1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
Nguyễn Hải Âu
DỊCH VỤ WEB HỖ TRỢ ĐẦU TƯ TRỰC TUYẾN
TÍNH ROI
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC HỆ CHÍNH QUY
Ngành: Công nghệ thông tin
HÀ NỘI - 2009
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
Nguyễn Hải Âu
DỊCH VỤ WEB HỖ TRỢ ĐẦU TƯ TRỰC TUYẾN
TÍNH ROI
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC HỆ CHÍNH QUY
Ngành: Công nghệ thông tin
Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Văn Vỵ
HÀ NỘI - 2009
2
Lời cảm ơn
Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới toàn thể các thầy cô giáo bộ môn
Công Nghệ Phần Mềm – khoa Công Nghệ Thông Tin – Đại Học Công Nghệ - Đại Học
Quốc Gia Hà Nội đã hết lòng dạy dỗ, chỉ bảo, tạo điều kiện tốt cho em trong suốt quá trình
học tập tại trường cũng như trong thời gian thực hiện khóa luận.
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Văn Vỵ đã hết sức quan tâm, tận
tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành tốt khóa luận tốt
nghiệp này.
Hà Nội ngày 21 tháng 5 năm 2006
Sinh viên: Nguyễn Hải Âu
Hình 17. Mô hình phân tích thực thi ca sử dụng Quan ly linh vuc kinh doanh
............................................................................................................................54
Hình 18. Mô hình phân tích thực thi ca sử dụng Cập nhật cấu hình..........55
Hình 19. Biểu đồ tuần tự đối tượng Tạo người dùng mới............................55
Hình 20. Biểu đồ tuần tự đối tượng Cập nhật thông tin người dùng..........56
Hình 21. Biểu đồ tuần tự đối tượng Xóa người dùng....................................56
Hình 22. Biểu đồ tuần tự đối tượng Tạo nội dung dự án..............................57
Hình 23. Biểu đồ tuần tự đối tượng Xây dựng mô hình ROI.......................58
Hình 24. Biểu đồ tuần tự đối tượng Sao chép từ dự án đã có......................59
5
Hình 25. Biểu đồ tuần tự đối tượng Sửa nội dung dự án..............................59
Hình 26. Biểu đồ tuần tự đối tượng Sửa mô hình ROI.................................60
Hình 27. Biểu đồ tuần tự đối tượng Xóa dự án..............................................60
Hình 28. Biểu đồ tuần tự đối tượng In báo cáo............................................61
Hình 29. Biểu đồ tuần tự đối tượng Tạo lĩnh vực mới..................................61
Hình 30. Biểu đồ tuần tự đối tượng Sửa lĩnh vực..........................................62
Hình 31. Biểu đồ tuần tự đối tượng Xóa lĩnh vực..........................................62
Hình 32. Biểu đồ tuần tự đối tượng Xóa lĩnh vực..........................................63
Hình 33. Biểu đồ lớp.........................................................................................63
Hình 34. Giao diện đăng ký.............................................................................64
Hình 35. Giao diện đăng nhập.........................................................................64
Hình 36. Giao diện quản lý dự án...................................................................64
Hình 37. Giao diện quản lý lĩnh vực kinh doanh...........................................65
Hình 38. Giao diện xây dựng mô hình ROI...................................................65
Hình 39. Giao diện báo cáo..............................................................................66
MỤC LỤC
Nguyễn Hải Âu ................................................................................................... 1
HÀ NỘI - 2009 ........................................................................................................................... 1
Nguyễn Hải Âu ................................................................................................... 2
HÀ NỘI - 2009 ........................................................................................................................... 2
Trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đất nước phát triển chưa từng thấy
như hiện nay, việc áp dụng công nghệ thông tin vào đời sống văn hóa – xã hội – kinh tế -
chính trị là một nhu cầu cấp thiết. Đặc biệt, trong lĩnh vực kinh tế, với sự cạnh tranh vô
cùng khốc liệt, các công ty phải không ngừng đổi mới nâng cao các ứng dụng công nghệ kỹ
thuật hiện đại nhằm thu được lợi thế cho mình. Bài toán tỷ suất hoàn vốn đầu tư từ lầu đã
được chú trọng, ngày nay càng được quan tâm đúng mực hơn. Xây dựng một công cụ trực
tuyến trợ giúp cho việc tính toán tỷ suất hoàn vốn đầu tư một cách dễ dàng, nhanh chóng,
trực quan và chính xác sẽ là một công cụ hết sức quan trọng đối với các nhà kinh doanh.
7
Tuy nhiên, để có thể tính chính xác được tỷ suất hoàn vốn đầu tư thì quả là không
đơn giản bởi nó không phải là tỷ suất thực mà là tỷ suất dự kiến.
Trong khóa luận này tôi sẽ trình bày một hệ thống trợ giúp tính toán ROI trực tuyến
sử dụng công nghệ AJAX và đạt được các tiêu chí: Dễ dàng, trực quan, nhanh chóng và
chính xác.
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TỶ SUẤT HOÀN VỐN ĐẦU TƯ (ROI)
1.1. Bài toán đầu tư
Cho đến nay, đầu tư không phải là một khái niệm mới đối với nhiều người, nhất là
đối với những người hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, thuật ngữ
này lại được hiểu rất khác nhau. Có người cho rằng đầu tư tức là phải bỏ ra một cái gì đó
vào một việc nhất định để thu lại lợi ích trong tương lai. Nhưng cũng có người quan niệm
rằng đầu tư là hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận. Thậm chí thuật ngữ này
còn được sử dụng rộng rãi, như câu nói cửa miệng để nói lên sự chi phí về thời gian, sức
lực và tiền bạc vào mọi hoạt động của con người trong cuộc sống.
Vậy đầu tư là gì? Những đặc trưng nào quyết định một hoạt động được gọi là đầu
tư? Mặc dù vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này, nhưng có thể đưa ra một
khái niệm cơ bản về đầu tư được nhiều người thừa nhận là "Đầu tư là việc sử dụng một
8
lượng tài sản nhất định như vốn, công nghệ, đất đai… vào một hoạt động kinh tế cụ thể
nhằm tạo ra một hoặc nhiều sản phẩm cho xã hội để thu lợi nhuận". Người bỏ ra một
lượng tài sản được gọi là nhà đầu tư hoặc chủ đầu tư. Đối tượng được bỏ tài sản vào đầu tư
ROI là một chỉ tiêu kinh tế cho phép đánh giá được phần trăm lợi nhuận thu được
của một khoản chi phí bỏ ra đầu tư vào một hoạt động kinh tế trong một thời gian nhất
định.
Trước một cơ hội đầu tư bất kỳ, nhà đầu tư cần tính toán được ROI để có thể quyết
định đầu tư hay không. Trong trường hợp khi hoạt động sản xuất diễn ra sau một thời gian,
người ta phải kiểm tra xem hoạt động trong một chu kỳ qua còn hiệu quả hay không để tiếp
tục hay phải chuyển hướng kinh doanh. Như vậy, một vấn đề đặt ra là thường xuyên có nhu
cầu tính ROI.
Trên thực tế, việc tính ROI mất nhiều thời gian vì phải thu thập dữ liệu và tổ chức
tính toán. Ngay khi có số liệu thì tính toán có nhiều phương án lựa chọn, đặc biệt khi một
số nhân tố còn thiếu. Trong nhiều trường hợp, khi gặp tình huống này người ta không tính
được ROI.
Để giải quyết bài toán này ta cần xây dựng công cụ trợ giúp tính ROI một cách dễ
dàng và nhanh chóng, có khả năng tùy biến cao như lựa chọn phương pháp tính toán thích
hợp, cho phép lựa chọn giá trị thay thế nhân tố thiếu. Trong trường hợp có thể cho phép
tính đủ mọi yếu tố liên quan có sắn dữ liệu.
Xây dựng một hệ thống trợ giúp tính toán ROI với các khả năng như trên là mục tiêu
ta cần đạt tới. Hệ thống này sẽ được xây dựng trên môi trường WEB.
1.2. Khái niệm ROI (Return On Investment)
1.2.1. Định nghĩa và công thức
Tỷ suất hoàn vốn đầu tư ROI là một chỉ tiêu để đánh giá tình trạng lãi suất của một
công ty kinh doanh, là thước đo phổ biến nhất được dùng để so sánh hiệu quả giữa sự đầu
tư vào công việc kinh doanh này với sự đầu tư vào công việc kinh doanh khác. Giá trị ROI
càng cao thì việc đầu tư càng hiệu quả.
Công thức tính ROI:
Tổng lợi nhuận (sau thuế)
ROI =
Tổng vốn đầu tư
10
Tỷ lệ này cho thấy, cứ 100 đồng vốn sử dụng bình quân trong một thời kỳ mang về
- CPBH: Chi phí bán hàng
- CPQL: Chi phí quản lý
Lợi nhuận phản ánh kế quả kinh doanh cuối cùng trong kỳ
Là nguồn tích lũy cơ bản để tái sản xuất xã hội
Lợi nhuận cho thấy hiệu quả của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, sức mạnh
và triển vọng tài chính của doanh nghiệp. Đây là chỉ tiêu hấp dẫn để thu hut vốn đầu tư.
Doanh thu.
Doanh thu là toàn bộ số tiền doanh nghiệp thu về từ toàn bộ hoạt động của mình
trong kỳ kinh doanh, bao gồm: Doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh thu từ
hoạt động tài chính và thu nhập bất thường.
Doanh thu = Doanh thu bán hàng + Doanh thu tài chính + Thu nhập bất thường
Doanh thu bán hàng =
∑
=
n
i
iti
GS
1
)*(
S
ti
: Số lượng sản phẩm tiêu thụ của từng loại hay dịch vụ cung ứng của từng loại,
trong kỳ kế hoạch
G
i
: Giá bán đơn vị sản phẩm hoặc cước phí đơn vị
i : Loại sản phẩm tiêu thụ hoặc dịch vụ cung ứng tiêu thụ
12
Doanh thu có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp:
khác nhưng chưa đến kỳ hạn trả, nộp như: phải trả người bán, phải trả công nhân viên, phải
trả khách hàng, các khoản phải nộp cho Nhà nước.
b. Phân loại vốn
Như khái niệm đã nêu, chúng ta thấy vốn có nhiều loại và tùy vào căn cứ để chúng
ta phân loại vốn:
- Căn cứ vào hình thái biểu hiện, vốn được chia làm hai loại: Vốn hữu hình và vốn
vô hình.
- Căn cứ vào phương thức luân chuyển, vốn được chia làm hai loại: Vốn cố định và
vốn lưu động.
- Căn cứ vào thời hạn luân chuyển, vốn được chia làm hai loại: Vốn ngắn hạn và
vốn dài hạn.
- Căn cứ vào nguồn hình thành, vốn được hình thành từ hai nguồn cơ bản: Vốn chủ
sở hữu và nợ phải trả.
- Căn cứ vào nội dung vật chất, vốn được chia làm hai loại: Vốn thực (còn gọi là
vốn vật tư hàng hóa) và vốn tài chính (hay còn gọi là vốn tiền tệ).
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là một quá trình với các chu kỳ
được lập đi lập lại, mỗi chu kỳ được chia làm nhiều giai đoạn từ chuẩn bị sản xuất, sản xuất
và tiêu thụ. Trong mỗi giai đoạn của chu kỳ sản xuất kinh doanh, vốn được luân chuyển và
tuần hoàn không ngừng, trên cơ sở đó nó hình thành vốn cố định và vốn lưu động mà
chúng ta sẽ tiếp tục nghiên cứu để hiểu rõ hơn vai trò của chúng.
• Vốn cố định
Bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tiến hành sản xuất kinh doanh đều phải có tư liệu
lao động, đó chính là đất đai, nhà xưởng, máy móc, thiết bị… chúng giữ vai trò là môi giới
trong quá trình lao động.
Trong nền sản xuất hàng hóa, việc mua sắm hay quản lý tư liệu lao động phải sử
dụng tiền tệ. Chính vì lẽ đó, doanh nghiệp muốn tiến hành hoạt động kinh doanh phải ứng
trước một số tiền vốn nhất định về tư liệu lao động. Số vốn này được luân chuyển theo mức
hao mòn dần của tư liệu lao động. Khi tham gia vào quá trình sản xuất, tư liệu lao động vẫn
14
giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu và tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh,
Vốn lưu động là số vốn ứng trước về đối tượng lao động và tiền lương. Trong
thực tế vận động, chúng thể hiện thông qua hình thái tồn tại như nguyên vật liệu ở khâu dự
trữ sản xuất, sản phẩm đang chế tạo ở khâu trực tiếp sản xuất, thành phẩm, hàng hóa, tiền tệ
ở khâu lưu thông.
Đối tượng lao động ở doanh nghiệp biểu hiện thành hai bộ phận: một bộ phận là vật
tư dự trữ để chuẩn bị sản xuất, một bộ phận là những vật tư đang trong quá trình chế biến
(sản phẩm đang chế tạo, bán thành phẩm tự chế). Hình thái hiện vật của hai bộ phận này là
tài sản lưu động. Tài sản lưu động phục vụ trực tiếp cho quá trình sản xuất là tài sản lưu
động sản xuất.
Trong hoạt động kinh doanh, không phải lúc nào sản phẩm sản xuất ra được tiêu thụ
ngay. Thực tế cho thấy, sau khi sản phẩm hoàn thành, doanh nghiệp phải chọn lọc, đóng
gói, tích lũy thành lô hàng, thanh toán với khách hàng… nên hình thành một số khoản vật
tư và tiền tệ (thành phẩm, vốn bằng tiền, khoản phải trả…). Những khoản vật tư và tiền tệ
phát sinh trong quá trình lưu thông gọi là tài sản lưu thông.
Do tính chất liên tục của hoạt động kinh doanh, mọi doanh nghiệp phải có một số
vốn thỏa đáng để mua sắm tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu thông. Cả hai loại tài sản
này thay thế lẫn nhau vận động không ngừng để quá trình sản xuất kinh doanh được tiến
hành thuận lợi. Trong nền kinh tế hàng hóa, tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu thông
được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ. Số vốn ứng trước cho những tài sản này gọi là vốn
lưu động của doanh nghiệp.
Vậy vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn ứng trước về đối tượng lao động và
tiền lương tồn tại dưới các hình thái nguyên vật liệu dự trữ, sản phẩm đang chế tạo, thành
phẩm, hàng hóa và tiền tệ hoặc đó là số vốn ứng trước về tài sản lưu động sản xuất và tài
sản lưu thông ứng ra bằng số vốn lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được
thực hiện thường xuyên liên tục. Vốn lưu động luân chuyển giá trị toàn bộ ngay trong một
lần và hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ sản xuất.
Vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quá trình sản xuất kinh
doanh. Do đặc điểm tuần hoàn của vốn lưu động trong cùng một lúc nó phân bổ trên khắp
các giai đoạn luân chuyển và tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau. Để tổ chức hợp lý sự
tuần hoàn của các tài sản ở doanh nghiệp, để quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục
2
+ … + P
n
Mô hình tính toán ROI:
ROI
LN VonDT
CP
TB
DTKhac
XL
LD QLNVL
KH
CFBD
TSCDTyLeKHLaiNgan
LaiDH
DT
SL
BH CPKhac
Gia
17
Hình 1: Mô hình cấu trúc các nhân tố tham gia tính ROI cơ bản
Bảng 1: Các ký hiệu sử dụng trong mô hình
STT Ký hiệu Ý nghĩa
1 ROI Tỷ suất hoàn vốn đầu tư
2 LN Lợi nhuận
3 VonDT Vốn đầu tư
4 DT Doanh thu
5 CP Chi phí
6 TB Thiết bị
7 XL Xây lắp
tức thời với người dùng), các ứng dụng Web bị giới hạn bởi chính nguyên lý hoạt động của
nó: tất cả các giao dịch phải thực hiện thông qua phương thức giao dịch HTTP (HyperText
Transport Protocol - Giao thức truyền tải qua các siêu liên kết) trong một mô hình có tên
Client/Server. Bất kỳ một tác động nào của người dùng lên ứng dụng Web thông qua trình
duyệt đều cần thời gian gửi về Server và sau khi xử lý, Server sẽ trả về những thông tin
người dùng mong đợi. Như vậy, độ trễ trong trường hợp này chính là điều mà các ứng dụng
Web khó có thể sánh với như các phần mềm chạy trên máy tính đơn lẻ (đặc biệt là trong
các ứng dụng như Bản đồ trực tuyến, soạn thảo văn bản trực tuyến, sát hạch trực tuyến có
tính thời gian làm bài…).
Thuật ngữ AJAX được xuất hiện vào ngày 18/2/2005 trong một bài báo có tên
AJAX : A New Approach to Web Applications của tác giả Jesse James Garrett, công ty
AdapativePath. Ông định nghĩa và tóm gọn lại từ cụm từ “Asynchronous
JavaScript+CSS+DOM+XMLHttpRequest”. Ngay sau đó thuật ngữ AJAX được phổ biến
cực kỳ nhanh chóng trong cộng đồng phát triển Web và cho đến nay nó là một trong những
từ khóa được tìm kiếm nhiều nhất trên Internet.
20
Nội dung định nghĩa của Garrett về AJAX như sau:
AJAX không phải là một công nghệ. Nó là tập hợp của nhiều công nghệ với thế
mạnh của riêng mình để tạo thành một sức mạnh mới. AJAX bao gồm:
* Thể hiện Web theo tiêu chuẩn XHTML và CSS;
* Nâng cao tính năng động và tương tác bằng DOM (Document Object Model);
* Trao đổi và xử lý dữ liệu bằng XML và XSLT;
* Truy cập dữ liệu theo kiểu không đồng bộ (asynchronous) bằng XMLHttpRequest
* Tất cả các kỹ thuật trên được liên kết lại với nhau bằng JavaScript.
Trong các thành phần cấu thành trên, điểm mấu chốt của AJAX nằm ở
XMLHttpRequest. Đây là một kỹ thuật do Microsoft khởi xướng và tích hợp lần đầu tiên
vào IE5 dưới dạng một ActiveX. Mozilla tích hợp công nghệ này vào Mozilla 1.0/Netscape
6 sau đó (đương nhiên toàn bộ các version sau này của Firefox đều có XMLHttpRequest)
và hiện nay đã có trong trình duyệt Safari 1.2 (Apple) và Opera 7 trở lên.
Một số nét khác biệt cơ bản giữa các ứng dụng Web truyền thống và ứng dụng Web
mà không cần nạp lại trang. Mặt khác, sự kết hợp của các công nghệ Web như CSS và
XHTML làm cho việc trình bày giao diện trang Web tốt hơn nhiều và giảm đáng kể dung
lượng trang phải nạp. Đây là những lợi ích hết sức thiết thực mà AJAX đem lại.
2.2. Các công nghệ trong AJAX
2.2.1. Javascript
Javascript là một ngôn ngữ thông dịch, chương trình nguồn của nó được nhúng hoặc
tích hợp vào tập tin HTML chuẩn. Khi file được load trong Browser, Browser sẽ thông dịch
các Script và thực hiện các công việc xác định. Chương trình nguồn JavaScript được thông
dịch trong trang HTML sau khi toàn bộ trang được load nhưng trước khi trang được hiển
thị.
Javascript là một ngôn ngữ có đặc tính:
- Đơn giản
- Động
- Hướng đối tượng
Trên trình duyệt, rất nhiều trang web sử dụng JavaScript để thiết kế trang web động
và một số hiệu ứng hình ảnh thông qua DOM. JavaScript được dùng để thực hiện một số
tác vụ không thể thực hiện được với chỉ HTML như kiểm tra thông tin nhập vào, tự động
thay đổi hình ảnh,... Ở Việt Nam, JavaScript còn được ứng dụng để làm bộ gõ tiếng Việt
giống như bộ gõ hiện đang sử dụng trên trang Wikipedia tiếng Việt. Tuy nhiên, mỗi trình
duyệt áp dụng JavaScript khác nhau và không tuân theo chuẩn W3C DOM, do đó trong rất
nhiều trường hợp lập trình viên phải viết nhiều phiên bản của cùng một đoạn mã nguồn để
có thể hoạt động trên nhiều trình duyệt.
Các thành phần cú pháp chính
23
Biến: Trước khi sử dụng biến trong JavaScript, lập trình viên không nhất thiết phải
khai báo biến. Có hai cách để định nghĩa biến trong JavaScript. Một là sử dụng cú pháp var
để khai báo biến:
var tên_biến;
Hoặc chỉ việc gán cho biến một gía trị để sử dụng biến đó:
tên_biến =giá_trị;
hàng trăm trang và thực sự thuận tiện khi muốn thay đổi một thuộc tính trình bày nào đó.
Cú pháp của CSS gồm ba thành phần:
- Thành phần lựa chọn (thường là một thẻ HTML) (Selecto).
- Thuộc tính (Property).
- Giá trị (Value).
Cú pháp như sau:
Selector {
Property1: Value1;
Property2: Value2;
}
Selector có thể là các thẻ/nhóm thẻ HTML, các lớp khai báo, hay bằng định danh
duy nhất của phần tử. Khi chèn các đoạn mã CSS vào trang web, trình duyệt sẽ hiển thị
trang web theo cách CSS đã qui định cho nó, có ba cách để chèn CSS vào trang web:
- Chèn ngay trong mã thẻ của HTML:
<p style="color: sienna; margin-left: 20px">Text</p>
- Sử dụng file CSS được định nghĩa trong file riêng:
<head>
<link rel="stylesheet" type="text/css" href="mystyle.css"/>
</head>
- Định nghĩa các style sheet ngay trong trang web:
25