảm lãi suất cho vay. Bản chất của nguồn vốn này không
phải gửi vào Ngân hàng để lấy lãi mà để sử dụng một cách chủ động, kịp thời trong thanh
toán tiền hàng hoá, dịch vụ giữa các đơn vị và cá nhân. Làm tốt công tác thanh toán qua
Ngân hàng, thu hút nhiều khách hàng gửi tiền vào Ngân hàng để thanh toán là điều kiện tốt
để mở rộng khối lượng tín dụng với lãi suất thấp.
- Thông qua TTKDTM, tạo điều kiện để NHTW xây dựng và điều hành CSTT một
cách thuận lợi. Sở dĩ như vậy là do yêu cầu bắt buộc chủ thể tham gia TTKDTM phải có
tiền gửi của mình để trả cho người thụ hưởng có tên trên tờ séc hay người cầm tờ séc đó.
Séc là loại chứng từ thanh toán được áp dụng rộng rãi ở tất cả các nước trên thế giới,
quy định sử dụng séc đã được chuẩn hoá trên Luật thương mại quốc gia và Công ước quốc
tế.
Theo Nghị định số 30/ CP quy định rõ ở Việt Nam được phép lưu hành các loại séc
vô danh vá séc ký danh được phép chuyển nhượng thông qua thủ tục ký hậu chuyển
nhượng. Nghị định số 30/ CP ra đời đã đánh dấu một bước chuyển biến có ý nghĩa kinh tế
lớn trong việc sử dụng séc ở Việt Nam. Theo quy định này, séc không còn là một công cụ
chuyển khoản đơn thuần mà còn phát huy được vai trò là một công cụ lưu thông.
Séc được dụng để thanh toán tiền hàng, dịch vụ, nộp thuế, trả nợ … hoặc được dùng
để rút tiền mặt tại các chi nhánh Ngân hàng. Tất cả các khách hàng mở tài khoản tại Ngân
hàng đều có quyền sử dụng séc để thanh toán. Thời hạn hiệu lực của séc là 15 ngày kể từ
ngày chủ tài khoản phát hành séc đến ngày người thụ hưởng nộp séc vào Ngân hàng ( gồm
cả ngày chủ nhật và ngày lễ ). Trường hợp nếu ngày kết thúc thời hạn hiệu lực của tờ séc là
ngày nghỉ, ngày lễ thì thời hạn đó được lùi vào ngày làm việc kế tiếp.
ở Việt Nam hiện nay có 2 loại séc thanh toán: Séc chuyển khoản và Séc bảo chi.
<1>. Séc chuyển khoản
Séc chuyển khoản là lệnh trả tiền của người phát hành séc đối với Ngân hàng phục vụ
mình về việc trích một khoản tiền nhất định từ tài khoản của mình để trả cho người được
hưởng có tên trong tờ séc.
Séc chuyển khoản chỉ được áp dụng trong phạm vi thanh toán giữa các khách hàng có
tài khoản ở cùng một chi nhánh nhưng các chi nhánh này có tham gia giao nhận chứng từ
trực tiếp cho nhau theo quy định hiện hành (thanh toán bù trừ ), thời gian hiệu lực của tờ
séc tối đa là 10 ngày làm việc. Khác với séc lĩnh tiền mặt, khi phát hành séc thanh toán
chuyển khoản, chủ tài khoản phải gạch hai đường song song chéo góc hoặc viết chữ
"chuyển khoản " ở góc phía trên bên trái mặt trước tờ séc trước khi giao người thụ hưởng.
Về nguyên tắc, séc chuyển khoản phải được phát hành trên cơ sở số dư tài khoản tiền
gửi hiện có tại Ngân hàng. Nếu tài khoản tiền gửi không đủ để thanh toán, séc sẽ bị Ngân
hàng từ chối thanh toán, chủ tài khoản phải chịu trách nhiệm thanh toán tờ séc đó và những
khoản tiền phạt chi phí phát sinh liên quan đến việc khiếu nại và khởi kiện.
lý dưới dạng các chứng từ điện tử).
Đơn vị trả tiền sau khi nhận được hàng hoá, dịch vụ cung ứng, trong thời gian nhất
định phải lập các UNC gửi đến Ngân hàng để trích tài khoản chuyển trả cho đơn vị thụ
hưởng. Tuỳ theo phạm vi và tổ chức thanh toán, đơn vị phải lập từ 3-4 liên với đâỳ đủ nội
dung và các yếu tố cần thiết. Khi lập và nộp UNC vào Ngân hàng, đơn vị trả tiền phải đảm
bảo đủ số dư trên tài khoản để đảm bảo chi trả. Nếu chứng từ hợp lệ, tài khoản đủ tiền,
trong phạm vi một ngày làm việc, Ngân hàng phải hoàn tất UNC đó. Nếu chứng từ không
hợp lệ, hợp pháp, tài khoản không đủ số dư thì Ngân hàng không thanh toán.
Trường hợp bên thụ hưởng không có tài khoản tiền gửi thì Ngân hàng phục vụ bên
thụ hưởng ghi Có TK "Chuyển tiền phải trả" và báo cho bên thụ hưởng đến nhận tiền.
1.1.2.3 Uỷ nhiệm thu (UNT)
UNT là giấy uỷ nhiệm đòi tiền do người thụ hưởng lập và gửi vào Ngân hàng phục
vụ mình nhờ thu hộ tiền theo số lượng hàng hoá đã giao, dịch vụ đã cung ứng.
UNT được sử dụng rộng rãi trong việc thanh toán các hoá đơn định kỳ cho người
cung ứng dịch vụ công cộng như điện, nước, điện thoại … bởi nó thường được dùng cho
các giao dịch thanh toán có giá trị nhỏ nên các UNT chiếm tỷ lệ không đáng kể trong tổng
các giao dịch TTKDTM.
UNT được áp dụng thanh toán giữa các khách hàng mở tài khoản trong cùng một chi
nhánh Ngân hàng hoặc các chi nhánh Ngân hàng cùng hệ thống hoặc khác hệ thống.
Khách hàng mua và bán phải thống nhất thoả thuận dùng hình thức UNT đối với những
điều kiện cụ thể đã ghi trong hợp đồng kinh tế, đồng thời phải thông báo bằng văn bản cho
Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng biết làm căn cứ để thực hiện các UNT. Sau khi giao
hàng hoặc hoàn tất dịch vụ cung ứng, bên thụ hưởng lập giấy UNT theo mẫu của Ngân
hàng, kèm theo hoá đơn gửi tới Ngân hàng phục vụ mình hoặc gửi trực tiếp đến Ngân hàng
phục vụ bên trả tiền yêu cầu thu hộ. Khi nhận được giấy UNT trong vòng một ngày làm
việc, Ngân hàng bên trả tiền trích tài khoản của khách hàng mình trả ngay cho bên thụ
hưởng để hoàn tất việc thanh toán.
1.1.2.4 Thư tín dụng (TTD)
TTD là hình thức thanh toán theo sự thoả thuận giữa hai bên bán và mua trong điều
kiện bên bán đòi hỏi bên mua phải có đủ tiền để chi trả phù hợp với giá trị hàng hoá mà
Machine) như chuyển khoản, kiểm tra số dư…
Thẻ thanh toán dù dưới hình thức nào cũng phải có đầy đủ các yếu tố: Tên chủ thẻ,
tên Ngân hàng phát hành thẻ, số thẻ, nhãn hiệu thương mại và thời hạn sử dụng thẻ.
Trong thanh toán thẻ bao gồm các chủ thể sau:
- Ngân hàng phát hành thẻ: là Ngân hàng bán thẻ cho khách hàng và chịu trách nhiệm
thanh toán số tiền do người sử dụng trả cho người thụ hưởng. Ngân hàng phát hành thẻ có
thể uỷ nhiệm cho một số chi nhánh Ngân hàng phát hành và quản lý thẻ.
- Người sử dụng thẻ: là người trực tiếp mua thẻ tại Ngân hàng và dùng thẻ để mua
hàng hoá, dịch vụ.
- Người tiếp nhận thẻ thanh toán bằng thẻ: là các doanh nghiệp cung ứng hàng hoá,
dịch vụ cho người sử dụng thẻ.
- Ngân hàng đại lý thanh toán: là các chi nhánh Ngân hàng do Ngân hàng phát hành
thẻ quy định, Ngân hàng đại lý thanh toán có trách nhiệm thanh toán cho người tiếp nhận
thanh toán bằng thẻ khi nhận được biên lai thanh toán.
Người sử dụng thẻ có thể rút tiền mặt nhưng mỗi lần không quá 5 triệu đồng và mỗi
ngày thẻ chỉ rút một lần. Nếu mất thẻ, người sử dụng phải thông báo ngay bằng văn bản
cho Ngân hàng phát hành thẻ biết để thông báo cho Ngân hàng đại lý thanh toán thẻ báo
cho cơ sở tiếp nhận thẻ biết. Khi sử dụng hết hạn mức hoặc hết thời hạn sử dụng của thẻ,
nếu có nhu cầu, người sử dụng thẻ phải đến Ngân hàng phát hành thẻ làm thủ tục sử dụng
tiếp. Trong phạm vi 10 ngày làm việc, kể từ ngày viết hoá đơn cung ứng hàng hoá, dịch
vụ, người tiếp nhận thẻ phải nộp biên lai vào Ngân hàng đại lý để đòi tiền, nếu quá thời
hạn trên, Ngân hàng không chấp nhận thanh toán. Trong phạm vi 1 ngày làm việc, kể từ
khi nhận được biên lai thanh toán, Ngân hàng đại lý phải thanh toán cho người tiếp nhận
thanh toán thẻ.
Như vậy, ta thấy rằng TTKDTM với rất nhiều hình thức, có vị trí và vai trò rất quan
trọng đối với nền kinh tế thị trường. Vấn đề đặt ra là trong công tác thanh toán còn một số
tồn tại đòi hỏi ta phải xem xét tuỳ từng Ngân hàng cụ thể để có thể đưa ra những biện pháp
hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả của công tác TTKDTM .
1.2 những vấn đề chung về thẻ thanh toán.
1.2.1 Cơ sở hình thành và phát triển.
Vào năm 1977, BankAmericard trở thành Vi SA USA và sau đó là tổ chức thẻ Quốc tế
VISA. Ngay sau đó, vào năm 1979, với sự tăng trưởng mạnh mẽ, MasterCharge trở thành
tổ chức thẻ quốc tế MasterCard. Các thành viên của hai Tổ chức thẻ quốc tế này cũng như
bản thân cả hai tổ chức bắt đầu mua các chương trình phần mềm cũng như các thiết bị
phần cứng phát hành , thanh toán và quản lý thẻ của các công ty bên ngoài với mụch đích
tiết kiệm chi phí cho các thành viên và tạo điều kiện cho ngày càng nhiều các tổ chức tài
chính Ngân hàng có thể tham gia hệ thống .
Tiếp thu và ứng dụng những thành tựu của thế giới về khoa học kỹ thuật , nhất là về
công nghệ tin học ….hệ thống thanh toán thẻ ngày càng hoàn thiện. Hệ thống tín dụng thẻ
ngày nay bao gồm cả các tổ chức thẻ quốc tế , các tổ chức tài chính Ngân hàng , các công
ty cung ứng thiết bị và giải pháp kỹ thuật, các công ty quốc tế …Cùng với mạng lưới thanh
viên và khách hàng phát triển từng ngày , các tổ chức thẻ quốc tế đã xây dựng hệ thống xử
lý giao dịch và trao đổi thông tin trên toàn thế giới. Với doanh số giao dịch hàng trăm tỷ
USD mỗi năm , thẻ đang cạnh tranh quyết liệt cùng tiền mặt và séc trong hệ thống thanh
toán toàn cầu. Đây là một thành công đáng kể đói với một ngành kinh doanh mới chỉ trong
vài thập kỷ hình thành và phát triển .
Một câu hỏi được đặt ra : “Tại sao thẻ xuất hiện , được sử dụng chỉ trong một thời gian
không dài như vậy lại có thể có tính phổ cập mạnh mẽ đến thế ?” Câu trả lời thật đơn giản ,
bởi lẽ thẻ có ưu thế riêng của mình , tạo nên sự quan trọng không thể thiếu trong xã hội
hiện đại ngày nay .
1.2.2 Vai trò của thẻ thanh toán :
Hiện nay khi các tiến bộ khoa học kỹ thuật được áp dụng rộng rãi, trong cả lĩnh vực
tiền tệ Ngân hàng, thì việc thanh toán tiền mặt đã trở nên lỗi thời tốn kém, gây lãng phí
vốn, nhiều rủi ro hạn chế về hiệu quả kinh tế. Mặt khác , nó ngẫu nhiên tạo ra môi trường
cho hoạt động trốn thuế, làm giảm thu ngân sách nhà nước, làm mất tính công bằng trong
việc thực hiện nghĩa vụ thuế của mỗi người dân … Do đó, khi thanh toán không dùng tiền
mặt ra đời, nó ngày càng phát triển và được coi trọng, trong đó có việc sử dụng thẻ thanh
toán .
1.2.2.1 Vai trò của thẻ đối với nền kinh tế
dụng cho mọi đối tượng khách hàng.
1.2.3 Các nghiệp vụ trong kinh doanh thẻ.
1.2.3.1 Nghiệp vụ maketing.
Cũng như những ngành nghề khác, kinh doanh thẻ ngân hàng đòi hỏi chú trọng đáng kể
vào công tác marketing và dịch vụ khách hàng. Về lý thuyết, marketing và dịch vụ khác
hàng trong kinh doanh thẻ là khái niệm tương đối rộng, bao gồm tòan bộ các phương thức
để tìm kiếm khách hàng (CSCNT và chủ thẻ), giúp họ tiếp cận, quyết định lựa chọn
phương thức thanh toán phi tiền mặt này và trở thành khách hàng lâu dài của ngân hàng
Trên thực tế, marketing bao gồm các hoạt động như:
- Tiếp xúc với các đơn vị cung ứng hàng hóa, dịch vụ có tiềm năng cho hoạt động
thẻ; thuyết phục họ ký kết hợp đồng chấp nhận thanh toán thẻ thông qua những lợi ích về
thẻ ngân hàng và các ưu thế của các ngân hàng riêng biệt
- Cung cấp dịch vụ cho các CSCNT như: lắp đặt các thiết bị đọc thẻ, hướng dẫn quy
trình nghiệp vụ, thao tác cần thiết cho hoạt động chấp nhận thẻ, tiếp nhận những yêu cầu
về duy trì, bảo dưỡng máy móc thiết bị từ ĐVCNT.
- Tiến hành việc quảng cáo cho các CSCNT nói chung hoặc các CSCNT tiềm năng
cùng với chương trình quảng cáo, khuyếch trương thẻ.
- Nâng cao tính trung thành của các CSCNT bằng cách xếp hạng, tính điểm phục vụ
hoặc lượng giá trị giao dịch tại đơn vị để từ đó có thể giảm phí chiết khấu…
- Tiếp xúc với các khách hàng là cá nhân, doanh nghiệp có tiềm năng sử dụng thẻ,
thuyết phục họ ký kết hợp đồng sử dụng thẻ thông qua những tiện ích của thẻ ngân hàng
nói chung và các ưu thế, những dịch vụ mà ngân hàng cung cấp.
- Duy trì mối liên hệ với chủ thẻ, khuyến khích tiêu dùng thẻ của chủ thẻ thông qua việc
xây dựng các chương trình khuyến mại, điểm thưởng…
Các công cụ thực hiện marketing được chia ra làm 2 loại: công cụ phục vụ tại quầy: như
những tờ rơi, tờ giới thiệu… tại nơi tiếp đón và nhận yêu cầu của khách hàng ở các chi
nhánh và các công cụ phục vụ tại nơi công cộng như các panô, áp phích quảng cáo, những
biển báo, lôgô và hình ảnh thẻ tại các CSCNT… Tuy nhiên, yếu tố quan trọng và đóng vai
trò quyết định trong hoạt động marketing chính là con người. Các cán bộ marketing đòi
Bộ phận quản lý rủi ro tại các ngân hàng có kinh doanh thẻ được coi là bộ phận xương
sống (backbone) trong hoạt động thẻ, thực hiện các chức năng:
- Ngăn ngừa và điều tra các hành vi sử dụng thẻ giả mạo;
- Quản lý danh mục các tài khoản liên quan tới những thẻ đã được thông báo mất, thất
lạc;
- Xây dựng các kế hoạch theo dõi việc bảo mật phôi thẻ, thẻ đã in và thẻ hỏng, thẻ thu
hồi;
- Cập nhật thông tin trên các Danh sách thẻ mất cắp, thất lạc;
- Hợp tác với cơ quan có thẩm quyền liên quan trong việc điều tra, xử lý các hành vi vi
phạm hợp đồng, giả mạo;
- Theo dõi và quản lý hoạt động của Trung tâm Thẻ, bao gồm cả hoạt động của các cán
bộ;
- Tổ chức tập huấn cho nhân viên CSCNT và chủ thẻ về các biện pháp phòng ngừa giả
mạo.
Kinh doanh thẻ Ngân hàng càng phát triển thì lĩnh vực quản lý rủi ro càng được đầu tư
nhiều hơn. Các chuyên gia trong lĩnh vực này là những người thực sự am hiểu về thẻ và
công nghệ hiện đại bởi trước khả năng thu lời siêu lợi nhuận, các tổ chức tội phạm quốc tế
đã tận dụng công nghệ hiện đại, bằng mọi cách thu thập các dữ liệu về thẻ, tài khoản của
khách hàng, từ đó thực hiện các hành vi giả mạo, gây tổn hại khôn lường về tài chính cũng
như uy tín cho Ngân hàng, chủ thẻ…
Chương 2: Thực trạng phát hành, thanh toán và quản lý rủi ro trong kinh doanh thẻ ngân
hàng tại ngân hàng ngoại thương việt nam – chi nhánh quận hai bà trưng
2.1 Khái quát chung về hoạt động của ngân hàng ngoại thương việt nam
2.1.1 Sự hình thành và phát triển của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
Vài nét về Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
Là Ngân hàng Thương mại quốc doanh (NHTMQD) được thành lập từ 1/4/1963.
Vốn điều lệ hơn 3.955 tỷ đồng.
Là đại lý thanh toỏn chuyển tiền nhanh toàn cầu Money Gram lớn nhất tại Việt Nam. Là Ngõn hàng chiếm tỷ trọng thanh toỏn xuất nh
ập khẩu và bảo lónh lớn nhất Việt
Nam. Là Ngân hàng duy nhất tại Việt Nam đạt tỷ lệ trên 95% điện Swift đư
ợc xử lý hoàn
toàn tự động theo tiêu chuẩn của Mỹ.
Liên tiếp trong 8 năm liền: 1996, 1997, 1998, 1999, 2000, 2001, 2002 và 2003 đư
ợc
công nhận là Ngân hàng có chất lư
ợng dịch vụ tốt nhất về thanh toán Swift theo tiêu
chuẩn quốc tế.
Đư
ợc chọn lựa làm Ngân hàng chính trong việc quản lý và phục vụ cho cỏc khoản
vay nợ, viện trợ của Chính phủ và nhiều dự án ODA tại Việt Nam.
Là NHTM hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực tài trợ thương m
ại, thanh toán quốc tế,
kinh doanh ngoại hối, ứng dụng công nghệ vào hoạt động Ngân hàng.
Là NHTM duy nhất tại Việt Nam đư
ợc tạp chí “the Banker” một tạp chớ Ngõn hàng
cú tiếng trong giới tài ch
cường hoạt động qua thị trường liên ngân hàng trong nư
ớc và quốc tế nhằm nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn, góp phần tăng trưởng lợi nhuận. Trong những n
ăm qua Ngân
hàng Ngoại thương luôn phát huy vai tr
ũ là một ngõn hàng uy tớn nhất trong cỏc lĩnh
vực tài trợ, thanh toỏn xuất nhập khẩu, kinh doanh ngo
ại hối, bảo lónh và cỏc dịch vụ
tài chớnh, ngõn hàng quốc tế, do vậy trong đi
ều kiện cạnh tranh gay gắt Ngân hàng
Ngo
ại thương vẫn giữ vững được thị phần ở mức cao và ổn định.
Song song với các hoạt động kinh doanh, Ngân hàng Ngoại th
ương luôn chú
trọng đến các hoạt động hỗ trợ kinh doanh khác như phát triển nguồn nhân lực, đầu t
ư
chiều sâu vào công nghệ Ngân hàng. Hệ thống Ngân hàng bán lẻ (VCB -2010) - m
ột bộ
phận của chiến lược phát triển công nghệ Ngân hàng - được đưa vào s
ử dụng từ tháng
9/1999 tại Sở giao dịch và đến nay đó tri
ển khai trong toàn hệ thống Ngõn hàng Ngoại
thương.
Xác định được những khó khăn trước mắt cũng như trong tương lai, nh
ằm hội
nhập với bên ngoài, theo đuổi các chuẩn mực Ngân hàng trong khu vực cũng nh
ư trên
thế giới, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đó xõy dựng chiến lược phát triển đ
ến
năm 2010 với những định hướng lớn và toàn diện bảo đ
2.429.871
2.164.885
712.867
212.385
5.604.711
5.067.395
1.263.531
312.815
3.873.146
3.347.317
860.727
328.951
4.840.356
4.040.134
1.132.903
876.815
Các chỉ số khác
- Tổng tài sản
- Cho vay
- Tổng giá trị
tiền gửi
- Vốn tự có
45.269.564
9.322.018
33.213.221
·
Năm 1963: Ngày 1/4/1963 Ngân hàng Ngo
ại th
ương Vi
ệt Nam (NHNT VN)
được thành lập theo quyết định 115/CP ngày 30/10/1962 trên cơ sở tách ra từ C
ục quản
lý Ngoại hối Ngõn hàng TW (nay là NHNN) hoạt động dưới sự lónh đ
ạo trực tiếp của
NHNN v
ới chức năng là ngân hàng duy nhất phục vụ kinh tế đ
ối ngoại và cho vay xuất
nhập khẩu của cả nước.
Trong thời gian 1964 - 1975 NHNTVN đó thực hiện tốt 2 nhiệm v
ụ chủ yếu là:
phục vụ cho cụng cuộc phỏt triển kinh tế ở miền Bắc XHCN và đóng góp m
ột phần hết
sức quan trọng cho cuộc chiến đấu giải phóng miền Nam qua việc đáp ứng đầy đ
ủ nhu
cầu chuyển tiền phục vụ cho việc mua sắm vũ khí, đạn dược, thuốc men cũng nh
ư
lương thực, thực phẩm chi viện cho miền Nam.
· Năm 1976: Khai trưong chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh.
· Năm 1977: Khai trương chi nhánh Đà Nẵng, Hải Phũng.
· Năm 1978: Khai trương Công ty Tài chính
ở HongKong (Vinafico
HongKong).
· Năm 1982: Khai trương chi nhánh Đặc khu Vũng tàu Côn đảo.
· Năm 1985: Khai trương chi nhánh Nha Trang, Hà Nội, Quy Nhơn.
· Năm 1986: Khai trương chi nhánh Kiên Giang.
- Khai trương chi nhánh Đồng Nai, Quảng Ninh, An Giang.
- Thành lập Văn Phũng và Sở Giao Dịch NHNT TW trực thuộc NHNTVN.
- Làm đại lý thanh toỏn thẻ MasterCard với cụng ty tài chớnh MBF, Malaysia.
· Năm 1993:
- Được Nhà nước tặng thưởng Huân chương lao động Hạng hai
- Khai trương chi nhánh Huế, Tân Thuận tại khu chế xuất Tân Thuận - TP. H
ồ
Chí Minh.
- Thành lập Ngân hàng liên doanh với đ
ối tác Hàn Quốc (FIRST VINA BANK),
nay là CHOHUNG VINA BANK (CVB).
- Làm đại lý thanh toỏn thẻ JCB với công ty thẻ JCB của Nhật Bản.
- Phát hành thẻ thanh toán Vietcombank Card (Smart Card) v
ới công nghệ thẻ
chip.
· Năm 1994:
- Nhằm tận dụng tối đa khả năng s
ử dụng vốn cùng với việc ứng dụng công nghệ
tiên tiến vào lĩnh vực quản lý, NHNT là Ngõn hàng đ
ầu tiờn tại Việt Nam ỏp dụng
quản lý vốn tập trung toàn hệ thống.
- Khai trương chi nhánh Hà Tĩnh, chi nhánh Minh Hải nay đ
ổi tên thành chi
nhánh Cà Mau.
- Khai trương Công ty thuê mua và Đầu tư trực thuộc NHNTVN.
- Chính thức ban hành qui định biểu tư
ợng và mẫu danh thiếp thống nhất trong
toàn hệ thống NHNTVN.
- Làm đ
ại lý thanh toỏn thẻ American Express của cụng ty thẻ American Express,
ờn, Logo, chữ viết tắt, màu sắc của
NHNT) đ
ộc quyền tại Cục sở hữu Công nghi
ệp, bộ Khoa học Công nghệ và Môi
trường.
- Lần đầu tiên đư
ợc Chase Manhattan Bank, Newyork công nhận là Ngân hàng có
chất lượng dịch vụ tốt nhất về thanh toán Swift theo tiêu chuẩn quốc tế năm 1996.
· Năm 1998:
- Phát hành thẻ tín dụng Vietcombank VISA.
- Khai trương chi nhánh Bỡnh Tõy tại quận 6 TP Hồ Chớ Minh.
- Nhận giải thưởng “New Kids On The Block” của tổ chức thẻ VISA
- Khai trương Công ty cho thuê tài chính NHNTVN.
- Lần thứ hai liên tiếp (1996-1997) đư
ợc Chase Manhattan Bank, Newyork công
nhận là Ngân hàng có chất lư
ợng dịch vụ tốt nhất về thanh toán Swift theo tiêu chuẩn
quốc tế.
· Năm 1999:
- Khai trương chi nhánh Bỡnh Dương, Quảng Ngói.
- Nhận giải thưởng “Ngân hàng dẫn đầu của Việt Nam -
VISA Pacesetter Award
1999” của VISA khu vực Châu Á - Thái Bỡnh Dương.
- Lần thứ ba liên tiếp (1996-1998) đư
ợc Chase Manhattan Bank, Newyork công
nhận là Ngân hàng có chất lượng dịch vụ tốt nhất về thanh toán Swift theo tiêu chuẩn
quốc tế.
- Khai trương hệ thống Ngân hàng bán lẻ VCB 2010, đây là s
ản phẩm công nghệ
Ngân hàng tiên ti