Thực trạng sử dụng các công cụ kinh tế phát triển sản phẩm thân thiện với môi trường ở Việt Nam - Pdf 23

Table of Contents
1 Các công cụ kinh tế dùng trong việc phát triển các sản phẩm TTMT ................................................ 3
1.1 Khái niệm ................................................................................................................................. 3
1.2 Phân loại .................................................................................................................................. 5
1.2.1 Công cụ thuế .................................................................................................................... 5
1.2.2 Công cụ phí, lệ phí ............................................................................................................ 6
1.2.3 Công cụ hỗ trợ .................................................................................................................. 6
1.2.4 Công cụ ký quỹ, đặt cọc – hoàn trả................................................................................... 8
1.2.5 Quỹ môi trường ................................................................................................................ 8
1.2.6 Các chương trình thương mại ........................................................................................... 9
1.2.7 Các công cụ khác ............................................................................................................ 10
2 Khái niệm và các tiêu chí đánh giá sản phẩm thân thiện với môi trường......................................... 11
2.1 Khái niệm ............................................................................................................................... 11
2.2 Các tiêu chí đánh giá sản phẩm TTMT ..................................................................................... 11
3 Thực trạng phát triển sản phẩm TTMT ........................................................................................... 13
3.1 Khó khăn về công cụ phát triển sản phẩm TTMT ..................................................................... 16
3.2 Việc phát triển các sản phẩm thân thiện với môi trường, đối với các doanh nghiệp Việt Nam còn
rất nhiều khó khăn. ............................................................................................................................ 16
4 Phân tích một số sản phẩm TTMT tiêu biểu tại Việt Nam ............................................................... 18
4.1 Sản phẩm 1: Rau hữu cơ ........................................................................................................ 18
4.1.1 Sản phẩm rau hữu cơ của Trung tâm Hành Động vì Sự phát triển Đô Thị (ACCD) ............. 18
4.1.2 Sản phẩm rau hữu cơ của công ty SCS: ........................................................................... 23
4.1.3 Tổng quan về thực trạng của sản phẩm rau hữu cơ: ....................................................... 25
4.2 Sản phẩm 2: Đồ đựng và bao bì tự hủy ................................................................................... 26
4.2.1 Sản phẩm: ...................................................................................................................... 26
4.2.2 Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp: ..................................................................... 27
4.2.3 Các công cụ kinh tế được áp dụng và mức độ hiệu quả ................................................... 28
4.2.4 Đề xuất: .......................................................................................................................... 29
4.2.5 Kết luận chung ................................................................................................................ 29
4.2.6 Nguồn tham khảo: .......................................................................................................... 30
4.3 Sản phẩm 3: Than sạch Hoàng Thương ................................................................................... 30

4.8.2 Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp: ...................................................................... 52
4.8.3 Các công cụ kinh tế được áp dụng và mức độ hiệu quả ................................................... 54
4.8.4 Tổng quan về thực trạng của sản phẩm lò hơi.................................................................. 55
4.8.5 Đề xuất ........................................................................................................................... 55
4.8.6 Nguồn tham khảo ........................................................................................................... 56

Đe tài : Thự c trạng sử dụ ng các cô ng cụ
kinh te phát trien sản pham thân thiệ n
vớ i môi trườ ng ở Việ t Nam

1 Các công cụ kinh tế dùng trong việc phát triển các sản phẩm TTMT
1.1 Khái niệm
Công cụ kinh tế là các biện pháp, chính sách được sử dụng dựa trên các quy luật kinh
tế mà chủ yếu hiện nay là quy luật kinh tế thị trường nhằm đạt được mục đích quản lí
nhất định thông qua việc tác động trực tiếp hay gián tiếp vào các chủ thể trong nền kinh
tế đó.
Như vậy chúng ta có thể hiểu rộng ra cho công cụ kinh tế trong quản lí môi trường là
những công cụ dựa vào thị trường được áp dụng nhằm tạo ra các hiệu ứng có lợi cho môi
trường, nâng cao chất lượng quản lí môi trường của nhà nước hay tổ chức thông qua việc
xây dựng chính sách, cơ chế tác động đến chi phí, lợi ích của các chủ thể kinh tế.
Để quản lý môi trường tốt hơn, ngoài các công cụ kinh tế người ta sử dụng song song,
bổ trợ nhiều công cụ quản lý khác nhau như công cụ pháp lý, hành chính; công cụ giáo
dục, truyền thông... Trong những thập kỷ gần đây, cùng với sự phát triển của kinh tế thị
trường và tự do hoá thương mại, công cụ kinh tế trong quản lý môi trường ngày càng

Các loại CCKT sử dụng trong quản lý môi trường, gồm có: (1) Công cụ thuế; (2)
Công cụ phí; (3) Công cụ hỗ trợ, ưu đãi; (4) Công cụ ký quỹ môi trường, hoàn trả đặt
cọc; (5) Quỹ môi trường; (6) Các chương trình thương mại - môi trường; (7) và một số
công cụ khác như bảo hiểm môi trường, bồi thường thiệt hại môi trường…
1.2.1 Công cụ thuế
Thuế là một phần thu nhập mà mỗi tổ chức cá nhân có nghĩa vụ phải đóng góp cho
Nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu theo chức năng của Nhà nước, người
đóng thuế được hưởng hợp pháp phần thu nhập còn lại. Trong chu trình sản xuất xã hội
gồm 4 khâu: sản xuất – phân phối – trao đổi – tiêu dùng, thì thuế nằm ở khâu phân phối.
Các loại thuế gắn với BVMT đã được nhiều nước áp dụng gồm có:
 Thuế đánh vào việc sử dụng các thành phần môi trường như thuế tài nguyên,
thuế sử dụng nguồn nước
 Thuế đánh vào người sử dụng ô tô, xe máy xả khí độc ra môi trường (thường
đánh thuế qua nhiên liệu);
 Thuế đánh vào thuốc lá gây tác hại đến không khí môi trường; thuế đánh vào
việc sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu;
 Thuế đánh vào các đối tượng thải hoặc nước thải ra môi trường…
1.2.2 Công cụ phí, lệ phí
 Phí là số tiền thu về việc thực hiện một công việc, cung cấp một lao vụ hoặc một
dịch vụ cho tổ chức, cá nhân theo yêu cầu nhằm bù đắp một phần hoặc toàn bộ
chi phí được bỏ ra đầu tư và quản lý các loại tài sản để thực hiện công việc, lao
vụ hoặc dịch vụ đó. Phí là khoản thu do Nhà nước quy định nhằm bù đắp một
phần chi phí của ngân sách Nhà nước đầu tư xây dựng, mua sắm, bảo dưỡng và
quản lý tài sản, tài nguyên hoặc chủ quyền quốc gia để phục vụ các tổ chức, cá
nhân hoạt động sự nghiệp, hoạt động công cộng hoặc lợi ích công cộng theo yêu
cầu, không mang tính kinh doanh.Phí là công cụ kinh tế rất phổ biến và được áp
dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau cho kiểm soát ô nhiễm, tuy nhiên
có 3 loại phí chính đã được áp dụng cho kiểm soát ô nhiễm đó là: phí phát thải,
phí sử dụng và phí sản xuất.
 Lệ phí là khoản thu do Nhà nước quy định thu đối với tổ chức, cá nhân để phục

biện pháp phòng ngừa sự cố môi trường, Nghiên cứu và triển khai công nghệ
thân thiện với môi trường, bảo vệ các hệ sinh thái nhạy cảm…
 Hỗ trợ thông qua các chính sách ưu đãi tập trung vào các lĩnh vực đầu tư cải
thiện môi trường và sinh thái; di chuyển cơ sở sản xuất ra khỏi đô thị; phát triển
các dịch vụ hỗ trợ nghiên cứu triển khai, cơ sở thử nghiệm và các phòng thí
nghiệm phục vụ nghiên cứu khoa học.
 Các hình thức khác: Bên cạnh các chính sách hỗ trợ nói trên, Chính phủ còn có
các biện pháp giúp các doanh nghiệp khắc phục hậu quả môi trường do sản xuất
kinh doanh như hỗ trợ đánh giá tác động môi trường, di dời các cơ sở sản xuất
kinh doanh gây ô nhiễm, xử lý ô nhiễm ở những doanh nghiệp gây ô nhiễm
nặng. Nhà nước cũng dành ngân sách của mình cho công tác đào tạo, bồi dưỡng
nâng cao nhận thức, đầu tư cho công tác thông tin, trợ giúp kỹ thuật, tư vấn
chính sách thông qua các cơ quan chính phủ. Chính phủ làm đầu mối trong việc
hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường thông qua các chương trình hỗ trợ kỹ thuật.
Nhiều dự án hỗ trợ kỹ thuật dưới sự tài trợ tài chính, chuyên môn của các tổ
chức chính phủ, phi chính phủ các nước được thực hiện trong lĩnh vực bảo vệ
môi trường.
1.2.4 Công cụ ký quỹ, đặt cọc – hoàn trả
 Hoàn trả đặt cọc: là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc tài sản có giá
trị như kim khí quý, đá quý hoặc các vật có giá trị khác (gọi là tài sản đặt cọc) trong
một thời hạn để đảm bảo giao kết hoặc thực hiện hợp đồng. Trong trường hợp hợp
đồng được giao kết, thực hiện, thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc trừ
để thực hiện nghĩa vụ trả; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng,
thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; trường hợp bên nhận đặt cọc từ chối việc
giao kết, thực hiện hợp đồng thì ngoài việc phải trả lại tài sản đặt cọc còn phải trả cho
bên đặt cọc một khoản tiền tương đương hoặc cao hơn giá trị tài sản đặt cọc theo cam
kết.
 Ký quỹ môi trường: là công cụ kinh tế áp dụng cho các ngành kinh tế dễ gây ra ô
nhiễm môi trường. Nội dung chính của ký quỹ môi trường là yêu cầu các doanh
nghiệp trước khi đầu tư phải đặt cọc tại ngân hàng một khoản tiền nào đó đủ lớn để

nhiễm môi trường không khí.
 Tiền trợ cấp tiêu thụ hoặc sản xuất: Trợ cấp tiêu thụ hoặc sản xuất là nhóm
xếp hạng thứ 3 được xét đến trong chương trình thương mại. Thực chất, đó là
tất cả các dạng hỗ trợ về tài chính nhằm hỗ trợ những người gây ô nhiễm thay
đổi hành vi hay để trợ giúp cho các đối tượng đang gặp khó khăn để tuân thủ
tốt hơn các tiêu chuẩn về BVMT. Trợ cấp tiêu thụ hoặc sản xuất thường được
thể hiện dưới những hình thức là trợ cấp không hoàn lại, cho vay với lãi suất
thấp, hoặc trợ cấp qua thuế (giảm hoặc miễn thuế).
 Đăng ký ISO 14000: ISO 14000 là chứng chỉ công nhận là hoàn thành tốt các
kế hoạch môi trường. Đây là phương thức chỉ cho khách hàng biết rằng công ty
từ trước đến nay vẫn được công nhận là hoàn thành tốt các kế hoạch môi
trường. Trong một phạm vi nhất định, khách hàng thường mong muốn hợp tác
kinh doanh – kiểu hợp tác “xanh” với công ty vốn có truyền thống hoàn toàn
tốt các kế hoạch môi trường
 Nhãn sinh thái: Nhãn sinh thái là những dấu hiệu chứng nhận tính bảo vệ môi
trường của sản phẩm. Đó là sự công bố bằng lời, hoặc ký hiệu, hoặc sơ đồ
nhằm chỉ rõ các thuộc tính môi trường của sản phẩm hoặc dịch vụ.
1.2.7 Các công cụ khác
 Bảo hiểm môi trường: Là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên tham gia bảo hiểm
phải đóng một khoản tiền trong một thời hạn nhất định gọi là phí bảo hiểm. Trong
lĩnh vực BVMT, Nhà nước thường quy định các đối tượng gây ô nhiễm phải mua bảo
hiểm cho sản phẩm, hoạt động của họ theo hình thức bảo hiểm bắt buộc.
 Bảo lãnh môi trường: Là việc người thứ ba (người bảo lãnh) cam kết với bên có
quyền (người nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ. Các bên
có thể thoả thuận về việc người bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi người được
bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình. Người bảo lãnh chỉ được
bảo lãnh bằng tài sản thuộc sở hữu của mình hoặc bằng việc thực hiện công việc.
 Trách nhiệm quản lý đối với môi trường: Nhà nước quy định trách nhiệm pháp lý
đối với những người gây ô nhiễm môi trường phải chi trả một số tiền do đã làm tổn
hại đến môi trường. Số tiền này có thể bao gồm số tiền dùng để phục hồi môi trường

của Đức sử dụng 46 tiêu chí, nhãn Dấu sinh thái của Nhật sử dụng 35 tiêu chí, Nhãn sự
lựa chọn vì môi trường của Canada sử dụng 40 tiêu chí... Cách đánh giá các sản phẩm
xanh, do đó, khác nhau ở từng nước. Chẳng hạn, các nước phát triển có xu hướng sử
dụng nhiều hơn các tiêu chí trong việc chứng nhận môi trường, các nước đang phát triển
sử dụng ít hơn các tiêu chí. Các tiêu chí để một sản phẩm được cấp nhãn ngoài việc phải
đáp ứng yêu cầu về môi trường còn có những tiêu chí có liên quan đến trách nhiệm môi
trường của doanh nghiệp sản xuất ra chúng. Tuy hệ thống các tiêu chí đánh giá hiện nay
trên thế giới có khác nhau, song có 4 nhóm tiêu chí cơ bản để cấp nhãn hay chứng chỉ sản
phẩm xanh là:
(1) Tiêu chí về nguyên liệu đầu vào cho sản phẩm
 Nguyên liệu hoặc một phần/thành phần nguyên liệu sử dụng trong sản xuất sản
phẩm có đóng góp vào việc giảm thiểu tác động môi trường: nguyên liệu tái
chế, nguyên liệu sinh khối, nguyên liệu có khả năng phục hồi…
 Nguyên liệu sử dụng là của địa phương (hạn chế chất thải do vận chuyển nếu
mua từ nơi khác).
(2) Tiêu chí về chức năng môi trường của sản phẩm
 Làm cho môi trường sạch hơn: hút khí thải, hút chất độc, xử lý ô nhiễm…
 Tiết kiệm năng lượng: nước, điện…
 Có thể tái chế hoặc tái sử dụng: Toàn bộ hoặc một phần sản phẩm sau khi sử
dụng
 Sản phẩm sau sử dụng tự phân hủy, không gây ô nhiễm môi trường.
(3) Tiêu chí về tác động môi trường xung quanh của sản phẩm
 Giảm thiểu các chất thải gây ô nhiễm ra môi trường
 Tối thiểu hóa chất thải
(4) Tiêu chí về quy trình sản xuất sản phẩm
 Về công nghệ áp dụng là công nghệ thân thiện môi trường
 Về quy trình sản xuất là quy trình đạt các chứng nhận về môi trường
Các sản phẩm đáp ứng một hay một số các tiêu chí trong 04 nhóm tiêu chí nói trên
thì được coi là sản phẩm xanh.
3 Thực trạng phát triển sản phẩm TTMT

Các sản phẩm năng lượng tái sinh hiện phát triển hơn ở Việt Nam. Ngoài các dự án
của nhà nước về nghiên cứu và áp dụng các năng lượng tái sinh: cột gió Bạch Long Vĩ,
nhà máy phong điện Côn Đảo, dự án nhà máy địa nhiệt Cát Hiệp, Quy Nhơn, Chương
trình hành động mới và tái tạo,…hiện các doanh nghiệp cũng đã bất đầu đầu từ và sản
xuất các thiết bị sử dụng năng lượng tái sinh, đặc biệt là năng lượng mặt trời: pin mặt
trời, bình nước nóng năng lượng mặt trời Usolar- Công ty cổ phần năng lượng mặt trời
Việt Nam, công ty cổ phẩn quốc tế Sơn Hà, Sunpo,…Các sản phẩm này hiện nay cũng
khá phổ biến và dần được người tiêu dùng biết đến. Tuy nhiên theo đánh giá, việc sử
dụng năng lượng mặt trời để đun nước nóng và làm nguồn điện sinh hoạt hiện mới chì
dừng ở quy mô nhỏ lẻ và ngành sản xuất này hoàn toàn có thể phát triển nhanh hơn nữa.
Về các sản phẩm tiết kiệm năng lượng (TKNL): đây là một trong các nhóm sản phẩm
xanh phát triển nhất tại Việt Nam hiện nay. Hiên có 9 Công ty tham gia dán nhãn sản
phẩm TKNL đó là các sản phẩm bóng đèn huỳnh quang T8, balat điện từ và chóa đèn
chiếu sáng đường phố TKNL.... Do giá điện ngày càng tăng, việc sử dụng các thiết bị tiết
kiệm năng lượng ngày càng phổ biến. Theo báo cáo của ông Nguyễn Đoàn Thăng – Tổng
giám đốc công ty cổ phần bóng đèn phích nước Rạng Đông, năm 2009, doanh thu của
Rạng Đông đạt mức 1.128,8 tỷ, tăng 26,83% so với năm 2008, mang về lợi nhuận 48,6 tỷ
đồng, tăng 19,7% so với kế hoạch. Lợi nhuận quý I/2010 đạt 18,6 tỷ đồng, tăng 80% so
với cùng kỳ năm 2009
(1)
. Tuy nhiên việc sử dụng các thiết bị tiết kiệm năng lượng vẫn
chưa thực sự đi tới từng hộ dân, từng địa phương.Hơn nữa, giá của một thiết bị tiết kiệm
điện vẫn còn cao so với thiết bị thường trung bình khoảng 3-4 lần.
(2)
Về các sản phẩm giảm thiểu tác động tiêu cực đến sức khỏe người tiêu dùng, hiện
nay đã có một số bước phát triển, tập trung vào các sản phẩm rau sạch, thủy sản, chăn
nuôi,…Tuy nhiên diện tích và quy mô của các khu vực sản xuất các sản phẩm này còn rất
nhỏ so với tổng diện tích của toàn ngành, các cơ sở chế biến tư nhân, nhỏ lẻ, quy mô hộ;
công nghệ chế biến lạc hậu, điều kiện cơ sở hạ tầng không đáp ứng yêu cầu kỹ thuật.
Nhóm các sản phẩm khi tiêu hủy không gây ô nhiễm tới môi trường mà đặc biệt là

thức của người tiêu dùng Việt Nam về các sản phẩm TTMT nói riêng và việc bảo vệ
môi trường nói chung còn rất hạn chế. Việc sản xuất các sản phẩm TTMT cần được
phát triển dựa trên các tác động khác từ nhà nước và chính phủ.
 Thứ hai, doanh nghiệp sản xuất sản phẩm TTMT chưa nhận được những hỗ trợ hiệu
quả từ phía nhà nước. Các doanh nghiệp trong nước còn nhiều hạn chế về tiềm lực tài
chính, công nghệ, nhân lực, vì thế rất khó cạnh tranh với các hãng nước ngoài và các
hãng sản xuất sản phẩm thường.
o Năng lực tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung là còn rất thấp. Các
lĩnh vưc kinh doanh chưa thu hút được vốn đầu từ từ các tập đoàn lớn trong nước.
Doanh nghiệp cũng cho biết rất khó khăn để có thể huy động được các nguồn vốn
hỗ trợ của nhà nước và các quỹ hỗ trợ như quỹ môi trường, quỹ xuất khẩu... để
thực hiện sản xuất kinh doanh. Tỷ lệ doanh nghiệp có liên hệ với các tổ chức tài
chính hoạt động về môi trường là rất thấp. Điều này phản ánh những bất cập trong
công tác hỗ trợ, thông tin và hướng dẫn doanh nghiệp khai thác các nguồn tài
chính từ các tổ chức hỗ trợ phát triển sản phẩm xanh.
o Công nghệ của Việt Nam còn rất lạc hậu và kém phát triển. Mặc dù trong những
năm qua, doanh nghiệp cũng đã nhận được những hỗ trợ về phát triển kĩ thuật,
công nghệ của nhà nước, chú ý hợp tác với các cơ quan khoa học trong nước và đã
mua công nghệ từ nguồn trong nước (24%), hay dưới các hình thức nhận góp vốn
đầu tư, liên doanh bằng công nghệ (22%), tuy nhiên năng lực cạnh tranh và áp
dụng các công nghệ tiên tiến, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm của
các doanh nghiệp này vẫn còn rất hạn chế.
o Nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh
nghiệp xanh nói riêng chưa có chất lượng cao. Đặc biệt, đội ngũ nhân viên có các
kiến thức chuyên sâu về bảo vệ môi trường, quy trình sản xuất thân thiện môi
trường, vòng đời sản phẩm, nhãn sinh thái, thiết kế sinh thái đối với phần lớn các
doanh nghiệp chưa đủ để đáp ứng yêu cầu. (Kết quả khảo sát trong khuôn khổ dự
án “Năng lực bảo vệ môi trường của doanh nghiệp”)
o Năng lực về phát triển thương hiệu, quảng bá sản phẩm, phát triển thị
trường của các doanh nghiệp xanh thực sự là một vấn đề hết sức khó khăn. Đặc

Nông nghiệp hữu cơ (NNHC), theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc, là hệ thống canh
tác và chăn nuôi tự nhiên, không sử dụng hóa chất làm phân bón và thuốc trừ sâu, giúp
giảm thiểu ô nhiễm, bảo đảm sức khỏe cho người và vật nuôi. Ý tưởng về kinh doanh sản
phẩm rau hữu cơ được bắt nguồn từ mong muốn được sử dụng rau sạch, không chứa các
chất hóa học độc hại, an toàn cho sức khỏe người dùng.
 Đặc tính sản phẩm
Sản phẩm rau hữu cơ là sản phẩm sử dụng phân hữu cơ (phân được ủ bằng rơm rạ,
phân trâu bò, vỏ trai, vỏ hến…), không sử dụng phân bón hóa học và phân người; không
sử dụng các chất kích thích và tăng trưởng; không sử dụng các hóa chất bảo vệ thực vật
hoặc các chất diệt cỏ; và hoàn toàn không sử dụng các chế phẩm biến đổi gien. Tất cả các
biện pháp chống bệnh cho cây đều được thực hiện thủ công và không hề sử dụng thuốc,
phân hóa học và máy móc. Sản phẩm rau hữu cơ hiện có giá cao hơn sản phẩm rau an
toàn (sản phẩm rau an toàn: có sử dụng thuốc, phân hóa học, tuy nhiên phải được cách ly
trong 1 khoảng thời gian an toàn mới được đem ra sử dụng). Trong khoảng thời gian đầu,
giá rau hữu cơ cao gấp 2 lần giá rau an toàn, tuy nhiên, trong 1 năm trở lại đây, do giá
của sản phẩm rau hữu cơ không hề tăng, trong khi giá rau an toàn tăng cao nên hiện nay
khoảng cách không còn là bao. Thời gian trồng rau hữu cơ cũng dài hơn rau an toàn do
phương pháp trồng rất thủ công (1 tháng cho rau ăn lá, 3 tháng cho củ quả).
 Sản phẩm đã được nhận các chứng nhận sau về tiêu chuẩn môi trường
o Hệ thống cấp chứng nhận PGS được xây dựng từ hoạt động của Dự án phát triển
nông nghiệp hữu cơ (ADDA). Chứng nhận PGS được công nhận bởi Tổ chức liên
đoàn Quốc tế các phong trào nông nghiệp hữu cơ (IFOAM), chứng nhận được
nhiều nước trên thế giới áp dụng đồng thời với hệ thống cấp chứng nhận của chính
phủ. Ở Việt Nam, đang xúc tiến thành lập Hiệp hội hữu cơ, hệ thống PGS sẽ dần
được chuyển giao cho hiệp hội vận hành.
o Tuy nhiên, trên thực tế, để đạt được các chứng nhận này là một quá trình rất khó
khăn, nhất là về vị trí địa lý của Việt Nam khá xa so với Đan Mạch, nên các doanh
nghiệp xã hội nông sản đang hướng tới các chứng nhận của Hàn Quốc, Thái
Lan…và trong tương lai gần xúc tiến thành lập Hiệp hội hữu cơ ở Việt Nam, và hệ
thống PGS sẽ dần được chuyển giao cho hiệp hội vận hành.

người nông dân thu nhập đước 3-4 triệu đồng/tháng sau khi chuyển sang trồng rau
hữu cơ.

 Đối tượng tiêu dùng chính: người dân trên địa bàn Hà Nội.

 Kết luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: Sản phẩm rau hữu cơ của Trung
tâm Hành động vì sự phát triển của đô thị tuy chưa có năng lực cạnh tranh cao bởi
năng suất còn thấp, giá thành còn cao và khâu tiếp thị còn yếu nhưng rất có tiềm năng
nếu được đầu tư để mở rộng mô hình, nâng cao năng suất (nếu diện tích đất canh tác
lớn sẽ được hỗ trợ bởi Nhà nước để có thể nới rộng mô hình, đầu tư kĩ lưỡng hơn cho
các khâu, từ đó giá sản phẩm sẽ giảm, nâng cao năng lực cạnh tranh).

4.1.1.3 Các công cụ kinh tế được áp dụng và mức độ hiệu quả:

Hiện tại, chưa hề có một công cụ kinh tế nào được áp dụng với sản xuất sản phẩm rau
hữu cơ. Tuy nhiên, doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn cả về đầu vào lẫn đầu ra cho sản
phẩm, cần sự hỗ trợ từ nhà nước.Trung tâm gặp khó khăn đối với cả đầu vào và đầu ra
cho sản phẩm.
o Đầu vào: Không phải vùng nào cũng đạt tiêu chuẩn về đất, nước,…nông dân chưa
có đủ trình độ, chủng loại sản phẩm không đa dạng
o Đầu ra: Do việc đạt được các chứng nhận khó khăn nên dẫn đến việc nhiều người
tiêu dùng còn nghi ngại, nhất là khi giá thành sản phẩm còn cao.
 Hỗ trợ trung tâm nhận được cho hoạt động kinh doanh
o Trung tâm Hành động vì sự phát triển của đô thị đã nhận được $80,000 tài trợ từ
cơ quan phát triển quốc tế Australia để tiến hành dự án. Dự án đã kéo dài được 2
năm và ban đầu được tiến hành trên 10 hộ nông dân thuộc xã Thanh Xuân, huyện
Sóc Sơn. Khoản tiền $80,000 được dùng để hỗ trợ các hộ nông dân sản xuất rau
hữu cơ trong vòng 2 năm, sau 2 năm các hộ sẽ thành lập hợp tác xã và tự tìm sự
giúp đỡ từ phía nhà nước.
o Sản phẩm rau hữu cơ vẫn chưa được trợ cấp bởi nhà nước (nếu sản xuất trên quy

 Ý tưởng về sản phẩm
Cũng xuất phát từ mong muốn được cung cấp những sản phẩm đảm bảo vệ sinh, an
toàn với sức khỏe người tiêu dùng, công ty SCS đã được thành lập năm 2008 với mô hình
sản xuất sản phẩm rau hữu cơ.
 Đặc tính sản phẩm
Tương tự như sản phẩm rau hữu cơ của trung tâm phát triển vì đô thị.
Hiện tại, sản phẩm rau an toàn của công ty SCS chưa hề được cấp một chứng nhận
hay nhãn sinh thái nào do quy mô của doanh nghiệp chưa đủ tầm để xin giấy chứng nhận,
một lý do khách quan khác là do hiện tại chưa có một chuẩn nào để đánh giá sản phẩm
hữu cơ tại Việt Nam.
 Công nghệ sản xuất và năng lực sản xuất
o Quy trình và công nghệ sản xuất
Sản phẩm rau hữu cơ của công ty SCS được gieo trồng bởi 15 hộ nông dân tại thôn
Bái Thượng, Sóc Sơn. Cũng như các sản phẩm rau hữu cơ khác, toàn bộ quy trình sản
xuất đều được làm rất thủ công, không hề sử dụng bất cứ loại phân, thuốc hóa học nào.
Sản phẩm được bày bán tại cửa hàng của công ty và được quảng cáo qua internet và các
báo giấy. Khách hàng có thể đặt mua hàng qua mạng hoặc đến liên hệ với cửa hàng của
công ty. Sản phẩm được vận chuyển chủ yếu bằng xe máy nên thường dẫn đến tình trạng
dập, héo, mất nước khiến doanh nghiệp phải loại bỏ bớt những phần hỏng.

o Chiến lược phát triển của doanh nghiệp
Hiện tại công ty SCS đã được chuyển nhượng cho một công ty ở Singapore do thiếu
vốn đầu tư cho phát triển mô hình. Theo dự tính, mô hình trồng rau hữu cơ của SCS sẽ
được công ty phía Singapore nhân rộng tới 700 hecta, thu hút được 1000 nông dân tham
gia sản xuất và có thể được nhận trợ cấp từ Nhà nước.

4.1.2.2 Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp:

 Thị phần cho sản phẩm
Trung bình hàng tháng công ty có tất cả 500 khách hàng đặt mua sản phẩm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status