Một số giải pháp phát triển thị trường tại công ty cổ phần giầy Cẩm Bình - Pdf 83

LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tồn
tại và phát triển đều phải tập chung vào phát triển thị trường, nghĩa là thúc
đẩy cho quá trình lưu thông hàng hóa một cách nhanh chóng. Khi đó sản
phẩm của doanh nghiệp tiêu thụ ra thị trường càng nhiều thì sẽ thu được
càng nhiều vốn quay vòng đầu tư vào sản xuất.
Công nghiệp giầy da là một trong những ngành quan trọng trong
nền kinh tế nước ta, hàng năm đóng góp hàng chục tỷ đồng vào ngân sách
quốc dân,tạo công ăn việc làm cho người lao động.
Là một doanh nghiệp mới được hình thành nhưng công ty cổ phần
giầy Cẩm Bình đã đứng vững trên thị trường và ngày càng phát triển, vấn đề
mà công ty hiện nay coi trọng là làm thế nào sản phẩm của doanh nghiệp
tiêu thụ một cách nhanh chóng, và thoả mãn được nhu cầu tiêu dùng của
khách hàng. Do vậy chuyên đề “Một số giải pháp phát triển thị trường tại
công ty cổ phần giầy Cẩm Bình” là chuyên đề phù hợp tình hình công ty
hiện nay.
Chuyên đề gồm 3 phần:
- Phần I: Tổng quan công ty cổ phần giầy Cẩm Bình.
- Phần II: Đánh giá thực trạng sản xuất, kinh doanh của công ty
cổ phần giầy Cẩm Bình.
- Phần III: Một số giải pháp thúc đẩy thị trường tiêu thụ của công
ty cổ phần giầy Cẩm Bình.
I.KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN GIẦY CẨM
BÌNH.
1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phần giầy cẩm
bình
Công ty cổ phần giầy Cẩm Bình - Hải Dương từ 30/9/2000 trở về trước
là doanh nghiệp nhà nước được thành lập rất muộn( ngày 01/5/1988) so
với daonh nghiệp khác trong tỉnh, tiền than nó có tên gọi: “XÍ NGHIỆP
DỆT XUẤT KHẨU HẢI HƯNG” được tiếp quản trên nền tảng của
trường đảng tỉnh trước đây với diện tích 2.5 ha.

ngoài tỉnh cộng với sự lỗ lực của các cán bộ công nhân viên trong công ty
đã đưa công ty phát triển và tăng trưởng ngày càng lớn mạnh.
Giai đoạn IV:( 30/9/2000 đến nay).
thực hiện chủ trương đường lối của đảng , nhà nước về việc cổ phần hoá
các doanh nghiệp, đồng thời được sự chỉ đạo trực tiếp của UBND tỉnh.
đến ngày 30/9/2000, công ty lại một lần nữa mạnh dạn thực hiện cổ phần
hoá doang nghiệp( theo quyết định số: 2940/QĐ-UB ngày 25/9/2000 của
UBND tỉnh) vào thời kỳ này công ty lại đổi tên thành: "CÔNG TY CỔ
PHẦN GIẦY CẨM BÌNH” từ đó dến nay công ty liên tục đầu tư qui mô
sản xuất, nhập thêm nhiều máy móc hiện đại tiên tiến từng bước khép kín
công nghệ, mở rộng mặt bằng sản xuất, diện tich công ty từ 2.5 ha lên tới
5 ha. Từ chỗ chỉ có 1.323 lao động vào năm 2000 lên tới 1830 lao động
vào năm 2004, và 1748 lao động vào năm 2005 đã giải quyết tích cực
việc làm cho lao động trong tỉnh nói chung và 2 huyện nói riêng( Cẩm
Giàng và Bình Giang) nói riêng điều này đã góp phần tích cực vào việc
phát triển kinh tế của tỉnh nhà, và của địa bàn mà còn tích cực góp phầm
hạn chế các tệ nạ xã hội.
Nhìn chung cán bộ vônng nhân viên trong công ty luôn có việc làm ổn
định, đời sống người lao động luôn được đảm bảo cả về vạt chất lẫn tinh
thần, thu nhập bình quân đầu người của lao động hàng năm đạt 600.000đ/
người/tháng, đó là mức thu nhập khá trong khu vực. thêm vào đó là trong
mấy năm cổ phần hoá thì lợi tức được chia điều cho các cổ đông là 15%
mỗi năm, ngoài ra còn có tích luỹ để đầu tư mới từ 1.323 triệu đồng năm
2000 lên tới 9.300 triệu đồng năm 2003, từ chỗ nhà xưởng lúc đầu chỉ
có :6800m
2
đến nay là 21.340m
2
.tiếp tục tăng cường mở rộng thị
trường( cả trong nước và nước ngoài). Do đó cán bộ công nhân viên ngày

là ban giám đốc bao gồm: 1 Giám đốc, 2 phó giám đốc. Một điều kiện thuận
lợi của công ty là các thành viên trong hội đồng quản trị cũng chính là người
của công ty,chính điều này đã giúp cho việc ra quyết định quản lý một cách
nhanh chóng, kịp thời và đặc biệt là phù hợp với tình hình thực tế của công
ty.Dưới ban gián đốc có 9 phòng ban với các chức năng, nhiện vụ khác
nhau. Sơ đồ quản lý của công ty. + Chức năng các bộ phận trong công ty:
- Hội đông quản trị: Là bộ phận lãnh đạo cao nhất trong công ty, mọi sự
quyết định mang tính quan trọng quyết định đến sự phát triển của công ty.
Quyết định phải được sự chấp thuận của đa số ý kiến trong hội đồng quản
trị. Các thành viên trong hội đồng quản trị trong công ty chủ yếu là nguời
của công ty do đó việc ra quyết và điều hành công ty có phần thuận tiện hơn
vì phù hợp với điều kiện thực tế của công ty.
- Ban giám đốc: Là bộ phận thừa hành và thực thi các quyết định của hội
đồng quản trị, chịu trách nhiệm trước hội đồng quản trị. Giám đốc vừa là
người đại diện cho công ty, vừa đại diện cho các công nhân viên chức trong
công ty.
Các phó giám đốc: là những người tham mưu cho giám đốc về những vấn
đề như kỹ thuật, kinh doanh. Đồng thời các pho giám đốc cũng là người thay
mặt giám đốc trực tiếp phịu trách điều hành sản xuất các phân xưởng trong
công ty và chịu trách nhiệm trước giám đốc.
- Phòng kế toán: Phòng kế toán của công ty được đặt dưới sự lãnh đạo của
giám đốc công ty, trong đó đướng đầu là kế toán trưởng, các kế toán viên
được đặt dưới sự lãnh đạo của kế toán trưởng. Phòng kế toán có các chức
năng nhiệm vụ sau:

thuật, đổi mới kĩ thuật áp dụng vào sản xuất.
- Phòng KCS chịu sự lãmh đạo trực tiếp của phó giám đốc sản xuất, thực
hiện chức năng quản lý chất lượng thống nhất trong toàn công ty trên các
mặt, hoạch định thực hiện các nội dung của công tác quản lý chất lượng, khả
năng cạnh tranh và cải thiện vị trí của công ty trên thị trường trong nước và
thị trường nước ngoài, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty.
- Phòng cơ điện: Có nhiệm vụ điều hành quản lý giám sát hệ thống điện
trong công ty với mục đích đảm bảo an toàn trong sản xuất và an toàn cho cả
công nhân sản xuất, giúp cho hoạt động sản xuất một cách an toàn, nhịp
nhàng, điều đặn.
2. Đặc điểm quy trình công nghệ trong công ty.
Công ty cổ phần giầy cẩm bình công nghệ sản xuất giầy là qui trình phức
tạp chế biến liên tục không bị gián đoạn. Công ty cổ phần giầy cẩm bình sử
dụng nguyên liệu chủ yếu là các loại da( Da trắng, da đen, da vàng…) được
nhập từ Hàn Quốc. Còn một số vật liệu khác như: Tấm trang trí, đề can, đệm
đế, băng dính, vải, băng vải, bìa cao su, chỉ, giấy gói, hạt chống ẩm, hộp
đựng… một số phải nhập từ Hàn Quốc, một số thì công ty tìm mua trong
nước để tiết kiện chi phí.
Quy trình sản xuất giầy thể thao.
(nguồn:Công ty cổ phần giầy cẩm bình)
Danh mục máy móc trong công ty.
Phân xưởng may thêu
Danh m ục T ổng s ố
Máy bằng 1k 293
Máy Bằng 2k 60
Máy zíc z ắc 61
M y trụ 1k 96
Máy trụ 2k 549
Máy cắt nhẵn 4
Máy cắt qút 1

3. Đặc điểm nhân sự.
- Với số lượng công nhân là 1807 người được bố trí việc làm trong công ty,
trong đó:
Số lượng công nhân lao động gián tiếp là: 59 người.
Số lượng công nhân lao động trực tiếp là: 1748 người.
- Giới tính:
+ Nữ 1485 người chiếm 84.59% số lượng công nhân.
+ Nam 263 người chiếm 15,05% tổng số lao động trong công ty.
- Trình độ công nhân.
+ Đại học, cao đẳng 34 người chiếm 1.88% tổng số công nhân.
+ Trung cấp 25 người chiếm 1.38% tổng số lao động trong công ty
+ Công nhân bậc1: 334 người chiếm 18.48% tổng số lao đông trong công ty.
+ Công nhân bậc 2: 526 người chiếm 29.1% tổng số lao đông trong công ty.
+ Công nhân bậc3: 472 người chiếm 26.12% tổng số lao động trong công ty.
+ Công nhân bậc 4: 284 người chiếm 15.7% tổng số lao động trong công ty.
+ Công nhân bậc 5: 27 người chiếm 1.49% tổng số lao động trong công ty.
+ không bậc : 95 người chiếm 5.25% tổng số lao động trông công ty.

Bi?u đ? th? hi?n trình đ? công nhân
0
100
200
300
400
500
600
TC
CNB1
CNB2
CNB3

chất lượng và đơn giá tiền lương tính cho một đơn vị sản phẩm công việc ở
từng công đoạn:
ta có:
Lương sản phẩm = Số lượng sản phẩm hoàn thành x Đơn giá sản phẩm.
(đảm bảo chất lượng)
Tổng lương = lương sản phẩm + phụ cấp.
+ Trong đó số lượng sản phẩm hoàn thành bàn giao do thông kê theo dõi,
tổng hợp từ các tổ trưởng và ghi chép hàng ngày cuối tháng chuyển cho kế
toán phân xưởng để tính lương.
+ Đơn giá lưong được tính khác trong từng công đoạn, đơn giá này do
phòng tổ chức gửi xuống, thông thường đơn giá này cố định giữa cá tháng.
+ Các khoản phụ cấp:
- Phụ cấp chức vụ.
- Phụ cấp làm thêm.
Cuối tháng mới hoặc đầu tháng mới, căn cứ vào các bảng kê khối lượng
sản phẩm hoàn thành bàn giao( chi tiết cho từng công nhân, từng phân
xưởng) và đơn giá lương do phòng tổ chức gửi xuống, kế toán các xưởng
tiến hành tính lương cho công nhân trong phân xưởng mình sau đó gửi lên
phòng kế toán công ty. kế toán tiền lương tiến hành đối chiếu kiểm tra, nếu
không thấy sai sót thì đưa lên phòng tổ chức và lãnh đạo công ty duyệt sau
đó chuyển thủ quỹ phát lương cho công nhân.
Mỗi tháng kế toán căn cứ vào bẳng thanh toán lươngcủa các phân xưởng để
lập bảng tổng hợp thanh toán lương của toàn bộ công nhân viên. Cuối quí
căn cứ vào số lượng tổng hợp của từng tháng để tính ra tiền lương của cả
quý, từ đó lập bảng phân bổ tiền lương và BHXH.
Hiện nay, công ty thực hiện trích BHXH và BHYT 17% trên tổng số tiền
lương trả cho công nhân viên,trong đó: BHXH 15% và BHYT 2%, công ty
không thực hiện trích KPCĐ vào CPSX theo tỷ lệ 2% trên tiền lương phải
trả để lập quỹ KPCĐ cho người lao theo qui định.
Bảng tính tổng tiêu chuẩn phân bổ theo sản lượng thực tế

0
2.934.720.00
0
12.363.154.400
Bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm xã hội
Quí I/2005
Đơn vị tính: nghìn đồng
TK334 TK338
Lương
khoản
phụ
Cộng 334 338.3 (2%) 388.3 (15%) 338.4 (2%) cộng 338 Tổng cộng
TK 622 682.600,8 _ 682.600,8 13.652. 102.309,12 13.652,016 129.694,152 812.294,952
TK 627 51.522 _ 51.522 1.031,04 7..732,8 1.031,04 9.794,88 61.346,88
TK 642 178.266 _ 178.266 3.565,32 26.739,9 3.565,32 33.870,32 212.136,54
Cộng 912.418,8 912.418,8 18.248,376 137.862,820 18.248,376 173.359,572 1.085.778,372
( nguồn: Phòng kế toán công ty cổ phần giầy Cẩm Bình)
4. Đặc điểm về mặt hàng giầy.
Giầy là đồ dùng thiết yếu nó gắn liền với simh hoạt hàng ngày của con
người, nó có dụng bảo vệ đôi chân của con người,giúp con người thoải mái
khi di chuyển. Trong điều kiện ngày nay thì giầy dép còn là phương tiện
thẩm mỹ lam đẹp cho đôi chân của chung ta khi sử dụng nó. Chính vì vậy
mạ mặt hàng giầy dép rất đa dạng và phong phú, đáp ứng nhu cầu mọi thành
phần mọi lứa tuổi khác nhau, do vậy mặt hàng này được phân loại theo
nhiều dấu hiệu khác nhau:
- Phân loại theo công dụng có: giầy sinh hoạt, sản xuất, giầy thể thao,
giầy lễ hội.
- Phân loại theo lứa tuổi có: giầy người lớn, giầy trẻ em.
- Phân loại theo giới tính: giầy nữ, giầy nam.
- Phân loại theo kiểu dáng: giầy cao cổ, giầy thấp cổ, xăng đan

Bảng kết quả hoạt động sản xuất của công ty trong những năm qua.
Chỉ tiêu Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005
Tổng doanh thu 152.306 130.146 153.667,9
Trong đó:doanh thu hàng xuất
khẩu
150.644 128.296 150.106
-các khoản giản trừ 1 0 0
1.Doanh thu thuần 152.305 130.146 153.667,9
2.Giá vốn hàng bán 148.091 124.822 143.545,3
3.Lợi nhuận gộp 4.214 5.324 10.122,6
4.doanh thu hoạt động tài chính 0 0 0
5. Chi phi tài chính 0 0 0
6. Chi phi bán hàng 1.495 2.240 2688
7. Chi phí quản lý doanh
nghiệp.
2.204 2.176 2100
8. Lợi nhuân hoạt động kinh
doanh.
515 908 5334,6
9. Thu nhập khác 290 143 157,3
10. Chi phí khác 254 93 106,95
11. Lợi nhuận khác 36 50 55
12.Tổng lợi nhuận trước thuế 587 1008 5439,95
13.thuế thu nhập doanh nghiệp. 187.9 322.5 1740.784
14.lợi nhuận sau thuế 399,1 685,5 3699.166
(nguồn: Phòng kế toán công ty cổ phần giầy Cẩm Bình)
Theo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong 3 năm ta thấy tổng
doanh thu của năm 2003 thấp hơn năm 2002 là 22.160 triệu đồng, vì trong
năm 2003 trong năm có một khoản giảm trừ, mặt khác trong năm 2003 chi
phi bán hàng thấp hơn chi phi bán hàng của năm 2004. Điều này thể hiện

chiến lược cạnh tranh của mình. ngược lại trên thị trường cấp cao các doanh
nghiệp coi giá là là yếu tố khảng định những tính năng vượt trội, công dụng
của sản phẩm so với đối thủ cạnh tranh, ngoài ra các yếu tố khác như tỷ lệ
lạm phát, lãi suất tiết kiện, cơ cấu ngành cũng ảnh hưởng tới nhu cầu thực tế
của thị trường, nghĩa là ảnh hưởng tới nhu khả năng cung ứng của cônng ty.
Nó tác động mạnh mẽ tới tình hình sản xuất của công ty, lúc đó cần phải
xem xét sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào cho phù hợp, chủng loại như
thế nào. Ngày nay cả ở việt nam cũng như ở các nước khác trên thế giới thì
thu nhập cá nhân của mức dân cư ngày càng cao, do đó khả năng tiêu dùng
cho các mặt hàng thiết yếu, cũng như các mặt hàng tiêu dùng ngày càng
cao,ngày một lớn, song mức cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng nghành
ngày càng gay gắt, khốc liệt cả trên thị trường trong nước lẫn thị trường
nước ngoài, điều này đòi hỏi doanh nghiệp cần phải xem xét một cách kỹ
lượng các yếu tố tác động tới khả năng phát triển thị trường của doanh
nghiệp để ra một quyết định đúng đắn nhất cho công ty.
1.2. Các nhân tố thuộc môi trường chính trị.
Các ảnh hưởng của hệ thống chính trị, luật pháp thường làm giảm tính
cạnh tranh thuần tuý trong các cuộc cạnh tranh trên thị trường cả thị trường
trong nước và thị trường nước ngoài, đặc biệt là khi mở rộng thị trường sang
một nước nào đó thì doanh nghiệp cần phải cân nhắc một số vấn đề sau:
- Thái độ của chính phủ đối với các nhà kinh doanh nước ngoài. Nếu chính
phủ có thái độ khuyến khích các nhà doanh nghiệp thì các doanh nghiệp sẽ
giảm bớt được các chi phí về tiền bạc, thời gian cho những thủ tục hành
chính phức tạp, không những thế doanh nghiệp còn nhận được sự hỗ trợ của
chính phủ về mặt vật chất như là: Thuế nhập khẩu, thuế chuyển về nước,
thông tin...
- Sự ổn định về chính trị: Ở các nước mà sự ổn định về chính trị không
được đảm bảo thì khách hàng sẽ dè dặt hơn trong tiêu dùng. Doanh nghiệp
sẽ gặp phải cầu khống hoặc cầu thoái trong các phân tích hay dự báo về cầu
của công ty. Hơn nữa, độ rủi ro cao trong chính trị thường khiến các doanh

Ngoài các luật của mỗi quốc gia, công ty cũng phải hiểu rõ các nguyên
tắc của luật quốc tế, các hệ thống luật quốc tế chi phối tới hoạt động xuất
khẩu của công ty, cũng như nhập khẩu. Luật quốc tế bao gồm công ước, hiệp
điịnh, tập quán thương mại quốc tế. Do vậy để đảm bảo khả năng thâm nhập
thị trường của doanh nghiệp thì doanh nghiệp cần phải xem xét tất cả các
luật có liên quan tới thị trường mà doanh nghiệp đang đầu tư, hoặc chuẩn bị
đầu tư. Đặc biệt doanh nghiệp cần phải chú trọng tới vấn đề xung đột pháp
luật( có nhiều nguồn luật có thể được viện dẫn để điều chỉnh một quan hệ
pháp luật phát sinh) Vì vậy việc lựa chọn bộ luật dẫn chiếu, lựa chọn toà án
giải quyết tranh chấp... cũng là những nội dung cần thiết khi chuẩn bị đầu tư
vào một thị trường nào đó.
1.4. Các nhân tố thuộc môi trường văn hoá.
Mỗi quốc gia đều có những tập tục riêng, giá trị văn hoá và những chuẩn
mực riêng. Tất cả các yếu tố này qui định thái độ, hành vi tiêu dùng của
công chúng. Mặc dù ngày nay có sự hội nhập của các nền kinh tế, cả về văn
hoá doanh nghiệp cũng chỉ thành công trong việc biến đổi các giá trị văn hoá
thứ phát bằng nghệ thuật thuyết phục của mình. Các giá trị văn hoá thứ phát
khi thay đổi sẽ tạo ra các cơ hội thị trường hoặc các khuynh hướng tiêu
dùng mới. Khai thác điểm này đòi hỏi doanh nghiệp phải tăng cường công
tác nghiên cứu thị trường, nhiên cứu khách hàng để đưa ra các sản phẩm phù
hợp. Thậm chí các chương trình quảng cáo, khuyếch trương của doanh
nghiệp còn phải làm nhiện vụ định hướng khuynh hướng tiêu dùng của
khách hàng. Đối với các giá tri văn hoá cốt lõi thì doanh nghiệp nên định
hướng sản phẩm của mình theo những giá trị văn hoá truyền thống hơn là
thay đổi nó.
Nhìn chung yếu tố văn hoá ảnh hưởng rất lớn tới sản phẩm được tiêu thụ
và các hoạt động xúc tiến của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần phải cân
nhắc xem những thay đổi nào cho sản phẩm là cần thiết, các sản phẩm nào,
mẫu mã nào, chất lượng nào sẽ làm nổi bật và thuyết phục được khách hàng.
Đối với một doanh nghiệp hoạt động tại nhiều thị trường khác nhau các

đôi
750 150.890 46.168
Giầy người
lớn da thật
- 500 150.249 66.870
Giầy trẻ em - - 565.795 61.140
(nguồn: Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh của công ty)
Qua biểu đồ ta thấy sản phẩm của công ty sản xuất các loại giầy thể thao
người lớn giả da có phần giảm điều đó là do thị trường xuất khẩu của công
ty về mặt hàng này giảm. Tuy nhiên giầy thể thao người lớn da thật có xu
hướng tăng, năm 2003 công ty mới sản xuất và xuất khẩu được 500 nghìn
đôi, nhưng năm 2004 sản xuất và xuất khẩu được là 150249 đôi đây là mặt
hàng sản xuất và cũng là mặt hàng xuất khẩu chủ yêú của công ty vì nhu cầu
thị trường của sản phẩm này rất lớn và phong phú. Trong khi đó mặt hàng
giầy thể thao trẻ em cũng là mặt hàng có tiền năng phát triển, cả giầy thể
thao người lớn và giầy thể thao trẻ em có thị trường xuất khẩu tiềm năng rất
lớn cả ở trong nước và nước ngoài.
2.2. Đặc điểm nhân sự.
Như chúng ta đã biết, sản xuất giầy dép là loại hình sản xuất mùa vụ, làm
theo đơn đặt hàng. Chính vì vậy mà vào những tháng có đơn hàng hoặc theo
mùa vụ thì đòi hỏi số lượng công nhân cao hơn để đáp ứng được các đơn
hàng, và ftheo yêu cầu của sản xuất. Do vậy số lượng lao động trong công ty
có sự thay đổi, vào những tháng có đơn đặt hàng, mùa vụ thì ngoài số lượng
công nhân biên chế trong công ty thì doanh nghiệp còn thêu thêm lao động
bên ngoài để đảm bảo tiến độ sản xuất, giao hàng đúng thời hạn cho khách
hàng.
Việc tăng giảm lao động trong công ty là vấn đề khó khăn đối với các cấp
quản lý trong công ty vì khi đó đòi hỏi trình độ tay nghề của công nhân viên

Trích đoạn Dự báo về thị trường Đẩy mạnh côngtác nghiên cứu thị trường Phân đoạn thị trường
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status