LUẬN VĂN Một số biện pháp thúc đẩy xuất khẩu ở Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Nam Hà Nội (SIMEX) - Pdf 10


LUẬN VĂN:

Một số biện pháp thúc đẩy xuất
khẩu ở Công ty cổ phần xuất nhập
khẩu Nam Hà Nội (SIMEX)
Phần I
Lý luận chung về hoạt động xuất khẩu hàng hoá trong nền kinh tế thị trường

I. Bản chất và vai trò của xuất khẩu hàng hoá.

gia của toàn hệ thống kinh tế với sự điều hành của nhà nước.
- Xuất khẩu có vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Nền sản
xuất xã hội của một nước phát triển như thế nào phụ thuộc rất lớn vào lĩnh vực hoạt động
kinh doanh này. Thông qua xuất khẩu có thể làm gia tăng ngoại tệ thu được, cải thiện cán
cân thanh toán, tăng thu cho ngân sách, kích thích đổi mới công nghệ, cải thiện cơ cấu kinh
tế, tạo thêm việc làm và nâng cao mức sống của dân.
- Nước Việt Nam là nước kịnh tế còn thấp, thiếu hụt về vốn, khả năng quản lý, chỉ có
tài nguyên thiên nhiên và lao động. Chiến lược hướng về xuất khẩu thực chất là giải pháp
mở cửa nền kinh tế nhằm thu hút vốn và kỹ thuật nước ngoài, kết hợp chúng với tiềm năng
trong nước về lao động và tài nguyên thiên nhiên và tạo ra sự tăng trưởng mạnh cho nền
kinh tế, góp phần rút ngắn khoảng cách chênh lệch giữa các nước giàu.
- Với định hướng phát triển nền kinh tế xã hội của Đảng. Chính sách kinh tế đối
ngoại, xuất khẩu phải được coi là một chính sách có tầm quan trọng, chiến lược phục vụ
quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân. Đối với mọi quốc gia cũng như Việt Nam, xuất
khẩu thực sự có vai trò quan trọng.
- Xuất khẩu tạo nguồn vốn cho thu nhập, phục vụ công nghiệp hoá đất nước. Để thực
hiện đường lối công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước Việt Nam phải nhập khẩu một lượng
lớn máy móc trang thiết bị, hiện đại từ bên ngoài. Nguồn vốn nhập khẩu thường dựa vào
các nguồn vốn chủ yếu vay, viện trợ đầu tư nước ngoài và xuất khẩu. Nguồn vay thì phải
trả, nguồn vốn viện trợ và đầu tư nước ngoài thì có hạn. Hơn nữa các nguồn này còn phụ
thuộc vào nước ngoài. Vì vậy nguồn vốn quan trọng nhất là xuất khẩu. Nước nào gia tăng
được xuất khẩu thì nhập khẩu theo đó cũng gia tăng theo. Song nếu nhập khẩu lớn hơn
xuất khẩu làm thâm hụt cán cân thương mại quá lớn sẽ ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế
quốc dân.
Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá phù hợp với xu hướng phát
triển của nền kinh tế thế giới và là tất yếu đối với Việt Nam. Ngày nay, đa số các nước
đều lấy thị trường thế giới làm cơ sở để tổ chức sản xuất. Điều này có tác động tích cực
mới, máy móc, trang thiết bị kỹ thuật.
Xuất khẩu giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường không chỉ bó hẹp ở trong nước.
Doanh nghiệp tăng doanh thu, lợi nhuận để mở rộng tái sản xuất có lãi và không ngừng
tăng trưởng.
Sản xuất hàng xuất khẩu giúp doanh nghiệp tạo công ăn việc làm đầy đủ cho người
lao động thu hút người lao động vào doanh nghiệp, giúp cho người lao động ổn định và cải
thiện đời sống.
II. Những nội dung cơ bản của xuất khẩu hàng hoá trong nền kinh tế thị trường.
1. Nghiên cứu thị trường.
Nghiên cứu thị trường là một trong những việc làm cần thiết đầu tiên đối với bất cứ
một công ty nào muốn tham gia vào thị trường thế giới. Việc nghiên cứu thị trường tốt sẽ
tạo điều kiện cho các nhà kinh doanh nhận ra được quy luật vận động của từng loại hàng
hóa cụ thể thông qua sự biến động nhu cầu, mức cung ứng, giá cả thị trường từ đó đáp ứng
nhu cầu của thị trường.
Quá trình nghiên cứu thị trường là quá trình thu nhập thông tin, số liệu về thị trường,
so sánh phân tích số liệu đó và rút ra kết luận, từ đó lập ra kế hoạch Marketing.
Nghiên cứu thị trường là xem xét khả năng thâm nhập và mở rộng thị trường. Nghiên
cứu thị trường được thực hiện theo hai bước: Nghiên cứu khái quát và nghiên cứu chi tiết .
Nghiên cứu khái quát của thị trường là cung cấp những thông tin về quy mô, cơ cấu, sự
vận động của thị trường, các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường như môi trường cạnh tranh,
môi trương chính trị pháp luật, khoa học công nghệ, môi trường văn hoá xã hội, môi
trường địa lý sinh thái Nghiên cứu chi tiết của thị trường cho biết tập quán mua hàng của
thị trường, những thói quen và những ảnh hưởng đến những hành vi mua hàng của người
tiêu dùng.
Nghiên cứu thị trường có hai phương pháp chính: Phương pháp nghiên cứu thị
trường tại bàn là thu nhập những thông tin từ các nguồn tài liệu đã được xuất bản công
khai, xử lý các thông tin đó. Nghiên cứu tại bàn là phương pháp phổ thông nhất, vì nó đỡ

Marketing có hiệu quả hơn.
Bốn là giai đoạn suy thoái. giai đoạn này doanh số và lợi nhuận giảm rõ rệt bởi nhu
cầu tiêu thụ giảm, cạnh tranh và chi phí tăng cao. Do vậy các doanh nghiệp tham gia vào
thị trường xuất khẩu cần rút ra khỏi thị trường để tìm cơ hội kinh doanh mới. Việc rút ra
khỏi thị trường cần được dự đoán và tính toán một cách thận trọng, chính xác.
- Tình hình sản xuất các mặt hàng xuất khẩu
Doanh nghiệp phải tìm hiểu tình hình cung cấp mặt hàng mà doanh nghiệp mình
xuất khẩu. Xem xét khả năng sản xuất, mức tiến bộ khoa học kỹ thuật để có thể đảm bảo
nguồn hàng xuất khẩu ổn định.
* Lựa chọn thị trường xuất khẩu.
Doanh nghiệp phải xác định được từng mặt hàng nào, vào thị trường nào, thời điểm
nào, hình thức Marketing như thế nào cụ thể doanh nghiệp cần nghiên cứu những vấn đề:
* Thị trường và dung lượng thị trường
Doanh nghiệp cần có các thông tin về thị trường hàng hoá theo nhóm hàng, từ
đó có thể hiểu sâu về những thị trường này.
- Các nhân tố làm dung lượng thị trường thay đổi có tính chu kỳ: Sự vận độngcủa
tình hình kinh tế, tính thời vụ trong sản xuất lưu thông và phân phối hàng hoá.
- Các nhân tố ảnh hưởng lâu dài đến sự biến động thị trường thành tựu khoa học cho
phép người tiêu dùng được thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu của mình và
khẩu, việc mua bán hàng hoá và vận chuyển chúng phải qua một thời gian dài và qua
các nước, các khu vực khác nhau với những điều kiện khác nhau (thuế quan, phong tục tập
quán ) đã làm giá cả biến động một cách phức tạp, dẫn đến các nhà xuất khẩu phải luân
theo dõi, nắm bắt được sự biến động của giá cả quốc tế, từ đó có mức giá chính xác, tối ưu.
* Lựa chọn bạn hàng kinh doanh
Các nội dung để tìm hiểu đối tác buôn bán có hiệu quả.
- Quan điểm kinh doanh của đối tác.
- Lĩnh vực kinh doanh của họ.

hiện nay có một số hình thức sau:
- Thu mua tạo nguồn hàng theo đơn đặt hàng kết hợp với ký kết hợp đồng. Đơn đặt
hàng là văn bản yêu cầu về mặt hàng, qua cách, chủng loại, phẩm chất, kiểu dáng, số
lượng, thời gian giao hàng Đơn hàng thường là căn cứ để ký kết hợp đồng hoặc phụ lục
hợp đồng. Đây là hình thức ưu việt đảm bảo an toàn cho các doanh nghiệp, trên cơ sở chế
độ trách nhiệm chặt chẽ của đôi bên.
- Thu mua tạo nguồn hàng cho xuất khẩutheo hợp đồng là hình thức được áp dụng
rộng rãi trong quan hệ mua bán trao đổi hàng hoá. Sau khi các bên thoả thuận về mặt hàng,
chất lượng, số lượng, giá cả, phương thức thanh toán, thời gian giao hàng.
- Thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu không theo hợp đồng. Đây là hình thức mua bán
trao tay, sau khi người bán giao hàng, nhận tiền, người mua nhận hàng, trả tiền là kết thúc
nhiệm vụ mua bán. Hình thức này thường sử dụng thu mua hàng trôi nội trên thị trường.
Chủ yếu là hàng nông sản chưa qua chế biến.
- Tạo nguồn hàng xuất khẩu thông qua liên doanh, liên kết với các đơn vị sản xuất.
Đây là hình thức các doanh nghiệp đầu tư một phần hoặc toàn bộ vốn cho các doanh
nghiệp sản xuất hàng hoá xuất khẩu. Việc đầu tư để tạo ra nguồn hàng là việc làm cần thiết
nhằm tạo ra nguồn hàng ổn định với giá cả hợp lý.
- Thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu thông qua đại lý tuỳ theo đặc điểm từng nguồn
hàng mà doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu chọn các đại lý thu mua phù hợp.
- Thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu thông qua hàng đổi hàng. Đây là hình thức phổ
biến, các doanh nghiệp ngoại thương là nguồn cung cấp nguyên liệu, vật liệu vật tư kỹ
thuật, máy móc thiết bị cho người xuất khẩu hàng xuất khẩu, hình thức này được áp dụng
trong trường hợp các mặt hàng trên là quý hiếm không đủ đáp ứng nhu cầu thị trường.
Tóm lại: các hình thức thu mua tạo nguồn hàng là rất phong phú, đa dạng. Tuỳ theo
từng trường hợp cụ thể của doanh nghiệp, của mặt hàng, quan hệ cung cấp hàng hoá trên
thị trường mà doanh nghiệp lựa chọn, áp dùng các hình thức thu mua thích hợp.
* Nội dung của công tác thu mua tạo nguồn hàng

cơ sở vững chắc đảm bảo cho hoạt động của các doanh nghiệp diễn ra bình thường.
- Xúc tiến khai thác nguồn hàng xuất khẩu
Sau khi ký kết hợp đồng với các chận hàng và các doanh nghiệp sản xuất, doanh
nghiệp ngoại thương cần phải lập được các kế hoạch thu mua, tiến hành sắp xếp các phần
việc phải làm và chỉ đạo các bộ phần thực hiện theo kế hoạch.
- Tiếp nhận, bảo quản và xuất kho giao hàng xuất khẩu
3. Giao dịch, đàm phán, ký kết hợp đồng.
3.1. Các hình thức giao dịch
Trên thị trường thế giới tồn tại nhiều phương thức giao dịch, mỗi phương thức giao
dịch có đặc điểm riêng với kỹ thuật giao dịch riêng. Căn cứ vào mặt hàng dự định xuất
khẩu, đối tượng, thời gian giao dịch và đối tượng, năng lực người tiến hành giao dịch mà
doanh nghiệp chon phương thức giao dịch cho phù hợp.
- Giao dịch trực tiếp: Là giao dịch mà người mua và người bán thoả thuận, bàn bạc
thảo luận trực tiếp về hàng hóa giá cả, điều kiện giao dịch phương thức thanh toán Đây
là hình thức hết sức quan trọng, đẩy mạnh tốc độ giải quyết mọi vấn đề mà cả hai bên cùng
quan tâm. Hình thức này dùng khi có nhiều vấn đề cần phải giải thích cặn kẽ để thiết phục
nhau hoặc là những hợp đồng lớn, phức tạp.
- Giao dịch qua thư tín. Ngày nay việc sử dụng hình thức này vẫn là phổ biến để giao
dịch giữa các nhà doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Những cuộc tiếp xúc ban đầu thường qua
thư tín để trao đổi với bạn hàng như giá cả, mẫu mã chất lượng và số lượng hàng hoá
bằng Fax hoặc thư tay.
- Giao dịch qua điện thoại việc giao dịch qua điện thoại giúp doanh nghiệp đàm phán
đúng thời cơ. Trao đổi qua điện thoại là trao đổi bằng miệng, không có gì làm bằng chứng
cho những thoả thuận, quyết định trong trao đổi. Bởi vậy, hình thức này chỉ nên dùng cho
những trường hợp chỉ còn chờ xác nhận một cách chi tiết. Khi phải trao đổi bằng điện
thoại cần chuẩn bị nội dung chú đáo. Sau khi trao đổi bằng điện thoại, cần có thư xác nhận
nội dung đã đàm phán.

- Điều khoản phạt và bồi thường thiệt hại.
- Điều khoản bảo hiểm.
- Điều khoản bất khả kháng.
- Điều khoản khiếu nại và trọng tài
- Các điều khoản khác.
4. Thực hiện hợp đồng.
Sau khi hợp đồng xuất khẩu được ký kết, doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu phải tổ
chức thực hiện hợp đồng. Đây là một công việc phức tạp đòi hỏi phải tuân thủ theo luật
quốc tế, đồng thời phải đảm bảo quyền lợi và uy tín kinh doanh của mỗi doanh nghiệp.

Trình tự thực hiện hợp đồng xuất khẩu bao gồm
những vấn đề sau

1) Xin giấy phép xuất khẩu hàng hoá:
Giấy phép xuất khẩu hàng hoá là vấn đề quan trọng đầu tiên về mặt pháp ký để tiến
hành các khâu khác trong qúa trình sản xuất hàng hoá.
Nhà nước quản lý xuất nhập khẩu bằng hạn ngạch và băngf pháp luật, hàng hoá là đối
tượng qoản lý có ba mức:

hiểm
Kiểm
nghiệm
hàng hoá

Làm thủ
tục thanh
toán

Giải
quyết
khi
ếu
doanh tại Bộ thương maị. Quyết định này không áp dụng với một số mật hàng đang cò
quản lý theo cơ chế riêng (cụ thể là những mặt hàng gạo, sách báo, chất nổ, ngọc trai, kim
loại quý, tác phẩm nghệ thuật, đồ sưu tầm và đồ cổ).
2) Kiểm tra thư tín dụng L/C.
Sau khi ký kết hợp đồng nhà nhập khẩu ở nước ngoài sẽ mở L/C tại một ngân hậu có
ngân hàng thông báo ở Việt Nam. Nhà xuất khẩu sau khi nhận được giấy báo xin mở L/C
thật chặt chẽ, xem đã đúng như hợp đồng đã ký kết hoặc chưa nếu có gì chưa hợp lý cần
cần báo lại cho bên phía nước ngoài để cả hai bên cùng thống nhất sửa đổi.
3) Chuẩn bị hàng xuất khẩu:
Các doanh nghiệp ngoại thương kinh doanh xuất nhập khẩu chuẩn bị xuất khẩu bao
gồm các công đoạn sau.
- Thu gom tập chung làm thành lô hàng xuất khẩu.
- Đóng gói bao bì hàng xuất khẩu. Phải lựa chọn bao bì phù hợp với mặt hàng và yêu
cầu hàng hoãuất khẩu đúng với cam kết đã nêu ra trong hợp đồng, đồng thời có hiệu quả

được hàng hoá. Thực tế ở Việt Nam doanh nghiệp vừa thanh toán theo hai loại hình thức là
tín dụng chứng từ (L/C) và phương thức nhờ thu.
10) Khiếu nại và giải quyết khiếu nại.
Khi thực hiện hợp đồng xuất khẩu, mà chủ hàng xuất khẩu bị khiếu nại đòi bồi
thường cần có nghiêm túc, thận trọng trong việc xem xét yêu cầu của khách hàng.
Căn cứ để giải quyết khiếu nại là các biên bản giám định cảu cơ quan thứ ba đồng
thời phải xem xét các yêu cầu khiếu nại có đầy đủ, chặt chẽ và còn trong thời hạn hiệu lực
hay không. Nếu khiếu nại cócơ sở cần tìm hướng giải quyết hợp lý va kinh nghiệm cho các
đợt tới.
5. Đánh giá hiệu quả hoạt động xuất khẩu
Hiệu quả hoạt động kinh doanh xuất khẩu là mối quan tâm hàng đầu của các doanh
nghiệp nó là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá kết qủa hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, việc đánh giá hoạt động xuất khẩu là rất cần thiết. Bởi vì nó cho phép doanh
nghiệp xác định được hiệu qủa một hợp đồng xuất khẩu, một thương vụ làm ăn và của
công việc kinh doanh. Qua việc đánh giá doanh nghiệp sẽ thấy được những hạn chế trong
hoạt động xuất khẩu, để lần sau khắc phục đồng thời phát huy những ưu điểm, những mặt
mạnh của doanh nghiệp.
Công tác đánh giá hoạt động xuất khẩu có hiệu quả hay không chúng ta phải so sánh
kết quả đạt được với những chỉ tiêu thông qua hệ thống chỉ tiêu về hiệu quả. Kết qủa hoạt
động của doanh nghiệp có thể chia làm 2 loại:
Các kết qủa định lượng
Các kết quả định tính
Từ đó ta có các chỉ tiêu phản ánh kết quả định lượng và chỉ tiêu kết quả định tính.
5.1. Các chỉ tiêu phản ánh kết qủa định lượng”
Lợi nhuận: là chỉ tiêu hiệu quả kinh tế có tính tổng hợp, phản ánh kết quả cuối cùng
của từng hợp đồng xuất khẩu. Lợi nhuận là tiền đề duy trì và tái sản xuất mở rộng của
doanh nghiệp, là điều kiện để nâng cao mức sống cho người lao động. Lợi nhuận là số tiền
Trong đó:
P’ là tỷ suất lợi nhuận
Chỉ tiêu P’ nói lên rằng: Tỷ lệ phần trăm lãi so với tổng chi phí của doanh nghiệp
sau khi thực hiện hợp đồng, hay khả năng sinh lời của 100 đồng chi phí. Chỉ tiêu này có
so sánh với tỷ suất lãi của ngân hàng hoặc so với một chỉ tiêu nào đó.
Cách 2:
P
P’ = (3)
TR
P’ trong công thức (3) cho biết trong 100 đồng doanh thu thì có bao nhiêu đồng lợi
nhuận
Cách 3
P
P’ = (4)
Tổng vốn
Trong đó P’ là khả năng sinh lời của 100 đồng vốn bỏ ra vào hoạt động sản xuất
kinh doanh.
* Chỉ tiêu tỷ suất ngoại tệ xuất khẩu: là tỷ lệ giữa tổng chi phí bằng đồng ngoại tệ
(nội tệ) trên doanh thu tính bằng đồng ngoại tệ. Chỉ tiêu này đem so sánh với tỷ giá hối
đoái của ngân hàng nếu chỉ tiêu này bé hơn tỷ giá hối đoái của ngân hàng thì việc thực
hiện hợp đồng có kết quả và ngược lại.
Thông thường chỉ tiêu này được tính trước khi thực hiện hợp đồng xuất khẩu, để
biết hợp đồng xuất khẩu có hiệuquả hay không. Nhưng sau khi kết thúc hợp đồng thì
chúng ta cũng tính lại chỉ tiêu này,để biết được hiệu quả thực tế của hợp đồng.
Tỷ suất lợi nhuận xuất khẩu =
Chi phí (Bản tệ)
Doanh thu (Ngoại tệ)


hiện hợp đồng xuất khẩu. Lợi ích này không chỉ của doanh nghiệp mà toàn của xã hội. Các
vấn đề bảo vệ môi trường có được thực hiện hay không ? Đóng góp trong việc tạo việc làm
cho người lao động, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội.
Tóm lại, đánh giá hiệu quả hoạt động xuất khẩu là một công việc quan trọng đối với
doanh nghiệp sau khi thực hiện hợp đồng xuất khẩu. Đánh giá hiệu quả cho chúng ta thấy
hợp đồng vừa thực hiện có hiệu quả / Có thì ở mức độ nào, kém hiệu quả hơn mặt nào, hạn
chế ở mặt nào để còn rút ra kinh nghiệm cho việc thực hiện các hợp đồng tiếp theo. Doanh
nghiệp cần khắc phục những hạn chế đó và phát huy những thế mạnh. Chú ý, doanh
nghiệp cần đánh giá một cách toàn diện, chính xác kết quả định lượng, định tính, các lợi
ích cho doanh nghiệp và xã hội.
III-các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp tới hoạt động xuất khẩu của công ty
simex
1-Nhom nhân tốthuộc môi trường kinh doanh (Bên ngoài doanh ngiệp)
1.1-Các chính sách quản lý vĩ mô của nhà nước:
Các chính sách quản lý vĩ mô của nhà nướcnhư: Chính sáchtài chính tiền tệ (thuế
khoá, lãi suất, tỷ giá, ổn định tiền tệ) Chính sách thương mại vv có ảnh hươngraats lớn
đến các yếu tố đầu vào, đầu ra của các sản phẩm dịch vụ . Các doanh nghiệp cần tính toán
đầy đủ các yếu tố trên nhằm tranh thủ các lợi thế do các chính sách đó tạo ra để tăng hiệu
qua kinh doanh của doanh nghiệp .
Việt Nam gia nhập vào ASEAN, APTA nên các tổ chức tài chính quốc tế các nước,
các doanh nghiệp nước ngoài gần đây cũng đã quan tâm hỗ trợ, cho vay ưu đãi, đầu tư cơ
sở hạ tầng nông thôn, đầu tư sản xuất nghiệp , thu mua.Chế biến, xuất khẩu nông sản phẩm
hàng hoá và nhập khẩu phân bón, vật tư phục vụ cho sản xuất nông nghiệp .
Chính phủ củng quan tâmchỉ đạo trong thu mua xuất khẩu gạo, có những chính sách
quản lý chặt chẻ hơn , để bảo vệ lợi ích người nông dân là điều kiện để công ty hoạt động
tốt.
b. Nhu cầu tiêu dung, sự bố trí sản xuất của dân cư tập trung hay phân tán:

Tổ chức quản lý quá trình kinh doanh là một nhân tố rất quan trọng , có ảnh hưởng
đến hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp , quá trình quản ly

Chương II
Phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh xuất khẩu hàng hoá ở công ty SIMEX
thời gian qua.

I/ Đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty:
1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty.
Công ty xuất nhập khẩu Nam Hà Nội được thành lập ngày 23 tháng 11 năm 1981
theo quyêt định số 4692/QĐUB của UBND thành phố Hà Nội, có tên gọi tắt ban đầu là
UNIMEXS. Sau đó, ngày 30 tháng 8 năm 1982, Công ty được đổi tên là gọi tắt là SIMEX
theo quyết định số 2432/QĐUB của UBND thành phố Hà Nội. Ngày 18 tháng 7 năm 1994,
được UBND thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy phép số 609/TBTC, Công ty đặt trụ sở tại
thành phố Hồ Chí Minh.
Tổ chức của Công ty theo hình thức: Công ty là một doanh nghiệp nhà nước, trực
thuộc UBND thành phố Hà Nội, hạch toán kinh doanh độc lập, có con dấu riêng, được mở
tài khoản tại ngân hàng.
- Tên gọi: Công ty xuất nhập khẩu Nam Hà Nội.
- Tên giao dịch quốc tế: HANOI-IMPORT-EXPORT-CORPORATION IN SOUTH
OF VIET NAM.
- Trụ sở chính: 497 Điện Biên Phủ - quận 3 - thành phố Hồ Chí Minh.
- Vốn kinh doanh: 14,42 tỷ đồng
Trong đó: Vốn cố định: 3,220 tỷ đồng
Vốn lưu động: 11,200 tỷ đồng
Quá trình hoạt động của công ty thời gian qua được chia làm hai giai đoạn:
* Giai đoạn từ đầu năm 1982 đến 1990.

binh và xã hội Hà Nội, căn cứ vào các tiêu thức tính điểm của Bộ chủ quản, kết quả sản
xuất năm 1992, 1993 và kế hoạch năm 1994, UBND thành phố Hà Nội quyêt định xếp lại
1 cho Công ty xuất nhập khẩu Nam Hà Nội (SIMEX).

2. Chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của công ty.
* Chức năng hoạt động của công ty:
- Trực tiếp xuất khẩu và nhận uỷ thác xuất khẩu các mặt hàng nông lâm, hải sản, thực
phẩm chế biến, tạp phẩm, thủ công mỹ nghệ và các mặt hàng khác do Công ty thu mua, gia
công chế biến hoặc liên doanh liên kết tạo ra.
- Trực tiếp nhập khẩu và nhận uỷ thác nhập khẩu các mặt hàng: công cụ sản xuất, vật
tư, nguyên vật liệu, hàng tiêu dùng, kể cả chuyển khẩu, tạm nhập tái xuất.
- Tổ chức sản xuất, liên doanh, liên kết, hợp tác đầu tư với các tổ chức kinh tế trong
và ngoài nước để sản xuất hàng xuất khẩu và tiêu dùng.
* Nhiệm vụ của công ty:
- Xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch dài hạn, ngắn hạn về sản xuất, kinh
doanh xuất nhập khẩu, gia công, lắp ráp theo đúng luật pháp hiện hành của Nhà nước và
hướng dẫn của Sở Thương mại Hà Nội.
- Tổ chức nghiên cứu nâng cao năng suất lao động, đổi mới trang thiết bị, tổ chức
tiếp thị tốt để nâng cao năng lực kinh doanh và khả năng cạnh tranh lành mạnh, bảo đảm
kinh doanh có hiệu quả ngày càng cao.
- Chấp hành pháp luật Nhà nước, thực hiện các chế độ chính sách về quản lý và sử
dụng tiền vốn, vật tư, tài sản, nguồn lực, thực hiện hạch toán kinh tế, bảo toàn và phát triển
vốn, thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước.
- Thực hiện báo cáo theo ngành và chịu sự thanh tra của Pháp luật.
- Tổ chức tốt bộ máy doanh nghiệp, quản lý toàn diện, đào tạo và phát triển đội ngũ
cán bộ công nhân viên chức theo pháp luật, chính sách của Nhà nước và sự phân cấp quản
lý của Sở thương mại để thực hiện nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh của Công ty. Chăm lo

hợp với nhiệm vụ của một Công ty XNK.
Nhiệm vụ của các phòng ban chức năng do Giám đốc quy định, cụ thể:

* Phòng kinh doanh
Phòng nhập khẩu:
Ban giám đốc
Phòng
Kinh
doanh

Phòng Tổ
ch
ức Hành
chính

Phòng
Tiền
lương

Phòng K
ế
toán tài
v


Phòng

xuất
kh
ẩu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status