Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm tại công ty Cổ phần Vật tư Hải Dương - Pdf 10

LỜI MỞ ĐẦU
Bất kỳ doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển đều phải làm tốt
các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh bao gồm: Sản xuất- phân phối
-trao đổi. Tiêu thụ là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất, hực hiện tốt
khâu tiêu thụ sẽ đảm bảo cho chu kỳ kinh doanh diễn ra liện tục, bù đắp
được chi phí đã bỏ ra trong quá trình sản xuất từ đó thu được lợi nhuận và
tiếp tục tái sản xuất. Tiêu thụ sản phẩm là một khâu quan trọng trong chu
kỳ kinh doanh, xét cho đến cùng có tiêu thụ được sản phẩm doanh nghiệp
mới có thể thúc đẩy các hoạt động khác. Tiêu thụ sản phẩm là một hoạt
động mang tính khoa học và nghệ thuật, đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải xây
dựng một hệ thống phương pháp, căn cứ, các chiến lược, kế hoạch tiêu thụ
sản phẩm chu đáo từ đó áp dụng vào thực tiễn một cách linh hoạt. Như vậy
tiêu thụ sản phẩm là vấn đề sống còn đối với các doanh nghiệp. Giải quyết
tốt công tác tiêu thụ quyết định sự thành công hay thất bại của doanh
nghiệp trên thương trường, nhiều khi quyết định đến vận mệnh của doanh
nghiệp.
Thấy được tầm quan trọng của công tác tiêu thụ sản phẩm trong
doanh nghiệp hiện nay, qua thời gian thực tập ở công ty Cổ phần Vật tư
Hải Dương với những kiến thức đã học ở trường, em xin chọn đề tài: “Một
số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm tại công ty Cổ phần
Vật tư Hải Dương “ làm đề tài của chuyên đề tốt nghiệp. Qua đề tài này em
mong muốn tìm hiểu sâu hơn về công tác tiêu thụ sản phẩm nói chung và
công tác tiêu thụ sản phẩm tại công ty Cổ phần Vật tư Hải Dương nói riêng
và qua đó đóng góp những ý kiến nhỏ của mình để thúc đẩy công tác tiêu
thụ tại đây.
Chuyên đề tốt nghiệp gồm 3 chương:
Chương 1 : Giới thiệu khái quát về công ty Cổ phần Vật tư Hải Dương
Chương 2 : Thực trạng về tình hình tiêu thụ sản phẩm của Công ty Cổ
phần Vật tư Hải Dương
Chương 3: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm
tại Công ty Cổ phần Vật tư Hải Dương

217/HĐBT, sử dụng con dấu riêng, mở tài khoản giao dịch tại ngân hàng, quản
lý kinh doanh theo cơ chế hiện hành.
2. Chức năng nhiệm vụ của công ty
- Tổ chức kinh doanh các loại vật tư, thiết bị từ các nguồn kể cả liên
doanh liên kết đưa về địa phương bán cho các đơn vị SXKD trong và ngoài
tỉnh, đảm bảo kịp thời, thuận lợi, đúng đối tượng sử dụng, đúng địa điểm và
bảo đảm phẩm chất theo quy định.
- Tận dụng lao động dư ra tổ chức sản xuất hàng hoá, sử dụng có hiệu
quả lao động hiện có.
- Tổ chức mạng lưới kinh doanh vật tư của đơn vị trong phạm vi địa bàn
tỉnh, giảm cấp trung gian để thuận lợi cho khách hàng, giảm chi phí lưu thông
để đạt hiệu quả kinh tế cao trong hoạt động kinh doanh.
- Quản lý chặt chẽ vật tư, tài sản, tiền vốn. Quản lý và sử dụng có hiệu
quả đội ngũ CB-CNV của đơn vị. Thực hiện phân phối kết quả kinh doanh cho
người lao động theo chế độ của nhà nước, chăm lo cải thiện đời sống vật chất,
điều kiện lao động và tinh thần cho CB-CNV. Đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ cho CB-CNV.
- Công ty tổ chức mạng lưới kinh doanh rộng khắp 11 huyện, thành phố,
tạo sự thuận lợi cho việc cung ứng hàng hoá chủ động, hợp lý nhằm tiêu thụ
nhanh hàng hoá và tiếp cận hàng hoá mới, hình thành nhu cầu mua hàng ngày
càng tăng. Hoạt động kinh doanh của công ty là hoàn thành tốt các chỉ tiêu pháp
lệnh giao nộp ngân sách nhà nước, đảm bảo việc làm cho người lao động với
thu nhập ổn định và ngày càng tăng trên cơ sở phát triển SXKD, đáp ứng tốt
nhu cầu vật tư, hàng hoá cho sản xuất và tiêu dùng đối với các thành phần kinh
tế và nhân dân trong tỉnh, đạt được những mục tiêu kinh tế xã hội của đơn vị
trên cơ sở kinh doanh hoàn vốn, bảo tồn và phát triển vốn.
3. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị của công ty
3.1 Mô hình tổ chức bộ máy quản trị của công ty
Phòng TC - HC
Ban giám đốc

doanh của công ty, là đại diện pháp nhân của công ty trước pháp luật, và trong
quan hệ đối nội, đối ngoại với mối quan hệ bạn hàng các tổ chức trong và ngoài
nước.
Phó giám đốc: Là người giúp việc giám đốc và thay mặt giám đốc phụ
trách một số nhiệm vụ, và chịu trách nhiệm trước giám đốc.
Phòng tổ chức hành chính: Có nhiệm vụ giúp giám đốc theo dõi và sắp
xếp tổ chức bộ máy lao động của công ty,đào tạo bồi dưỡng nhân sự sao cho
phù hợp với các vị trí năng lực với từng tính chất công việc, xây dựng cơ chế trả
lương,thưởng ngoài ra còn có nhiệm vụ làm công tác xã hội.
Phòng kế toán tài vụ: Có nhiệm vụ kiểm tra giá mua và chi phí của các
cửa hàng, tổ sản xuất giấy, trình giám đốc duyệt, quản lý vốn và đề xuất giám
đốc trình tự ưu tiên, giải quyết vốn cho các phương án kinh doanh tốt nhất, theo
dõi thực hiện phương án kinh doanh các lô hàng, đôn đốc thu hồi công nợ, lập
kế hoạch trả nợ, kiểm tra đối chiếu lập quyết toán hàng tháng và kiểm tra phân
phối thu nhập cho các cửa hàng đúng sai so với cơ chế trả lương, thưởng của
công ty.
- Phòng kinh doanh thị trường
- Mở rộng hoạt động thâm, xâm nhập thị trường mới để cung cấp nguồn
hàng có chất lượng tốt đến người tiêu dùng.
- Tìm thị trường, xác định thị trường mục tiêu với mặt hàng thế mạnh,
tìm hiểu truyền thống phong tục ở những vùng miền mới mà công ty sẽ mang
hàng đến.
- Củng cố những khách hàng truyền thống của công ty, mở những đợt hội
nghị khách hàng vào cuối năm hàng năm. Đề nghị ban giám đốc luôn có những
chính sách khuyến mại theo hình thức giá, và các dịch vụ sau bán chăm sóc sản
phẩm.
- Xây dựng định mức phí phù hợp với các loại hàng, xây dựng giá đầu
vào, triết khấu cho các đại lý và giá bán tối thiểu và các nguồn hàng đầu vào do
công ty nhập.
- Thực hiện kế hoạch bán hàng được giao và bán buôn đối với khách

còn nhiều hạn chế về trình độ, dẫn đến chất lượng lao động chưa cao. Chuyển
sang cơ chế thị trường, cơ cấu lao động của Công ty đã có những chuyển biến
rõ rệt. Hàng năm, Công ty đã không ngừng tổ chức đào tạo, đào tạo lại cho
cán bộ công nhân viên trong Công ty như gửi đi học các lớp ngắn hạn, dài
hạn.... Số lao động có trình độ ngày càng tăng chứng tỏ sự lớn mạnh thực sự
của Công ty, theo kịp đòi hỏi ngày càng khắt khe của thị trường.
Bảng 1: Lao động trong Công ty Cổ phần vật tư Hải Dương (2001-2005)
Phân loại
Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005
Số
ngườ
i
%
Số
ngườ
i
%
Số
ngườ
i
%
Số
ngườ
i
%
Số
ngườ
i
%
Tổng số lao động

5
Trình độ lý luận
chính trị
- Cao cấp
11 1,29 13 1,5 15 1,7 15 1,85 15 1,88
- Trung cấp
43 5,06 46 5,37 50 5,78 50 6,17 50 6,25
- Sơ cấp
78 9,18 82 9,58 89 10,29 89 10,98 89 11,1
2
Tuổi bình quân
25 25 24.9 25.1 25
(Nguồn:Phòng Tổ chức hành chính-Công ty CP Vật tư Hải Dương)
Nhận xét: Cơ cấu lao động của công ty qua các năm (2001 – 2005) giữa
các bộ phận tương đối đồng đều và hợp lý, tỷ lệ lao động giữa nam và nữ đã có
sự điều chỉnh thay đổi phù hợp với các yêu cầu nhiệm vụ của công ty đề ra với
tổng số lao động và trình độ chuyên môn của công nhân viên trong công ty.
Nhận thấy công ty quản lý và sử dụng tốt nguồn nhân lực, đã quan tâm công tác
tuỷên dụng nhân sự và có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng phát triển nhân sự trong
công ty: Tỷ lệ lao động nam chiếm hơn 50%; Tỷ lệ đại học chiếm 9-10% cán bộ
công nhân viên toàn công ty; Trung cấp chiếm 15-17%. Đặc biệt là sau khi cổ
phần hoá công ty đã tinh giản biên chế dẫn tới số lượng nhân viên giảm và số
lao động ngắn hạn thời vụ tăng.
Nhìn chung nhân viên làm việc tại công ty có điều kiện để phát triển. Ban
lãnh đạo công ty đã tạo một môi trường làm việc tương đối tốt, chế độ đãi ngộ
nhân viên thích hợp điều đó đã khuyến khích người lao động tại công ty hăng
say làm việc.
2. Đặc điểm về sản phẩm
Với những đặc tính vốn có của vật liệu xây dựng nói chung là bền, chịu
đựng thời tiết tốt, phù hợp với điều kiện xây dựng ở nước ta hiện nay. Nên các

ty để triển khai thực hiện và các dơn vị sẽ phải đamr bảo các thủ tục, hoá đơn
chứng từ theo luật định.
Mặt hàng xăng dầu là mặt hàng kinh doanh có điều kiện, chủ trương Nhà
nước đang chuyển dần sang kinh doanh theo cơ chế thị trường do đó trong năm
tới công ty sẽ phối hợp với một số đơn vị hậu phương và trung ương để tổ chức
tiếp nhận đảm bảo nguồn hàng cung ứng đều đặn, giá cả hợp lý.
Để đảm bảo vận chuyển hàng hoá sản phẩm trong các kênh kịp thời,
Công ty có đội xe gồm nhiều loại trọng tải để vận chuyển do đó đã giảmđược
chi phí trong vận chuyển. Hơn nữa Công ty kết hợp vận chuyển hàng hoá sản
phẩm cho nhiều địa điểm gần nhau trong một khu vực. Đối với nhu cầu có số
lượng sản phẩm nhỏ, lẻ, Công ty sử dụng phương tiện xe máy của cán bộ nhân
viên tiêu thụ và trả cho họ một khoản chi phí nhất định.
3. Đặc điểm về thị trường, khách hàng
Công ty Cổ phần Vật tư Hải Dương kinh doanh trên lĩnh vực thương
mại. Bao gồm các hoạt động kinh doanh bán buôn bán lẻ các loại sản phẩm
hàng hoá. Công ty có các cửa hàng thương mại ở nhiều huyện trong cả tỉnh, thị
trường của Công ty chủ yếu tập trung ở địa bàn Hải Dương và một số tỉnh miền
Bắc Bên cạnh việc mở rộng kinh doanh mặt hàng tiêu dùng, gắn sản xuất với
lưu thông, từng bước có mặt hàng xuất nhâp khẩu công ty còn cố gắng phục vụ
tốt các mặt hàng như phân bón với nhận thức: Phục vụ mặt hàng chính sách là
nhiệm vụ hàng đầu, kinh doanh là nhiệm vụ cơ bản lâu dài. Tổ chức sản xuất
gắn với lưu thông; lấy hiệu quả kinh doanh làm mục tiêu phấn đấu.
4. Cơ sở vật chất công nghệ
Thiết bị công nghệ sản xuất kinh doanh là yếu tố trực tiếp nâng cao chất
lượng sản phẩm, hiệu quả sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp.
Từ khi mới thành lập, Công ty Cổ phần Vật tư Hải Dương gặp rất nhiều
khó khăn vì phần lớn máy móc thiết bị cũ, lạc hậu; nhà xưởng, cửa hàng
xuống cấp nghiêm trọng. Nhưng trong những năm gần đây, do yêu cầu ngày
càng khắt khe của thị trường, Công ty đã chú ý đầu tư vào máy móc thiết bị,
xây dựng lại cửa hàng, kho bãi.

động chủ yếu bằng số vốn nhà nước cấp, ngoài ra còn có các nguồn vốn khác
như :
- Vốn vay ngân hàng.
- Vốn tự bổ xung từ lợi nhuận.
- Vốn huy động từ tiền nhàn rỗi của cán bộ công nhân viên trong Công ty.
Bảng 4: Cơ cấu vốn của Công ty Cổ phần Vật tư Hải Dương (2001-2005)
(Đơn vị: triệu đồng)
Chỉ tiêu
20
01
T

tr

n
g
(
%
)
20
02
T

tr

n
g
(
%
)

%
)
Tổng NVKD
35.
50
1
36.
48
7
38.
03
4
39.
42
2
41.
58
4
1. Vốn chủ
sở hữu
18.
98
1
5
3
,
4
7
18.
79

NSNN cấp
18.
93
5
9
9
,
7
6
18.
74
9
9
9
,
7
4
19.
67
7
9
9
,
7
4
21.
05
1
9
9

4
2. Nợ phải
trả
16.
52
0
4
5
,
5
3
17.
68
9
4
8
,
4
8
18.
30
6
4
8
,
1
3
18.
30
2

14.
55
7
7
9
,
5
2
14.
63
8
7
9
,
9
8
15.
26
0
7
8,
8
7
-Vay CNV
3.4
90
2
1
,
1

ty giữ ở mức ổn định: 18.981 triệu đồng năm 2001 ( chiếm tỉ trọng 53,47 %)
và tăng lên 22.235 triệu đồng năm 2005 ( chiếm tỉ trọng 53.47 % ). Đây là
điểm rất thuận lợi vì nguồn vốn này do ngân sách nhà nước cấp do đó không
phải trả lãi nên Công ty yên tâm sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên, tỉ trọng vốn vay của Công ty trong tổng nguồn vốn kinh
doanh của Công ty cũng ổn định nhưng số tiền công ty vay lại tăng hơn so với
các năm trước, điều đó thể hiện quy mô đầu tư cho sản xuất kinh doanh của
Công ty ngày càng được mở rộng. Cụ thể là vay 16.520 triệu đồng năm 2001
( chiếm tỉ trọng 45,53 % trong tổng nguồn vốn kinh doanh) và năm 2005 số nợ
phải trả của Công ty là 19.349 triệu đồng (tăng 2.829 triệu đồng so với năm
2001) nhưng tỉ trọng lại chỉ chiếm 45,53 % so với tổng nguồn vốn kinh doanh.
Vốn có ảnh hưởng rất nhiều đến công tác tiêu thụ sản phẩm, nếu nguồn
vốn của Công ty lớn, Công ty có thể đầu tư vào nâng cấp, mở rộng kho bãi, xây
dựng lại các cửa hàng, điểm trưng bày hàng hoá, ngoài ra còn có khả năng đầu
tư cho quảng cáo, nghiên cứu thị trường, xúc tiến bán hàng, mở rộng các dịch
vụ sau bán hàng... Tất cả những điều này chỉ nhằm mục đích cuối cùng là nâng
cao khả năng cạnh tranh, mở rộng thị trường và thu lợi nhuận tối đa.
III. KẾT QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY TRONG GIAI
ĐOẠN 2001-2005
Bằng những nỗ lực vượt bậc hơn 800 cán bộ công nhân viên toàn Công
ty đã từng bước vượt qua được những khó khăn trong cơ chế thị trường và ngày
càng khẳng định vị trí xứng đáng của mình trong ngành và trong toàn nền kinh
tế quốc dân. Kết quả tiêu thụ sản phẩm của Công ty được thể hiện qua biểu sau :
Bảng 5: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần Vật
tư Hải Dương (2001-2005)
Đơn vị: triệu đồng
STT CHỈ TIÊU
NĂM 2001 NĂM 2002 NĂM 2003 NĂM 2004 NĂM 2005
1 2 3 4 5 6 7
1 Giá trị tổng sản lượng 301.105 340.120 350.137 363.416 370.454

Sự tố chức quản lý kinh doanh tốt đã dẫn đến những thành quả cho công
ty. Đây là cơ sở để công ty phát triển bền vững.

Chương 2
THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY
CỔ PHẨN VẬT TƯ HẢI DƯƠNG
I. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ CỦA CÔNG
TY
1. Sản phẩm
Mặt hàng kinh doanh và đặc điểm của nó luôn là yếu tố quan trọng ảnh
hưởng lớn đến việc tiờu thụ sản phẩm. Vỡ khi cụng ty thành lập đó được chuẩn
bị các điều cần thiết và cõu hỏi luụn đặt ra là cụng ty sẽ sản xuất cỏi gỡ? bỏn
mặt hàng gỡ? cho đối tượng khách hàng nào? Việc lựa chọn đúng mặt hàng
kinh doanh sẽ đảm bảo cho việc tiờu thụ hàng hoỏ khụng ngừng được tăng lờn.
Đối với công ty đối tượng khách hàng là: Những tập thể, cỏ nhõn trong tỉnh và
địa bàn tỉnh lõn cận, từ người cú thu nhập trung bỡnh đến thu nhập cao. Vỡ vậy
cụng ty đó lựa chọn mặt hàng kinh doanh chủ yếu cần thiết cho đời sống như
mặt hàng điện tử, giấy ăn, giấy vệ sinh, xi măng, sắt thép, xăng dầu, gỗ …
Do tình hình cạnh tranh mạnh mẽ từ các tổ chức cá nhân kinh doanh trên
thị trường và trong khu vực nên Công ty đã thu gọn ngành nghề kinh Doanh
của mình, ưu tiên phát triển kinh doanh các mặt hàng có thế mạnh tạo ra một
công cụ cạnh tranh hữu hiệu, tạo uy tín trên thị trường mở rộng và nâng cao
hiệu quả kinh doanh.
Do đặc điểm hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp nên chính sách sản
phẩm hàng hoá của Doanh nghiệp cũng có những khác biệt.
Trong điều kiện thị trường luôn thay đổi nên Chính sách sản phẩm hàng
hoá của Doanh nghiệp được xây dựng dựa trên những nhu cầu thực tế của thị
trường mục tiêu mà Công ty đã đặt ra.
Ngày nay do thu nhập của các tầng lớp dân cư ngày càng tăng cùng với
sự tiến bộ về nhận thức tiêu dùng, đã ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu dùng của

bán ra và kết hợp với sự biến động theo mùa theo thời gian của chủng loại hàng
hoá đó để nhập hàng hoá về đúng với loại mà thị trường yêu cầu và đáp ứng đủ
về số lượng
3. Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội
Hải Dương là tỉnh mới được tái lập từ đầu năm 1997, với diện tích tự
nhiên là 1660.78 km2. Dân số là 165 ngàn người (năm 2000), chiếm khoảng
2.23% dân số cả nước.
Vị trí địa lý: Hải Dương là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm
phía Bắc (Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh), tiếp giáp với 6 tỉnh: Bắc Ninh, Bắc
Giang, Quảng Ninh, Hưng Yên và Hải Phòng, có các tuyến đường bộ, đường
sắt quan trọng của quốc gia chạy qua như: đường 5, 18, 183, gần cảng biển Hải
Phòng và Cái Lân. Theo dọc 102 km quôc lộ số 5, Tp.Hải Dương cách Hà Nội
57 km về phía Tây và cách Hải Phòng 45 km về phía Đông. Đó là thị trường
lớn, là trung tâm hỗ trợ đầu tư, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý, chuyển giao công
nghệ và thông tin cho Hải Dương và là tiềm năng phát triển các loại hình dịch
vụ. Hải Dương có mạng lưới giao thông tốt sẽ rất thuận lợi trong việc giao lưu,
trao đổi thương mại với thủ đô Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Phòng và các tỉnh
khác cũng như tạo môi trường tốt cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước vào
sản xuất kinh doanh.
Là một tỉnh mới được tái lập, nhưng tỉnh đã nỗ lực phấn đấu thực hiện
thắng lợi nghị quyết của Đảng tỉnh về những nhiệm vụ trọng tâm trước mắt, tập
trung khắc phục những khó khăn góp phần làm cho tình hình KT-XH chuyển
biến tiến bộ và đang đi vào thế ổn định. Nền kinh tế tăng trưởng khá, tích luỹ
cho đầu tư đảm bảo các cân đối cơ bản để duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ở
mức tương đối khá.
Do nền kinh tế tăng trưởng khá, thực hiện tốt các chương trình xoá đói
giảm nghèo, khuyến khích cá nhân và hộ gia đình sản xuất kinh doanh giỏi, giải
quyết nhiều việc làm nên đời sống của các tầng lớp dân cư ngày càng được cải
thiện.
Cơ sở vật chất và kết cấu hạ tầng: trong những năm qua Hải Dương đã có

Công ty cần khắc phục điểm yếu để tăng khả năng cạnh tranh. Do đó, việc
nghiên cứu các đối thủ cạnh tranh là viếc làm hết sức cần thiết để giữ vững và
tăng khả năng cạnh tranh. Nếu các đối thủ cạnh tranh có ưu thế hơn Công ty, thì
sẽ thu hút đưẹc khách hàng nhiều hơn, điều đó ảnh hưởng rất lớn đến công tác
tiêu thụ sản phẩm của Công ty. Do đó, phải có phương hướng và chiến lược cụ
thể để khắc phục nhược điểm và tăng khả năng cạnh tranh.
5. Các kênh phân phối
Phân phối hàng hoá là hoạt động tổ chức, điều hành, vận chuyển hàng
hoá từ nơi sản xuất đến tay người tiêu dùng. Phân phối hàng hoá của doanh
nghiệp là hệ thống các quan điểm, chính sách và giải pháp tổ chức các kênh,
luồng, mạng lưới bán sỉ, bán lẻ hàng hoá nhằm bán được nhiều hàng, đạt hiệu
quả kinh doanh cao nhất. Một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy và kích
thích sự quan tâm của người mua đến hàng hoá của doanh nghiệp đó chính là
việc sản phẩm đó xuất hiện ở nhiều nơi, đi đến đâu khách hàng cũng sẽ thấy
mặt hàng và nhãn hiệu mặt hàng đó của doanh nghiệp, kèm theo đó là kỹ thuật
bán và hoàn thiện các sản phẩm hàng hoá từ phía các đại lý nằm trong hệ thống
kênh phân phối. Điều này sẽ gây ấn tượng và sự chú ý rất lớn từ phía khách
hàng, qua đó để lại ấn tượng và kích thích được nhu cầu mua sắm của khách
hàng. Điều này đem lại sự thuận lợi rất lớn cho các sản phẩm hàng hoá của
doanh nghiệp trong việc cạnh tranh với các sản phẩm hàng hoá cùng loại hoặc
thay thế trên thị trường. Do đó việc quan tâm đến các kênh phân phối là điều
hết sức quan trọng mà các doanh nghiệp cần chú ý và phát triển hợp lý. Như
vậy có thể nói hoạt động phân phối sản phẩm đến tay khách hàng của doanh
nghiệp là nhân tố ảnh hưởng lớn tới việc nâng cao sức cạnh tranh cho các sản
phẩm hàng hoá của doanh nghiệp.
Công ty Cổ phần Vật tư Hải Dương đã vận dụng và sử dụng cả hai loại
kênh phân phối trực tiếp và gián tiếp trong hoạt động tiêu thụ sản phẩm.
Kênh phân phối trực tiếp, công ty bán sản phẩm trực tiếp cho khách hàng
thông qua hệ thống cửa hàng bán và giới thiệu sản phẩm của công ty.
Trong kênh phân phối gián tiếp, sản phẩm của công ty có thể vận động

Kết quả sản xuất kinh doanh theo từng mặt hàng được thể hiện qua biểu
sau :

Trích đoạn Xõy dựng cỏc chớnh sỏch tiờu thụ Kế hoạch Maketing Kế hoạch bỏn hàng Cỏc dịch vụ sau bỏn hàng ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ TèNH HèNH TIấU THỤ CỦA CễNG TY
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status