Phần mở đầu
Công ty cổ phần Giày Phúc Yên là một doanh nghiệp với chức năng sản
xuất các loại giày chủ yếu để xuất khẩu. Trong nền kinh tế thị trờng, mặc dù
phải chịu bao áp lực và gặp rất nhiều khó khăn, song công ty đã không ngừng
phấn đấu vơn lên, vợt qua các trở ngại và khó khăn, luôn đứng vững và đang có
chiều hớng phát triển.
Cũng nh bao doanh nghiệp khác trong điều kiện kinh tế thị trờng, vấn đề
mà công ty cổ phần Giày Phúc Yên quan tâm hàng đầu là lợi nhuận trong hoạt
động sản xuất kinh doanh. Thu đợc lợi nhuận, tức là đạt đợc hiệu quả trong các
hoạt động kinh tế, điều đó thể hiện trình độ lãnh đạo, định hớng phát triển đúng
đắn, sự nhạy bén trong chỉ đạo và tinh thần trách nhiệm cũng nh cố gắng của
toàn thể cán bộ - nhân viên trong công ty.
Lợi nhuận không chỉ là mục tiêu phấn đấu mà còn là chỉ tiêu tổng hợp để
đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần Giày Phúc
Yên.
Đối với bất kỳ đơn vị kinh tế nào cũng cần phải nhận thức rằng: Lợi
nhuận là cơ sở để thực hiện các mục tiêu chiến lợc đề ra. Thực tế đã cho thấy,
đối với công ty cổ phần Giày Phúc Yên, lợi nhuận chính là điều kiện để công ty
phát triển, để thực hiện các nghĩa vụ với nhà nớc, là nguồn để cải thiện và nâng
cao đời sống cho cán bộ nhân viên trong công ty. Cho nên việc không ngừng
nâng cao lợi nhuận luôn luôn là mối quan tâm và là nhiệm vụ thờng xuyên đợc
đặt ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần Giày Phúc
Yên.
Sau khi kết thúc chơng trình học tập những kiến thức cơ bản ở trờng, theo
kế hoạch thực tập tốt nghiệp mà Khoa Thơng mại đề ra, qua tìm hiểu thực tế về
hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần Giày Phúc Yên, em thấy đ-
ợc rằng đây là một doanh nghiệp tuy không lớn và có bề dày thành tích nh các
doanh nghiệp khác, song công ty đã có đợc những kết quả khá tốt về tổ chức
hoạt động kinh doanh, có thể lấy đó làm cơ sở để viết một luận văn tốt nghiệp
1
cho sinh viên chuyên ngành kinh doanh thơng mại quốc tế. Do vậy em đã chọn
doanh nghiệp sản xuất
1.1.Khái niệm về lợi nhuận ở doanh nghiệp sản xuất
Doanh nghiệp sản xuất là một tế bào hữu cơ của nền kinh tế quốc dân.
Doanh nghiệp đợc hình thành nhằm mục đích sản xuất ra sản phẩm cung ứng
cho thị trờng, làm thoả mãn nhu cầu về hàng hóa của ngời tiêu dùng để từ đó
thu lợi nhuận.
Mỗi doanh nghiệp, trong quá trình tổ chức hoạt động kinh doanh đều đề ra
mục tiêu chiến lợc là lợi nhuận. Đây là mục tiêu xuyên suốt cả quá trình tồn tại
và là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của doanh nghiệp. Mọi sự cố gắng, mọi
nguồn lực của doanh nghiệp đều tập trung cho việc thực hiện mục tiêu này.
Để tổ chức sản xuất, doanh nghiệp cần phải bỏ ra một lợng vốn nhất định,
tuỳ thuộc vào quy mô sản xuất, tức là phải có các chi phí phục vụ cho sản xuất
kinh doanh. Đó là các chi phí đợc dùng cho việc xây dựng cơ sở vật chất-kỹ
thuật cho sản xuất, nh nhà xởng, thiết bị máy móc, dây truyền sản xuất, các
thiết bị cho điều hành, quản lý, các chi phí cho nguyên liệu-vật t để sản xuất và
các chi phí để thực hiện quá trình tiêu thụ sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất
ra. Vấn đề đặt ra trớc các nhà quản lý doanh nghiệp là cần phải nhanh chóng
thu hồi đợc các chi phí bỏ ra, phải tổ chức sản xuất kinh doanh có lãi, để một
mặt bù đắp các chi phí, mặt khác có tích luỹ và có nguồn tài chính giải quyết
các nhu cầu trong kinh doanh, nhất là mở rộng và phát triển sản xuất của doanh
nghiệp. Nguồn chủ yếu và có thể coi là duy nhất về tài chính của doanh nghiệp
không có gì khác, đó là lợi nhuận. Có thể nói rằng: lợi nhuận có vai trò vô cùng
to lớn, quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Về lợi nhuận của doanh nghiệp sản xuất có thể hiểu là: Lợi nhuận của
doanh nghiệp sản xuất là kết quả mà doanh nghiệp thu đợc từ hoạt động
3
đầu t vào sản xuất. Kết quả này có đợc là do phần thu vào lớn hơn phần đầu t
vốn và các chi phí bỏ ra để tổ chức sản xuất, sau khi doanh nghiệp đã tiêu thụ
đợc sản phẩm. Lợi nhuận mà doanh nghiệp thu đợc nhiều hay ít phụ thuộc vào
quá trình quản lý hoạt động sản xuất và các chi phí phục vụ cho các hoạt động
Nguồn lợi nhuận mà doanh nghiệp sản xuất có thể thu thêm đợc là từ các
hoạt động tài chính và từ các hoạt động bất thờng khác.
+ Lợi nhuận thu đợc từ hoạt động tài chính.
Hiện nay, các doanh nghiệp sản xuất của nớc ta phần thu này cha nhiều,
thậm chí có một số doanh nghiệp không có khoản thu này. Điều đó cũng dễ
hiểu, vì một trong những nguyên nhân là vốn và tài sản của nhiều doanh nghiệp
còn thiếu quá nhiều, nên cha thể có vốn đầu t vào các hoạt động tài chính. Một
số doanh nghiệp có khoản thu lợi nhuận từ nguồn này, chủ yếu là do có một số
cơ sở vật chất từ thời bao cấp để lại, nay đầu t thêm không nhiều vốn nhng trở
thành tài sản có giá trị cho các doanh nghiệp khác thuê mớn. Các loại tài sản
cho thuê tài chính đa số ở dới dạng nhà cửa, kho tàng, bến bãi.
Trong thời gian gần đây, nhiều doanh nghiệp liên kết, hợp nhất lại với
nhau dới hình thức các tập đoàn, tạo ra sức mạnh tài chính mới, tăng cờng các
hoạt động đầu t và tham gia thị trờng chứng khoán, xu hớng thu lợi nhuận từ
đầu t tài chính có khả năng tăng dần trong tơng lai không xa.
+ Thu từ các hoạt động bất thờng khác.
Đây là phần thu lợi nhuận của doanh nghiệp nằm ngoài kế hoạch, song
trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh vẫn thờng xuyên xẩy ra, tuy
phần lợi nhuận này không nhiều. Đó là các khoản thu nh: thanh lý tài sản, phạt
do đối tác vi phạm hợp đồng, các khoản nợ khó đòi nay đòi đợc, các khoản th-
ởng bất thờng từ các đối tác, các khoản hoàn trả lại từ nhà nớc....
Có thể nói rằng, trong bất kỳ lĩnh vực sản xuất-kinh doanh nào cũng vậy,
lợi nhuận có đợc là cả một quá trình phấn đấu để nâng cao kết quả hoạt động
sản xuất-kinh doanh và một vấn đề hết sức quan trọng đòi hỏi các doanh
5
nghiệp phải thờng xuyên quan tâm là tiết kiệm chi phí. Để tăng hiệu quả hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cần phải chú ý tăng thu, tận thu
bằng tất cả các hình thức, nh dân ta có câu Năng nhặt, chặt bị.
1.3. Vai trò của lợi nhuận.
Trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung, lợi nhuận là một chỉ tiêu kinh tế ít
Nâng cao đời sống cho ngời lao động phải thể hiện cả trong đời sống vật chất
và văn hoá tinh thần. Giải pháp tốt nhất để thực hiện đợc mục đích này là sản
xuất kinh doanh phải có lãi: lãi càng cao càng có cơ sở để nâng cao đời sống và
tăng phúc lợi cho ngời lao động.
1.3.2. Vai trò của lợi nhuận đối với sự tồn tại, mở rộng và phát triển
sản xuất của doanh nghiệp.
-Trong cơ chế thị trờng, lợi nhuận là điều kiện tiên quyết để doanh
nghiệp tồn tại và phát triển. Chuyển sang cơ chế thị trờng, các doanh nghiệp đ-
ợc tự chủ trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời tự chịu trách
nhiệm trớc kết quả kinh doanh của mình. Quyền tự chủ đã cho phép các doanh
nghiệp tổ chức kinh doanh một cách chủ động hơn, năng động hơn, sáng tạo
hơn và có cơ hội phát huy hết khả năng cũng nh tận dụng hết các nguồn lực
nhằm thu đợc kết quả cao nhất. Tuy nhiên, để mở rộng và phát triển kinh
doanh, một yếu tố không thể thiếu đợc đó là nguồn tài lực. Có nguồn vốn
phong phú, dồi dào, doanh nghiệp có thể mở rộng hoạt động kinh doanh, đầu t
đổi mới cơ sở vật chất - kỹ thuật, nhập đợc dây truyền với công nghệ mới để
sản xuất ra những sản phẩm có chất lợng cao, năng suất lao động tăng sẽ tạo cơ
hội giảm giá thành, từ đó tăng năng lực cạnh tranh trên thị trờng.
Phục vụ khách hàng một cách tốt nhất, đáp ứng nhu cầu cho ngời tiêu
dùng một cách đầy đủ nhất và kịp thời nhất là những đòi hỏi thiết thực nhất đối
với các doanh nghiệp. Để làm tốt đợc các vấn đề trên, hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp phải có lợi nhuận, vì lợi nhuận là nguồn gốc để giải quyết
các vấn đề đã đợc nêu ra.
7
- Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, ở bất kỳ doanh nghiệp nào cũng
vậy, cần phải có lợi nhuận để trích lập các quỹ, nh: quỹ đầu t phát triển sản
xuất kinh doanh, quỹ dự phòng tài chính, quỹ bảo toàn vốn, quỹ phúc lợi, quỹ
khen thởng... Nói một cách khác, để chủ động trong mọi hoạt động sản xuất,
kinh doanh, doanh nghiệp cần phải có nhiều vốn, mà tất nhiên, nguồn duy nhất
có thể đáp ứng mọi nhu cầu trong kinh doanh là từ lợi nhuận.
Việc tiêu thụ sản phẩm có vai trò quyết định đến quá trình tồn tại và phát triển
của doanh nghiệp sản xuất. Bởi vì chỉ khi sản phẩm đợc tiêu thụ, sản phẩm do
doanh nghiệp sản xuất ra mới đợc ngời tiêu dùng và đợc xã hội chấp nhận. Tiêu
thụ đợc sản phẩm, giá trị của sản phẩm hàng hoá đợc thực hiện, doanh nghiệp
mới có thể thu hồi đợc vốn, có lãi để tiếp tục đầu t cho tái sản xuất mở rộng và
phát triển sản xuất.
Đối với doanh nghiệp, lợng sản phẩm hàng hoá bán ra càng tăng, lợi
nhuận thu đợc cũng sẽ càng nhiều. Tuy nhiên, để tiêu thụ đợc nhiều sản phẩm,
doanh nghiệp sản xuất cần giải quyết tốt các vấn đề xã hội đặt ra: sản xuất
hàng hoá nào, cho đối tợng nào, và sản xuất nh thế nào?
- Thứ hai: Giá bán sản phẩm. Giá bán hàng hoá tác động đến lợi nhuận
của doanh nghiệp ở hai khía cạnh.
+ Theo cách hiểu đơn thuần, giá bán tăng thì lợi nhuận thu đợc sẽ tăng
theo sự chênh lệch giữa giá bán và giá sản phẩm. Tuy nhiên, để tăng lợi nhuận
doanh nghiệp không thể tính đến chuyện tăng giá bán một cách tuỳ tiện đợc.
+ Làm sao có thể giữ giá bán ra, thậm chí giảm giá bán so với các đối thủ
cạnh tranh, nhng vẫn có lợi nhuận cao? Đây là bài toán mà ai cũng biết đáp số
là: phấn đấu hạ giá thành sản phẩm. Hạ giá thành để hạ giá bán ra sẽ là lợi thế
cạnh tranh rất lớn, nó sẽ giúp doanh nghiệp tăng đợc lợng hàng bán ra, bán
hàng đợc nhanh và nhiều. Đó cũng chính là mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra.
- Thứ ba: Uy tín và danh tiếng của doanh nghiệp.
9
Uy tín và danh tiếng của doanh nghiệp đợc tạo dựng bởi nhiều nguyên
nhân. Khách hàng đến với doanh nghiệp là do uy tín của sản phẩm, tính chung
thuỷ trong các mối quan hệ, tinh thần hợp tác và phục vụ lẫn nhau.
Một sản phẩm có chất lợng cao, luôn giữ đợc sự ổn định và độ tin cậy
của chất lợng, là yếu tố vô cùng quan trọng làm tăng uy tín và danh tiếng của
doanh nghiệp. Khi sản phẩm đã có đợc uy tín cao thì việc tiêu thụ sẽ thờng
xuyên tăng, giá có thể cao hơn các sản phẩm cùng loại đợc sản xuất ra ở các
doanh nghiệp khác, đồng thời doanh nghiệp sẽ có lợi thế trong tiêu thụ hơn hẳn
nớc. Các chính sách của nhà nớc cũng ảnh hởng nhiều đến lợi nhuận của doanh
nghiệp, đó là các chính sách thuế, tiền tệ, tiền lơng, bảo hiểm...
Có thể nói rằng: lợi nhuận của doanh nghiệp chịu sự tác động của nhiều
nhân tố, doanh nghiệp cần hiểu rõ và hiểu sâu sắc các nhân tố đó để tổ chức và
điều hành các hoạt động sản xuất kinh doanh sao cho có hiệu quả nhất, tức là
lợi nhuận thu đợc nhiều nhất.
1.5. Các chỉ tiêu về lợi nhuận: Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp
đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Để thấy đợc
thực trạng lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh, thờng sử dụng các chỉ tiêu
chủ yếu nh sau:
- Lợi nhuận tính trên doanh thu tiêu thụ sản phẩm: Doanh thu của doanh
nghiệp sản xuất gắn liền với lợng sản phẩm đợc tiêu thụ do doanh nghiệp sản
xuất ra. Tuy nhiên, trị giá sản phẩm tiêu thụ cha thể đánh giá đợc hiệu quả sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Sử dụng chỉ tiêu lợi nhuận tính trên doanh
thu là để đánh giá kết quả tổ chức, quản lý và điều hành hoạt động sản xuất của
doanh nghiệp. Chỉ tiêu này cho biết: cứ một đồng sản phẩm tiêu thụ thì thu đợc
bao nhiêu đồng lợi nhuận. Kết quả càng lớn, hiệu quả càng cao.
11
Có thể tính hệ số lợi nhuận trên doanh thu tiêu thụ sản phẩm do doanh
nghiệp sản xuất ra nh sau:
Nếu ký hiệu:
+Tổng doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ là B,
+Tổng lợi nhuận thu đợc trong kỳ là L,
+Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu là LB,
Thì: L
LB =
B
- Lợi nhuận thu đợc từ kết quả đầu t: Đây là chỉ tiêu phản ánh tỷ lệ lợi
nhuận thu đợc tính trên vốn đầu t.
Doanh nghiệp sản xuất cũng chính là nhà đầu t. Đầu t vào sản xuất nhằm
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Và có thể coi việc sử dụng các chỉ
tiêu này nh là cơ sở quan trọng giúp cho các nhà quản lý tìm ra biện pháp nâng
cao lợi nhuận doanh nghiệp.
13
Chơng 2
Thực trạng Lợi nhuận ở công ty cổ Phần
Giày Phúc yên trong một số năm gần đây
2.1. Khái quát về công ty cổ phần Giày Phúc Yên
2.1.1.Quá trình thành lập và phát triển công ty
Công ty cổ phần Giày Phúc Yên (trớc đó là Nhà máy Giày Phúc Yên
thuộc Bộ Công nghiệp) có trụ sở đóng tại đờng Trần Phú, Thị xã Phúc Yên,
tỉnh Vĩnh Phúc.
Tiền thân của công ty là Nhà máy Bút máy Kim Anh đợc xây dựng năm
1976 với hoạt động chính là sản xuất bút máy. Tháng 4 năm 1982 nhà mày sáp
nhập vào nhà máy Văn phòng phẩm Hồng Hà và trở thành cơ sở 2 của nhà máy
này. Từ một nhà máy sản xuất hoàn chỉnh một chiếc bút máy, sau khi sáp nhập
chỉ sản xuất một số chi tiết của bút máy, cho nên nhiều công nhân không có
việc làm thờng xuyên.
Trong khi đó, cùng với việc phân công sản xuất giữa các nớc thành viên
trong khối Hội đồng tơng trợ kinh tế (SEV) trong lĩnh vực sản xuất giày dép,
Việt Nam phải đảm nhiệm khâu sản xuất mũ giày da cung cấp cho các nớc
trong khối, vì vậy ngày 1 tháng 10 năm 1987 Bộ Công nghiệp nhẹ ra quyết
định thành lập Nhà máy Giày Phúc Yên để thực hiện kế hoạch đợc phân công
trên. Tuy nhiên mãi đến tháng 5 năm 1988 nhà máy mới chính thức đi vào hoạt
động với chức năng chính là sản xuất các sản phẩm mũ giày da xuất đi các nớc
Đông-Âu theo chỉ tiêu phân bổ của Hội đồng tơng trợ kinh tế (SEV).
Năm 1991 khối các nớc Xã hội Chủ nghĩa ở Đông-Âu tan vỡ, nhà máy bị
mất các đơn đặt hàng, các hợp đồng bị huỷ bỏ, công ty Giày Phúc Yên cũng
nh các xí nghiệp và nhà máy khác của Việt Nam lâm vào tình trạng khó khăn
nghiêm trọng. Trớc tình hình đó, đợc sự đồng ý của Bộ Công nghiệp nhẹ, Tổng
15