LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: “ Sản phẩm thân thiện với môi
trường – xu thế tất yếu trong tiêu dùng hiện
đại và hướng đi mới cho các doanh nghiệp
Việt Nam.”
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thế giới đang phải đối mặt với rất nhiều những khó khăn cả về kinh tế, xã
hội và môi trường. Nền kinh tế đang trong thời kỳ suy thoái, môi trường bị ô nhiễm
như đưa ra chương trình phát triển các sản phẩm này trong các doanh ng hiệp Việt
Nam.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Đưa ra các khái niệm, tiêu chí, ý nghĩa của sản phẩm thân thiện với môi
trường và các vấn đề liên quan đến sản phẩm thân thiện với môi trường.
- Tìm hiểu việc sản xuất, tiêu dùng sản phẩm thân thiện với môi trường trên
thế giới và bài học cho Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu dùng sản phẩm thân thiện với môi
trường ở Việt Nam. Từ đó đưa ra hướng đi mới cho các doanh nghiệp.
- Đề xuất giải pháp để phát triển các sản phẩm thân thiên với môi trường.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Một số phương pháp như phân tích tổng hợp, thu thập và xử lý thông tin,
điều tra qua phiếu câu hỏi, phỏng vấn các doanh nghiệp … Đặc biệt là đưa ra
chương trình phát triển sản phẩm thân thiện với môi trường cho các doanh nghiệp
Việt Nam.
6. Bố cục khóa luận
Khóa luận có 103 trang bao gồm cả danh mục bảng biểu, tài liệu tham khảo
và phụ lục, trong đó có 7 bảng và 7 biểu đồ. Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục
tài liệu tham khảo, phụ lục khóa luận được chia làm ba chương:
- Chương 1: Một số vấn đề về sản phẩm thân thiện với môi trường.
- Chương 2: Sản phẩm thân thiện với môi trường – hướng đi mới cho các
doanh nghiệp Việt Nam.
- Chương 3: Các giải pháp cơ bản nhằm thúc đầy sản xuất và tiêu dùng Sản
phẩm thân thiện với môi trường ở Việt Nam.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu, phòng Đào
tạo, khoa Quản trị kinh doanh và các phòng ban khác của trường Đại học Ngoại
thương đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được học tập và rèn luyện suốt bốn năm
học vừa qua. Đặc biệt, tôi xin vô cùng cảm tạ giáo viên hướng dẫn, TSKH. Nguyễn
3
4
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ SẢN PHẨM THÂN THIỆN VỚI
MÔI TRƯỜNG
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ SẢN PHẨM THÂN THIỆN VỚI MÔI TRƯỜNG
1. Tiêu dùng bền vững
1.1. Khái niệm tiêu dùng bền vững
Chủ nghĩa tiêu dùng đang đánh dấu thời đại của chúng ta. Nhưng từ khi biến
đổi khí hậu diễn ra, con người không thể tiếp tục khai thác những nguồn tài nguyên
trên Trái đất mà không nghĩ về tương lai. Câu hỏi lớn đặt ra là làm thế nào để đạt
được nhiều hơn mà tổn thất ít hơn hay nói cách khác là làm thế nào để tiêu dùng
bền vững?
Tiêu dùng bền vững được xây dựng trên quan điểm phát triển bền vững được
đề cập và phổ biến rộng rãi từ năm 1987 từ Báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo
Tương lai chung của chúng ta) của Ủy ban Môi trường và Phát triển thế giới
(WCED – World Commission on Environment and Development) nay là Ủy ban
Brundtland. Báo cáo ghi rõ: Phát triển bền vững là “sự phát triển đáp ứng được các
nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng xấu đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các
thế hệ mai sau” [6, tr.3]. Như vậy, tư tưởng cơ bản của tiêu dùng bền vững là đáp
ứng được nhu cầu tiêu dùng của bản thân sao cho không tước mất khả năng đáp
ứng các nhu cầu tiêu dùng của các thế hệ mai sau.
Cần hiểu rằng “tiêu dùng bền vững” không phải là “tiêu dùng ít hơn” mà là
biết tiêu dùng hiệu quả hơn, tốt hơn và bớt sử dụng tài nguyên hơn. Điều này đặc
biệt đúng cho người dân đang sống trong nghèo khổ thường có nhu cầu gia tăng tiêu
dùng sản phẩm và dịch vụ.
Tiêu dùng bền vững gắn trực tiếp với rất nhiều ưu tiên phát triển khác như
giảm nghèo, tăng trưởng kinh tế, giáo dục và bảo vệ môi trường. Tất cả đều nhằm
vào việc nâng cao chất lượng cuộc sống. Vì vậy, tiêu dùng bền vững không phải là
khuyên nên tiêu dùng ít đi, mà là làm thế nào đáp ứng được nhu cầu của người tiêu
dùng một cách thông minh hơn.
bền vững là để phát triển các cơ hội tiêu dùng cho phép mọi người thỏa mãn được
nhu cầu của mình, song không phát sinh những hậu quả tiêu cực với môi trường, xã
hội và tài chính. Nhu cầu thúc đẩy tiêu dùng bền vững đã rõ rệt từ lâu ở hầu hết các
nước phát triển. Song, các nước đang phát triển với khuynh hướng đi theo con
6
đường của nước phát triển vẫn có cơ hội để tránh nhiều sai lầm liên quan tới tiêu
dùng bằng cách giải quyết các vấn đề tiêu dùng của họ ngay từ bây giờ.
Chẳng hạn ở châu Á, dân số đông và tăng nhanh. Quỹ dân số Liên Hiệp
Quốc UNFPA dự tính dân số thế giới sẽ tăng 41% khoảng 8,9 tỷ người vào năm
2050, phần lớn sự gia tăng này diễn ra ở các nước đang phát triển ở châu Á. Nền
kinh tế châu Á cũng tăng trưởng nhanh, nhiều thị trường mở cửa chịu ảnh hưởng do
buôn bán quốc tế, tỷ lệ đô thị hóa tăng cùng với tuổi thọ của người dân cũng tăng.
Vùng châu Á – Thái Bình Dương là nơi có 684 triệu người tiêu dùng có thu nhập
trung bình trên 7000USD/đầu người. Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc và Indonexia
chiếm 63% nhóm người tiêu dùng này trong vùng và 25% toàn thế giới. Ngày nay,
chỉ 25% dân số trong khu vực được xếp vào loại mức thu nhập trung bình cá nhân
cao đó [6, tr.5]. Như vậy, hình thái sẽ là con số này tăng nếu kinh tế tiếp tục tăng
trưởng.
Đồng thời ở các nước phát triển vốn có mức tiêu thụ tính theo đầu người cao
quá mức, đã xuất hiện yêu cầu giảm mức tiêu thụ đó xuống, đạt độ bền vững hơn.
Như vậy, tiêu dùng bền vững gắn liền với các nước phát triển lẫn các nước đang
phát triển, tuy họ tiếp cận vấn đề từ những hướng khác nhau. Vì vậy nhu cầu đạt
đến sự tiêu dùng bền vững có tầm quan trọng với tất cả các nước, mọi người dân, cả
giàu lẫn nghèo.
1.3. Những vấn đề chính trong việc thúc đẩy tiêu dùng bền vững
Dự án SC.Asia (Tiêu dùng bền vững châu Á) đã xác định một số vấn đề chủ
yếu có thể làm nền tảng cho sự thành công của bất cứ chương trình tiêu thụ bền
vững nào. Đó là các vấn đề về trình độ nhận thức, vai trò của Chính phủ, ưu tiên
khác của quốc gia, và tiếp cận vốn với người mua [6, tr.14].
và phải đưa các đối tác chính, cụ thể là những người tiêu dùng, Chính phủ, các tổ
chức và các ngành dân sự vào. Nếu các đối tác không tham gia trong phong trào tiêu
dùng bền vững, tất sẽ rất khó khăn để thiết lập các ưu tiên thích hợp và thực hiện
các hành động. Ngay cả phong trào người tiêu dùng không phả i lúc nào cũng biết
được chương trình của tiêu dùng bền vững. Các tổ chức người tiêu dùng ở châu Á
coi quyền của người tiêu dùng và vấn đề bảo vệ người tiêu dùng là một ưu tiên và vì
8
vậy việc thực hiện các hoạt động nâng cao nhận thức về tiêu dùng bền vững ngày
càng trở nên tích cực hơn.
Thực hiện được các vấn đề này chắc chắn các quốc gia sẽ thúc đẩy được tiêu
dùng bền vững trên mọi lĩnh vực và tác động được đến mọi người dân.
1.4. Các công cụ tiêu dùng bền vững
Thúc đẩy và chấp nhận cách tiêu dùng bền vững là điều thiết yếu, nếu chúng
ta muốn đạt tiến bộ trong phát triển bền vững. Tình hình tiêu dùng toàn cầu cho
thấy tiêu dùng bền vững không giản đơn chỉ là một thách thức được giới hạn trong
các nước phát triển quan tâm và thực hiện, mà còn liên quan nhiều đến các nước
đang phát triển. Hiện đang nổi lên một “giai cấp tiêu dùng toàn cầu” gồm những
nhóm đông đảo người tiêu dùng trung lưu ngày càng thể hiện mô hình tiêu dùng
giống nhau trên toàn thế giới. Những mô hình đó cũng xuất hiện ở phần lớn các
nước châu Á khác nhau như Bangladesh, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản,
Thái Lan và Việt Nam. Tiêu dùng bền vững có thể đem lại những giải pháp môi
trường cũng như những lợi ích kinh tế xã hội ở các nước châu Á. Sự hợp tác toàn
cầu về tiêu dùng bền vững có thể cho phép các nước đang phát triển tiến nhanh tới
phát triển bền vững bằng cách tránh những sai lầm của các nước phát triển.
Một số công cụ chính sách chủ yếu về tiêu dùng bền vững được bản Hướng
dẫn Liên Hiệp Quốc về bảo vệ người tiêu dùng Mục G xác định bao gồm bốn công
cụ là thông tin sản phẩm, ngăn ngừa và giảm thiểu rác thải, thực hành bền vững
của Chính phủ và nhận thức, giáo dục và tiếp thị [6, tr.21] (xem bảng 1).
1.4.1. Thông tin sản phẩm
hưởng của nó trong một chu trình sống. Chính phủ cần khuyến khích các chương
trình tái chế, chương trình này khuyến khích người tiêu dùng tái chế chất thải và cả
mua sản phẩm tái chế”. [6, tr.28].
Theo các khảo sát của Trung tâm Tài nguyên khu vực châu Á – Thái Bình
Dương của UNEP, chất thải sản sinh hàng năm đang tăng lên ở các đô thị châu Á,
chủ yếu do dân số tăng và lối sống thay đổi, thường là kết quả trực tiếp của sự phát
triển kinh tế nhanh. Ví dụ, ở Bangkok, chất thải rắn tằng từ 3260 tấn/ngày năm
1985 lên 9472 tấn/ngày năm 2002. Ở nhiều thành phố Đông Nam Á, rác thải gia
tăng đã vượt xa khả năng của cơ sở hạ tầng và công nghệ xử lý. Ví dụ, ở Việt Nam,
hiệu suất thu gom chất thải rắn đạt 40% đến 70% nhưng ở một vài thành phố, con
10
số đó chỉ là 20% đến 40%. Chất thải điện tử là loại tăng trưởng nhanh nhất. Hàng
năm người ta thải 4 triệu máy tính ở Trung Quốc. Ước tính ở châu Á đã dùng
khoảng 150 triệu máy tính trong năm 2002, con số này đang tăng thêm hàng năm
15%. Ở Ấn Độ, chất thải điện tử (“Rác E”) đáng giá 1200 triệu Euros trong năm
2003. [6, tr.28]
Bảng1: Một số công cụ chính sách về tiêu dùng bền vững
Công cụ
Ứng dụng
Thông tin sản
phẩm
Trong lĩnh vực lương thực thực phẩm, việc chứng thực và mang
nhãn hiệu của lương thực thực phẩm (ví dụ thông tin về dinh
dưỡng, ngày hết hạn, thực phẩm hữu cơ, đặc điểm bao bì…) có
thể cải thiện sức khỏe người tiêu dùng, là một thành phần rất quan
trọng của hệ thống an ninh lương thực và bảo đảm tiêu dùng bền
vững.
Ngăn ngừa và
giảm thiểu rác
đã xác đị nh rằng yêu cầu quan trọng là cần có sự lồng ghép lẫn nhau giữa các hệ
thống quản lý chất thải và các chiến lược tiêu dùng.
Giảm thiểu chất thải gồm những hoạt động nhằm giảm lượng rác thải phải
chôn lấp hoặc giải quyết cách khác. Có khi bằng cách chuyển đổi chất thải thành
nguồn hữu ích. Giảm thiểu chất thải liên quan đến một loạt các hoạt động kỹ thuật
nhằm quản lý sao cho lượng chất thải còn lại cần xử lý ở mức tối thiểu. Giảm thiểu
gồm: giảm, sửa chữa, thu hồi, tái chế, ủ phân, thiêu đốt (với các kỹ thuật sạch và có
thu hồi năng lượng) và chôn lấp. Nhiều nước EU và một số ở châu Á đã coi việc xử
lý chất thải theo trình tự là một nguyên tắc hướng dẫn quản lý chất thải.
Tái chế là một loạt các hoạt động nhằm thu hồi, phân loại, xử lý và chuyển
hóa các vật liệu phế thải thành nguyên liệu để sản xuất ra sản phẩm mới. Các hệ
thống tái chế hướng tới người tiêu dùng giúp cho bản thân người tiêu dùng biết
phân loại chất thải, dễ dàng tiếp cận các phương tiện thu hồi, thậm chí trong vài
trường hợp tạo thu nhập khác trong việc gửi trả đồ thải. Cơ sở tái chế có thể thay
đổi độ phức tạp, tùy theo nguồn lực và cơ sở hạ tầng hiện hữu. Ví dụ, việc vận
chuyển, giá vận chuyển đồ thải có thể ảnh hưởng đến vật liệu tái chế một sản phẩm
cụ thể có lợi ích kinh tế hay không? Cũng cần lưu ý rằng thị trường vật liệu tái chế
có thể thay đổi. Vật liệu với số lượng nhiều được thu hồi là giấy, thủy tinh, kim loại,
đồ nhựa, hàng điện tử.
1.4.3. Nhận thức, giáo dục và tiếp thị
Nâng cao nhận thức (thông qua cuộc vận động, thông tin), gi áo dục người
tiêu dùng và tiếp thị là ba biện pháp chủ yếu để truyền tải thông tin đến người tiêu
dùng, trong đó Chính phủ giữ vai trò tích cực để hướng mô hình tiêu dùng đến sự
bền vững. Tức là thay đổi thái độ của người tiêu dùng theo hường mua sắm và sử
dụng những hàng hóa và dịch vụ thay thế.
12
Nâng cao nhận thức là nâng cao hiểu biết và nhận thức của công chúng về ý
nghĩa và tầm quan trọng của tiêu dùng bền vững, giới thiệu cho họ những phương
án nhằm theo đuổi lối sống bền vững
chỉ đạo chính để thực hiện mua sắm bền vững là:
- Tổ chức hiệu quả, có những chính sách rộng rãi để bảo đảm mọi người nhận
thức được chiến lược.
- Huấn luyện và hướng dẫn giúp người tham gia hiểu được mua sắm bền vững
và ước tính chi phí cho cả chu trình sống.
- Kiểm toán và theo dõi đều đặn để đánh giá xem tổ chức có đúng mua sắm
bền vững không và ở đâu có thể tiến bộ hơn trong lĩnh vực đó.
- Cam kết thực hiện phát triển bền vững.
- Ủng hộ và giáo dục các bên cung cấp.
- Tạo mối liên hệ với các tổ chức khác để học hỏi kinh nghiệm.
- Đóng góp mua sắm bằng cách lập tổ hợp mua sắm.
Bảng 2: Danh sách các NSDS (chiến lược phát triển bền vững quốc gia) và PRS
(chiến lược giảm nghèo) của các nước tham gia Dự án Tiêu dùng bền vững châu
Á (SC.Asia)
Nước
Tình hình NSDS
Tình hình PRS
Đang soạn
thảo
Đang phát
triển
Đang đợi phê
duyệt
Đã tiến hành
Bangladesh
√
√
Campuchia
√
√
Philipin
√ X
Sri Lanca
√
√
Thái Lan
√
√
Việt Nam Đã phê duyệt
√
Chú thích
: “√” là có, “X” là không.
Nguồn: Trang web của RRCAP của UNEP, Ngân hàng Thế giới, UNDESA và
UNDP
cách tương đối. Một sản phẩm chỉ được coi là hoàn toàn thân thiện với môi trường
15
khi và chỉ khi nó đáp ứng được tất cả các tiêu chuẩn về tính thân thiện với môi
trường từ giai đoạn sản xuất (bao gồm nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, công nghệ
sản xuất) cho tới giai đoạn đưa vào tiêu dùng, sử dụng và cuối cùng là giai đoạn thải
bỏ sau khi sử dụng (tính chất có thể tái chế được, không gây tổn hại cho môi trường
tại bãi rác thải và quá trình vận chuyển lưu kho). Các tiêu chuẩn để đánh giá tính
thân thiện rất khác nhau qua từng vùng lãnh thổ, từng khu vực trên thế giới, cho nên
khái niệm “Sản phẩm thân thiện với môi trường” luôn luôn chỉ có thể mang tính
chất tương đối.
2.2. Các tiêu chí sản phẩm thân thiện với môi trường
Nếu người tiêu dùng yêu cầu những sản phẩm thân thiện với môi trường –
sản phẩm xanh, chắc chắn thị trường sẽ cung cấp cho họ. Vậy sản phẩm xanh là
những sản phẩm nào? Cái gì để biết một sản phẩm là thân thiện với môi trường và
làm sao để chọn lựa các sản phẩm này? Quan trọng hơn, nhà sản xuất đang đặt câu
hỏi “Làm thế nào để chúng tôi sản xuất ra những sản phẩm xanh hơn?”
Một sản phẩm được xem là xanh nếu đáp ứng được một trong bốn tiêu chí
dưới đây
1
→ Sản phẩm giảm tác động đến môi trường trong quá trình sử dụng (ít chất thải,
sử dụng năng lượng tái sinh, ít chi phí bảo trì). Người tiêu dùng châu Âu nhiều năm
qua đã quay lại sử dụng chai sữa thủy tinh và giảm tỉ lệ sử dụng loại sữa đựng trong
chai nhựa sử dụng một lần rồi bỏ. Chai thủy tinh có thể sử dụng nhiều lần, dễ dàng
tái chế.
:
→ Sản phẩm được tạo ra từ các vật liệu thân thiện với môi trường. Nếu sản phẩm
chứa các vật liệu tái chế thay vì sử dụng vật liệu mới, thô, nó có thể được xem là
một sản phẩm xanh. Ví dụ, một sản phẩm tái chế nhanh như tre hay bần (sử dụng để
lót nồi) là những sản phẩm thân thiện với môi trường vì là sản phẩm được tạo ra từ
độ tin cậy cao hơn về tuổi thọ sản phẩm.
Các sản phẩm thân thiện với môi trường có ý nghĩa vô cùng to lớn đến môi
trường sống của con người (môi trường là không gian sống của con người và các
loài sinh vật, nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất
của con người, nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống
và hoạt động sản xuất của mình, nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên
tới con người và sinh vật trên Trái đất, nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con
người). Việc khai thác quá mức không gian và các dạng tài nguyên thiên nhiên để
2
Nhựa PET là polyethylene terephthalate, một loại nhựa tổng hợp trong nhóm polyester. Luật tái chế loại bao
bì này của Nhật Bản, có hiệu lực năm 1997, quy định các chính quyền địa phương phải thu gom chai PET để
tái chế.
17
gia tăng không gian sống cho con người có thể làm cho chất lượng không gian sống
mất khả năng tự phục hồi.
Trước thế kỷ 21, ít khi người ta để ý đến ảnh hưởng của sản phẩm đến sức
khỏe, cuộc sống con người. Ngày nay khi nền kinh tế phát triển, con người ngày
càng quan tâm đến sức khỏe và đã bước đầu chú trọng đến sản phẩm thân thiện với
môi trường. Điều đó đòi hỏi các nhà sản xuất và xuất khẩu cần có nhận thức cao
hơn về chất lượng hàng hóa, nâng cao năng suất kết hợp với bảo vệ tài nguyên thiên
nhiên và môi trường.
Sản phẩm sinh thái được thiết kế dựa theo các khái niệm và nguyên tắc về
thiết kế sinh thái để có được những tính năng thân thiện với môi trường. Các khái
niệm về vòng đời và thiết kế kỹ thuật đóng vai trò rất quan trọng trong suốt giai
đoạn phát triển của sản phẩm sinh thái. Sản phẩm sinh thái có thể được sản xuất từ
vật liệu tái chế hoặc nguyên vật liệu sinh khối. Thêm vào đó, trong suốt quá trình
sản xuất giảm thiểu nguồn năng lượng và nước là đồng hành với ít rác, ít ô nhiễm
hơn.
sản phẩm sinh thái không mang tính chất bắt buộc nhưng lại hướng đến mục tiêu
rộng lớn, đó là thông qua sản phẩm sinh thái sẽ làm biến đổi hành vi của toàn xã hội
theo hướng thân thiện với môi trường. Khi vấn đề môi trường đang có nguy cơ bị
lợi dụng để làm các rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế, nhiều nước đã và
đang triển khai chương trình sản phẩm sinh thái, việc cam kết thực hiện chương
trình này đã dần trở thành xu hướng của các quốc gia phát triển và đang phát triển.
Nhiều thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam, trên thực tế đã yêu cầu phải xét đến
vấn đề sinh thái trong sản phẩm nhập khẩu. Các sản phẩm sinh thái này cho phép
doanh nghiệp đạt được mục tiêu về lợi nhuận và năng suất cao trong khi vẫn bảo vệ
môi trường.
II. SẢN PHẨM THÂN THIỆN VỚI MÔI TRƯỜNG – XU THẾ TẤT YẾU
TRONG TIÊU DÙNG HIỆN ĐẠI
1. Tình hình môi trường Việt Nam hiện nay
1.1. Tình chung về môi trường Việt Nam
Hiện nay, môi trường không khí trên toàn lãnh thổ Việt Nam nói chung là
tương đối tốt, nhưng chất lượng môi trường không khí ở các thành phố lớn, tại một
số khu công nghiệp và làng nghề đang ngày càng suy giảm. Xét các nguồn thải gây
ô nhiễm không khí trên phạm vi toàn quốc (bao gồm cả khu vực đô thị và khu vực
khác), ước tính cho thấy, hoạt động giao thông đóng góp tới gần 85% lượng khí
CO, 95% lượng VOCs. Đối với NO
2
, hoạt động giao thông và hoạt động sản xuất
công nghiệp có tỷ lệ đóng góp xấp xỉ nhau [1, tr.21] (xem bảng 3).
19
Bảng 3: Ước tính thải lượng các chất gây ô nhiễm từ các nguồn thải chính của
Việt Nam năm 2005
Ngành sản xuất
415.090
49.705
Nguồn: Cục Bảo vệ Môi trường (2006), Báo cáo Môi trường quốc gia 2007
Một khảo sát do Cục Bảo vệ Môi trường thực hiện năm 2007 tại Phú Thọ và
Nam Định cho thấy ước tính mỗi năm, mỗi người dân phải chi khoảng 295.000
đồng để khám và chữa các bệnh có nguyên nhân trực tiếp từ ô nhiễm môi trường
không khí.
Nếu giả thiết tổn thất về kinh tế do ô nhiễm không khí tác động tới sức khỏe
đối với người dân Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh tương tự như ở Nam Định và Phú
Thọ thì Hà Nội với 3,2 triệu dân mỗi ngày sẽ thiệt hại trên 2,5 tỷ đồng; Tp.Hồ Chí
Minh với 6,1 triệu dân mỗi ngày là gần 5 tỷ đồng.
Nhưng trên thực tế, không khí ở các thành phố lớn này còn ô nhiễm hơn rất
nhiều lần so với hai tỉnh được khảo sát. Vì vậy, thiệt hại kinh tế đối với sức khỏe
cộng đồng ở những thành phố này sẽ phải lớn hơn rất nhiều.
Không chỉ có vậy, các chất SO
2
, NO
x
trong môi trường không khí còn gây ra
hiện tượng mưa axit. Đây chính là nguyên nhân làm giảm tính bền vững của các
công trình xây dựng và các dạng vật liệu.
Ô nhiễm không khí sẽ làm giảm sức bền cơ khí, gây han rỉ, hỏng lớp sơn bảo
vệ, mất các chi tiết trang trí…, gây hao mòn công trình, dẫn tới giảm tuổi thọ làm
tăng chi phí bảo dưỡng và thay thế.
Ô nhiễm môi trường không khí còn là mối đe dọa nghiêm trọng tới thiên
nhiên như đa dạng sinh học và các hệ sinh thái [1, tr.57]. 20
Biểu đồ 1: Cơ cấu tiêu thụ xăng dầu theo các ngành của Việt Nam
21
Tỷ lệ mắc các bệnh về đường hô hấp của dân cư sống gần các khu công
nghiệp cao hơn nhiều so với vùng nông thôn. Tỷ lệ người mắc bệnh liên quan đến ô
nhiễm không khí ở các thành phố lớn như Hà Nội, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh, Hải
Phòng… thường cao hơn ở các tỉnh thành phố khác. Điều này cũng được phản ánh
phần nào thông qua các số liệu đánh giá tình hình mắc bệnh về đường hô hấp tại các
tỉnh, thành phố mà điển hình là bệnh lao (xem bảng 4).
Bảng 4: Số người mắc và tỷ lệ mắc các bệnh liên quan đến
ô nhiễm không khí
Bệnh
Số người mắc (tính
trên 100.000 dân)
Tỷ lệ (‰)
Các bệnh viêm phổi
415,09
4,16
Viêm họng và viêm
Amidan cấp
309,40 3,09
Viêm phế quản và viêm
tiểu phế quản cấp
305,51 3,06
Nguồn: Niên giám thống kê Y tế, 2005 – Bộ Y tế
Những người có thời gian sống tại thành phố lâu năm có nguy cơ mắc các
bệnh mãn tính về tai, mũi, họng, cảm cúm cao hơn nhiều so với những người sống
tại đây dưới ba năm [1, tr.54-56].
Một số nghiên cứu đã cho thấy, khi lưu thông trên đường bằng các phương
tiện giao thông khác nhau, con người sẽ chịu tác động của chất gây ô nhiễm không
khí khác nhau. Theo đó, người đi xe máy sẽ chịu tác động của ô nhiễm không khí
Hà Nội Tp.HCM Hải
Phòng
Đà
Nẵng
Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường (2007), Báo cáo môi trường quốc gia 2007
Bảng 5: Lượng ô tô, xe máy ước tính đến năm 2010 và 2020
Loại xe
2006
2010
2020
Xe máy
1.700.000
2.720.000
6.800.000
Xe ô tô
157.000
219.800
307.720
Nguồn: Viện khoa học Khí tượng thủy văn và Môi trường, 2007
Như vậy, so sánh giữa các cách lưu thông thì người đi xe máy sẽ bị tác động
của ô nhiễm không khí lớn nhất và đi xe buýt sẽ bị tác động ô nhiễm không khí ít
nhất. Khi ô tô đóng cửa và chạy điều hòa thì nồng độ bụi giảm đến 30-40%, nhưng
nồng độ CO vẫn giữ nguyên so với trường hợp xe mở cửa kính và không chạy máy
điều hòa.
Trong những năm tới, mức độ ô nhiễm không khí đô thị tăng lên, nếu không
có những biện pháp kiểm soát hiệu quả, mức độ ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng
cũng sẽ tăng lên (xem bảng 6).
Khó thở
18.478
260.942
584.916
Hạn chế các hoạt động trong ngày
1.563.910
3.444.434
7.720.888
Ngày có triệu chứng đường hô
hấp
7.476.373 16.466.340 36.910.203
Nguồn: Báo cáo môi trường, Sở TNMT&NĐ TP.Hà Nội, 2008
2. Xu hướng tiêu dùng sản phẩm thân thiện với môi trường
Hiện nay người tiêu dùng Việt Nam, nhất là tại thành thị đang ngày càng
quan tâm đến chất lượng các sản phẩm hàng hóa, công nghệ thân thiện với môi
trường để hướng sự tiện ích cũng như tạo ra một không gian gia đình sạch hơn trong
bầu không khí đô thị hóa luôn ngột ngạt, gấp gáp của công việc. Bắt kịp với nhịp độ
này, năm 2008 Việt Nam đã tổ chức Hội chợ Triển lãm quốc tế về sản phẩm sinh
thái. Việc hàng nghìn người tiêu dùng tham gia đã cho thấy sự quan tâm của cộng
đồng đến các sản phẩm sinh thái. Bước đầu người tiêu dùng Việt Nam đã làm quen
với nhiều sản phẩm thân thiện với môi trường như các thiết bị sử dụng pin năng
lượng mặt trời; dòng xe ô tô áp dụng công nghệ Hybrid của hãng Toyota (Nhật
Bản) có thể tiết kiệm nhiên liệu nhiều gấp đôi so với bình thường, giảm khí thải,
không gây tiếng ồn; xi măng Portland của tổ chức CEDO sản xuất từ tro đốt rác thải
kết hợp với bùn và đá vôi đã và đang được ứng dụng ở một số nước châu Á, góp
phần tích cực loại trừ tình trạng chôn rác đang khá phổ biến hiện nay, được nhiều
nhà khoa học đánh giá cao về sự hữu ích. Và còn hàng trăm sản phẩm thân thiện với
môi trường là nguyên liệu sinh thái, sản phẩm sinh thái và dịch vụ sinh thái; sản
24