Luận văn
Giải pháp phát triển dịch vụ
ngân hàng tại Chi nhánh
ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn
Thăng Long
DANHMỤCCÁCTỪVIẾTTẮT
ABC : Ngân hàng thương mại Cổ phần Á Châu
BHXH : Bảo hiểm xã hội
Chi nhánh Thăng Long : Chi nhánh NHN
0
& PTNT Thăng Long
DNNN : Doanh nghiệp Nhà nước
DNNQD : Doanh nghiệp Nhà nước ngoài quốc doanh
DTBB : Dự trữ bắt buộc
ĐT & PT : Đầu tư và phát triển
EUR : Đồng tiền chung Châu Âu
NH : Ngân hàng
NHNN : Ngân hàng Nhà nước
NHTM : Ngân hàng thương mại
NHN
O
: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn
NHN
0
& PTNT VN : Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông
thôn Việt Nam
TCTD : Tổ chức tín dụng
quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng, là một trong những thành tố quan
trọng để quyết định đến khả năng sinh lời, độ phân tán rủi ro, vị thế, uy tín và
sự thành công của ngân hàng. Do đó, việc thường xuyên cải tiến, mở rộng và
nâng cao chất lượng dịch vụ luôn là mối quan tâm hàng đầu của hầu hết các
ngân hàng thương mại.
Chi nhánh NHN
0
& PTNT Thăng Long là một ngân hàng lớn nằm trên
địa bàn Hà Nội, trực thuộc hệ thống NHN
0
& PTNT Việt Nam, với lợi thế về
mạng lưới hoạt động rất thuận lợi trong việc triển khai các dịch vụ. Tuy nhiên
dịch vụ của chi nhánh còn nghèo nàn, đơn điệu, chưa hấp dẫn, tính tiện ích
chưa cao, chưa tạo thuận lợi và cơ hội bình đẳng cho các khách hàng. Do vậy,
đã làm hạn chế khả năng cạnh tranh, thu hút khách hàng vàảnh hưởng đến kết
quả kinh doanh của chi nhánh. Là người trực tiếp triển khai thực hiện các dịch
vụ ngân hàng tại chi nhánh NHN
0
& PTNT Thăng Long do vậy tôi chọn đề
tài: "Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng tại Chi nhánh ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn Thăng Long" làm luận án thạc sỹ kinh tế,
chuyên ngành Tài chính, lưu thông tiền tệ và tín dụng.
2. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Một là: Nghiên cứu các dịch vụ ngân hàng để thấy được vai trò của
nóđối với sự phát triển của ngân hàng.
Hai là: Từ việc nghiên cứu thực trạng phát triển các dịch vụ ngân hàng
tại chi nhánh NHN
0
& PTNT Thăng Long để rút ra những mặt được và hạn
chế trong phát triển dịch vụ ngân hàng và tìm hiểu nguyên nhân của những
Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ tại chi nhánh Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thăng Long
Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ tại chi nhánh Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thăng Long.
CHƯƠNG 1
TỔNGQUANVỀPHÁTTRIỂNDỊCHVỤ
NGÂNHÀNGTHƯƠNGMẠI
1.1. DỊCHVỤNGÂNHÀNGVÀSỰPHÁTTRIỂNDỊCHVỤNGÂNHÀNG
1.1.1. Khái niệm vàđặc điểm dịch vụ ngân hàng
1.1.1.1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng
Dịch vụ là một quá trình hoạt động. Quá trình đó diễn ra theo một trình
tự bao gồm nhiều khâu, nhiều bước khác nhau. Mỗi khâu, mỗi bước có thể là
những dịch vụ nhánh hoặc dịch vụđộc lập. Mỗi loại dịch vụ mạng lại cho
người tiêu dùng một giá trị nào đó. Giá trị của dịch vụ gắn liền với lợi ích mà
họ nhận được. Nó có quan hệ mật thiết với lợi ích tìm kiếm vàđộng cơ thực
hiện dịch vụ.
Ngân hàng thương mại là một tổ chức tài chính thực hiện toàn bộ hoạt
động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với hoạt động chủ yếu là nhận
tiền gửi, sử dụng chúng để cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Nói đến ngân hàng thương mại người ta nghĩ ngay đến những dịch vụ
gửi tiền, cho vay và thanh toán. Tuy nhiên, ngày nay dịch vụ ngân hàng được
mở rộng rất nhiều, ngoài những dịch vụ truyền thống còn có các dịch vụ
"mới" được phát hiện từ dịch vụđã có và các dịch vụ ngân hàng hiện đại. Sản
phẩm của ngân hàng thương mại được hiểu là những dịch vụ mà ngân hàng có
thể tạo ra để cung cấp theo nhu cầu của khách hàng. Vậy dịch vụ của ngân
hàng thương mại là gì? có thểđịnh nghĩa về dịch vụ ngân hàng thương mại
hay gọi tắt là dịch vụ ngân hàng như sau:
Dịch vụ ngân hàng là toàn bộ các hoạt động mà một ngân hàng có thể
Các dịch vụ ngân hàng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Sự ra đời và
phát triển dịch vụ này là cơ sởđể có sự ra đời và phát triển dịch vụ kia và
ngược lại. Ngân hàng không thể phát triển dịch vụ tín dụng mà không đẩy
mạnh dịch vụ thanh toán, phát triển dịch vụ thanh toán không thể không phát
triển dịch vụ mua bán ngoại tệ. Hoặc ngân hàng không thể phát triển dịch vụ
phát hành thẻ tín dụng mà không mở rộng cho vay… có mối quan hệ chặt chẽ
này đã rạo ra một hệ thống hỗ trợ giữa các dịch vụ trong sự phát triển các dịch
vụ ngân hàng. Nhờ khai thác mối quan hệ này mà ngân hàng có một sự phát
triển dịch vụ bền vững, phát huy mạnh mẽ tính hệ thống của dịch vụ và có thể
cung cấp dịch vụ trọn gói cho khách hàng.
Năm là, dịch vụ mang lại thu nhập cho NH thông qua phí dịch vụ
Thu nhập của ngân hàng hình thành từ phí dịch vụ nói chung, có những
dịch vụ làm tăng thu nhập của ngân hàng một cách trực tiếp như: Lãi cho vay,
phí mua bán ngoại tệ, phí chuyển tiền, phí mở và thanh toán L/C… Tuy
nhiên, cũng có những dịch vụ mà ngân hàng không thu từ khách hàng mà chỉ
thông qua dịch vụđóđể lôi kéo khách hàng, tăng sức cạnh tranh với các ngân
hàng khác hoặc không qua dịch vụđó làm tăng thu nhập từ các dịch vụ khác.
Nắm được các đặc điểm trên của dịch vụ, ngân hàng có thể khai thác,
đa dạng hoá dịch vụ của mình, từđó có thể làm thoả mãn nhu cầu của khách
hàng, nâng cao khả năng cạnh tranh của mình trên thị trường trong nước và
quốc tế.
1.1.2. Các tiêu chíđánh giá sự phát triển dịch vụ của NHTM
1.1.2.1. Khái niệm về phát triển dịch vụ ngân hàng
Phát triển dịch vụ ngân hàng là việc mở rộng số lượng và nâng cao chất
lượng các dịch vụ ngân hàng nhằm làm thoả mãn ngày càng tốt nhu cầu của
khách hàng, trên cơ sởđảm bảo các mục tiêu của ngân hàng.
Phát triển dịch vụ ngân hàng là một nhiệm vụ và mục tiêu quan trọng
của các ngân hàng thương mại. Vậy phát triển dịch vụ ngân hàng theo hướng
nào? Theo các chuyên gia ngân hàng thì phát triển theo hướng hoàn thiện
vànâng cao chất lượng các dịch vụ hiện có phù hợp với sự thay đổi của thị
mạnh phát triển nó ra sao.
Năm là, sự tăng trưởng của thu nhập dịch vụ.
Đây là con số tương đối thể hiện hiệu quả của việc phát triển dịch vụ
ngân hàng. Đực các ngân hàng sử dụng đểđánh giá sự phát triển của dịch vụ
ngân hàng qua các thời kỳ.
1.1.3. Các dịch vụ NH và tình hình phát triển dịch vụ NH tại Việt Nam
1.1.3.1. Các dịch vụ ngân hàng thương mại
Theo thống kê của Ngân hàng thế giới thì hiện nay có tới 6.000 dịch vụ
ngân hàng. Tuy nhiên, số lượng dịch vụ ngân hàng còn phụ thuộc vào sự phân
chia các dịch vụ ngân hàng theo tiêu thức nào. Phân chia các tiêu thức khác
nhau sẽ có sự giao thoa giữa các nhóm dịch vụ, ví dụ thẻ tín dụng cũng có thể
coi thuộc nhóm dịch vụ thanh toán nhưng cũng có thể coi là thuộc nhóm dịch
vụ tín dụng. Do vậy, việc kể tên các dịch vụ hay nhóm dịch vụ ngân hàng
cũng chỉ là tương đối, có thể kể một số dịch vụ của ngân hàng như sau:
Dịch vụ nhận tiền gửi
Ngân hàng cung cấp dịch vụ nhận tiền gửi để bảo quản hộ người có tiền
với cam kết hoàn trảđúng hạn. Dịch vụ nhận tiền gửi được thực hiện theo hai
cách, đó là: nhận tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán và tiền gửi khác. Đây
là nguồn hình thành nên nguồn vốn kinh doanh quan trọng của ngân hàng.
Trong cuộc cạnh tranh để giành được các khoản tiền gửi, các ngân hàng đã trả
lãi cho tiền gửi như là phần thưởng cho khách hàng về việc sẵn sàng hy sinh
nhu cầu tiêu dùng trước mắt và cho phép ngân hàng sử dụng tạm thời để kinh
doanh. Hơn thế, ngân hàng nào cũng tìm vàđưa ra những điểm được coi là thế
mạnh của mình để thu hút nguồn tiền gửi, tạo sức hấp dẫn đối với người gửi
tiền. Có những ngân hàng tăng lãi suất tiền gửi, hay tạo ra những sản phẩm
phụđi kèm làm quà tặng cho những người gửi tiền, như: Vàng, sổ xố, quà tặng
có giá trị khác…
Thông qua hoạt động nhận tiền gửi, ngoài việc đảm bảo khả năng thanh
toán, chi trả, ngân hàng đã thu được khá nhiề phần lời về mình bởi cơ sở của
dòng ngân quỹ trong thời gian tới.
Cho vay trả góp: là hình thức cho vay theo đó ngân hàng cho khách
hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận.
Cho vay gián tiếp: Đây là hình thức cho vay thông qua các tổ chức
trung gian như: tổ vay vốn, hội vay vốn, nhóm vay vốn…. Hội cựu chiến
binh, hội nông dân, hội phụ nữ.
Dịch vụ thanh toán
Ngoài các dịch vụ nhận tiền gửi và cho vay, ngân hàng còn thực hiện
dịch vụ thanh toán hộ nhằm đáp ứng nhu cầu của sự phát triển kinh tế. Khi
các doanh nhân gửi tiền vào ngân hàng, họ nhận thấy ngân hàng không chỉ
bảo quản mà còn thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng của họ. Việc
thanh toán qua ngân hàng đã mởđầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, tức
là người gửi tiền không cần phải đến ngân hàng để lấy tiền mà chỉ cần viết
giấy chi trả cho khách. Các tiện ích của thanh toán không dùng tiền mặt này là
an toàn, nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm chi phí, hạn chế lượng tiền mặt
trong lưu thông, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể kinh tế phát triển hoàn
thành tốt chức năng của mình. Cùng với sự phát triển của dịch vụ thanh toán
là sự ra đời của các dịch vụ khác mà các Ngân hàng không ngừng khai thác để
mở rộng phạm vi kinh doanh của mình. Trước hết là dịch vụ mở tài khoản
giao dịch cho khách hàng. Việc đưa ra loại tài khoản tiền gửi được xem là
một bước đi quan trọng nhất trong công nghiệp ngân hàng. Công nghệ thông
tin phát triển đã thúc đẩy sự ra đời và phát triển nhiều hình thức thanh toán
khác như: Nhờ thu, Uỷ nhiệm chi, thanh toán bằng thư tín dụng chứng
từ(L/C), thanh toán bằng điện, thẻ thanh toán…. Những dịch vụ này giúp cho
nền kinh tế hoạt động một cách linh hoạt và sôi động hơn.
Dịch vụ mua bán ngoại tệ (Dịch vụ ngoại hối)
Một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi
(mua bán) ngoại tệ. Đó là một ngân hàng đứng ra mua bán một loại tiền này
lấy một loại tiền khác và hưởng phí dịch vụ. Thông qua dịch vụ mua bán
ngoại tệ, một mặt ngân hàng cung cấp ngoại tệ cho khách hàng để thanh toán,
hàng tương ứng với giá trị của thương phiếu trừđi phần thu nhập của ngân
hàng để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn (hoặc một giấy nhận nợ). Về
mặt pháp lý thì ngân hàng không phải đã cho vay đối với chủ thương phiếu.
Đây chỉ là hình thức trao đổi trái quyền. Tuy nhiên đối với ngân hàng, việc bỏ
tiền ra hiện tại sẽ thu được một khoản lớn hơn trong tương lai với lãi suất xác
định cho trước.
Dịch vụ uỷ thác
Từ nhiều năm nay, các Ngân hàng đã thực hiện việc quản lý tài sản và
quản lý hoạt động tài chính cho cá nhân và doanh nghiệp thương mại. Theo
đó, Ngân hàng sẽ thu phí trên cơ sở giá trị của tài sản hay quy mô vốn họ
quản lý. Chức năng quản lý tài sản này được gọi là "dịch vụ uỷ thác". Hầu hết
các Ngân hàng đều cung cấp dịch vụ uỷ thác với các hình thức đó là: uỷ thác
cá nhân, hộ gia đình và uỷ thác thương mại cho các doanh nghiệp.
Thực hiện dịch vụ uỷ thác mang lại cho ngân hàng một số lợi thế như
bổ sung cho ngân hàng một nguồn thu nhập khá lớn từ thu lệ phí và hoa hồng
uỷ thác hàng năm. Ở các nước phát triển khoản thu nhập này xấp xỉ 10% thu
nhập của ngân hàng. Thông qua hoạt động uỷ thác ngân hàng có thể củng cố
và duy trì tốt mối quan hệ với khách hàng. Do vậy, nhiều ngân hàng coi đây là
chìa khoá mở ra hướng hoạt động mới trong tương lai.
Dịch vụ bảo quản vật có giá
Các ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng và các vật có giá khác cho
khách hàng trong kho bảo quản. Ngân hàng giữ vàng và giao cho khách tờ
biên nhận. Do khả năng chi trả bất cứ lúc nào cho giấy biên nhận, nên giấy
chứng nhận đãđược sử dụng như tiền, dùng để thanh toán các khoản nợ trong
phạm vi ảnh hưởng của ngân hàng phát hành. Lợi ích của việc sử dụng
phương tiện thanh toán bằng giấy thay cho bằng kim loại đã khuyến khích
khách hàng gửi tiền vào ngân hàng để lấy giấy chứng nhận của ngân hàng. Đó
là hình thức đầu tiên của giấy bạc ngân hàng. Ngày nay, vật có giáđược tách
khỏi tiền gửi và khách hàng phải trả phí bảo quản.
Dựa vào đó họ có cơ sởđể dựđoán được những diễn biến của tình hình kinh
doanh - xã hội… Kết quả là họ có thể xây dựng những phương án tối ưu, hoặc
có những quyết định kịp thời trong đầu tư, sản xuất kinh doanh. Từđó họ có
thể giảm thiểu được rủi ro hay thiệt hại vàđạt được mức lợi nhuận tối đa.
Ngân hàng còn thực hiện các dịch vụ ngân hàng hiện đại như: dịch vụ
ATM, dịch vụ home-banking, e-banking, phone-banking, dịch vụ ngân hàng
trực tuyến, dịch vụ thẻ…. Đây là những sản phẩm của công nghệ hiện đại,
chúng mang lại tiện ích cao cho khách hàng vàđang được khách hàng ưa
chuộng.
Dịch vụ Home Banking và E-Banking và Phone Banking là những
dịch vụ ngân hàng giúp cho khách hàng là tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng và
các khách hàng khác không cần phải tới ngân hàng mà vẫn có thể thực hiện
giao dịch với ngân hàng, tiết kiệm được chi phí, thời gian đi lại. Hiện tại đã có
rất nhiều tổ chức đã sử dụng dịch vụ này để xem số dư tài khoản, in sao kê tài
khoản, thực hiện uỷ nhiệm chi, trả lương và mua bán ngoại tệ.
Dịch vụ ngân hàng trực tuyến hay còn gọi là cây cầu thu hẹp mọi
khoảng cách không gian vàđịa lý. Nóđược xây dựng trên nền tảng công
nghệcao với tiện ích đặc trưng là cho phép khách hàng mở tài khoản một nơi
nhưng được giao dịch tại bất kỳđiểm gao dịch nào của ngân hàng trên toàn
quốc.
Dịch vụ rút tiền tựđộng bằng thẻ ATM, và ghi nợ bằng thẻ tín dụng.
Hệ thống ATM và thẻ tín dụng và một bước đột phá nhằm thay đổi thói quen
của người tiêu dùng, từ việc giữ tiền mặt chuyển sang mở tài khoản và giữ
tiền tại ngân hàng. Với chuẩn mực quốc tế và khả năng cho phép liên kết với
các ngân hàng khác, giao dịch 24/24.
Ngân hàng thực hiện dịch vụ môi giới bất động sản.
Ngân hàng thực hiện dịch vụ tài trợ cho các hoạt động của Chính Phủ.
Với khả năng huy động và cho vay với khối lượng lớn của ngân hàng
đã trở thành trọng tâm chúý của các Chính Phủ. Do nhu cầu chi tiêu lớn và
thường là cấp bách trong khu thu không đủ, Chính Phủ các nước đều muốn
thu nhập lớn, chiếm hơn 60% tổng thu nhập của ngân hàng. Chính vì vậy, khi
Hiệp định thương mại Việt Mỹ có hiệu lực thì thách thức trong các ngành
dịch vụ nói chung và dịch vụ ngân hàng nói riêng đối với Việt Nam là hết sức
to lớn.
Hiệp định thương mại Việt Mỹđược xem là thử thách đầu tiên, có tầm
quan trọng đặc biệt đối với quá trình hội nhập Quốc tế. Các ngân hàng Hoa
Kỳđang từng bước tham gia vào mọi lĩnh vực hoạt động ở Việt Nam. Theo
cam kết của Hiệp định, các nhà cung cấp dịch vụ tài chính Hoa Kỳđược phép
cung cấp 12 phần ngành dịch vụ, bao gồm:
(1) Nhận tiền gửi.
(2) Cho vay dưới mọi hình thức, bao gồm tín dụng tiêu dùng, tín dụng
thế chấp, bao tiêu và các giao dịch thương mại khác.
(3) Thuê mua tài chính
(4) Tất cả giao dịch thanh toán, chuyển tiền, bao gồm thẻ tín dụng ghi
nợ, báo nợ, séc du lịch và hối phiếu ngân hàng.
(5) Bảo lãnh và cam kết,
(6) Môi giới tiền tệ,
(7) Quản lý tài sản như quản lý tiền mặt, quản lý danh mục đầu tư, mọi
hình thức quản lýđầu tư tập thể, quản lý dự trữ, quản lý quỹ hưu trí, các dịch
vụ trông coi bảo quản, lưu giữ và uỷ thác.
(8) Dịch vụ thanh quyết toán đối với các tài sản tài chính bao gồm
chứng khoán, sản phẩm tài chính phát sinh các công cụ thanh toán khác.
(9) Cung cấp và chuyển thông tin tài chính và xử lý dữ liệu tài
chính,các phần mềm của các nhà cung cấp các dịch vụ tài chính khác
(10) Tư vấn, trung gian môi giới và các dịch vụ tài chính
(11) Buôn bán trên tài khoản của mình hay của khách hàng tại Sở giao
dịch chứng khoản, trên thị trường chứng khoán không chính thức hay trên các
thị trường khác.
(12) Tham gia phát hành mọi loại chứng khoán.
Trong số 12 phân ngành này có một số loại hình dịch vụ trùng với hoạt
Đặc biệt làđòi hỏi thoả mãn các dịch vụ ngân hàng ngày một cao hơn như các
nhu cầu về tài chính, tiền tệ, thanh toán… để có thể phục vụ sản xuất, kinh
doanh, đời sống của công chúng một cách tốt nhất.
Ngoài mong muốn được sử dụng các dịch vụ của ngân hàng, khách
hàng còn mong muốn được sử dụng dịch vụ với chất lượng cao, công nghệ
hiện đại đáp ứng nhu cầu về tài chính tiền tệ của họ một cách nhanh nhất,
chính xác, an toàn, bảo mật. Do vậy, phát triển các dịch vụ ngân hàng với chất
lượng cao sẽđáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.
Cho tới thời điểm hiện nay, các NHTM Việt Nam chưa có hoạt động
nghiên cứu thị trường tổng thể nào để có những căn cứ sát thực về nhu cầu
của thị trường đối với các dịch vụ ngân hàng. Tuy nhiên, đa số các dịch vụ
mới ra đời đều được khách hàng chấp nhận. Chẳng hạn như: các dịch vụ ngân
hàng hiệđại như dịch vụ e-Banking, home-banking, phone-Banking, dịch
vụngân hàng trực tuyến của ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, phát hành thẻ
ghi nợ quốc tế Visa Electron của ngân hàng Á Châu; thẻ ATM của NHN
0
&
PTNN Việt Nam, đều được thị trường chấp nhận nhanh chóng và mang lại
cho các ngân hàng này những lợi thế cạnh tranh vìđã cung ứng cho khách
hàng những sản phẩm ngân hàng hiện đại và có nhiều tiện ích.
1.1.2. Từ yêu cầu phát triển của ngân hàng thương mại
Thứ nhất là phát triển các dịch vụ ngân hàng sẽ cho các NHTM đáp
ứng tốt các nhu cầu của thị trường.
Thứ hai là phát triển dịch vụ ngân hàng làm tăng khả năng cạnh tranh.
So với các ngành kinh tế khác, ngành ngân hàng có dịch vụ khá bảo
thủ, dễ bắt chước. Trong thực tiễn, những sản phẩm, dịch vụ của một ngân
hàng rất dễ bị ngân hàng khác sao chép và như vậy ưu thế cạnh tranh dễ bị
mất đi. Nếu ngân hàng tạo niềm tin cho khách hàng bằng cách trang trí nội
thất đẹp, tạo bầu không khí vui vẻ thoải mái khi giao dịch khách hàng. Một
thời gian ngắn sau tất cả các ngân hàng đều thực hiện được điều đó. Khi đó
1.2.3. Từ yêu cầu của hội nhập khu vực và quốc tế
Hội nhập kinh tế khu vực và thế giới sẽ mang lại cho các NHTM Việt
Nam nhiều cơ hội song cũng nhiều thách thức, đặc biệt là thách thức về sức
ép cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng với các ngân hàng nước
ngoài. Dịch vụ ngân hàng trong nước còn nghèo nàn, tính tiện ích chưa cao,
không tạo sự hấp dẫn đối với khách hàng nên đã làm hạn chế khả năng cạnh
tranh của các NHTM Việt Nam. Do vậy, để có thể tự tin tham gia vào thị
trường khu vực và quốc tế nâng cao khả năng cạnh tranh, không còn cách nào
khác là các NHTM Việt Nam phải nhanh chóng tìm các giải pháp phát triển
các dịch vụ ngân hàng.
1.3. NHỮNGNHÂNTỐẢNHHƯỞNGĐẾNPHÁTTRIỂNDỊCHVỤNGÂNHÀNG
1.3.1. Ngân hàng chủ quan
Định hướng chiến lược phát triển dịch vụ của ngân hàng
Cơ sở lý luận đã chỉ ra rằng bất kỳ một tổ chức nào hoạt động cũng
phải có mục tiêu rõ ràng. Đểđạt được mục tiêu đó cần phải có một chiến lược
cụ thể. Bởi chiến lược là một kế hoạch hành động được vạch ra nhằm đạt
được một số mục tiêu cụ thể. Nếu không cóđược một chiến lược dài hơn với
những bước đi cụ thể ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng lúng túng, bịđộng và dễ
mất phương hướng. Do vậy, phải xây dựng một chiến lược phát triển dịch vụ
ngân hàng đểđảm bảo rằng việc phát triển dịch vụ ngân hàng có kế hoạch dài
hạn, không phải là những hoạt động rời rạc, tuỳ tiện, tạo ra thế chủđộng trong
hoạt động ngân hàng. Định hướng phát triển dịch vụ ngân hàng phải bám sát
vào nhu cầu của thị trường từng địa bàn hoạt động và nhằm khai thác được tối
đa nguồn lực, ưu thế cạnh tranh của mỗi ngân hàng vàđạt được mục tiêu của
ngân hàng.
Vốn đầu tư
Vốn đầu tư làđiều kiện đầu tiên và quan trọng nhất đối với ngân hàng
trong việc đầu tưđổi mới công nghệ, trang thiết bị nhằm phát triển dịch vụ
ngân hàng
Cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ của Ngân hàng
trọng. Cùng một điều kiện về cơ sở vật chất như nhau nhưng dịch vụ ngân
hàng cung cấp bởi những nhân viên ngân hàng khác nhau sẽ có chất lượng
khác nhau và mức độ thoả mãn dịch vụ ngân hàng của khách hàng là khác
nhau. Một ngân hàng với điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật cao, đội ngũ cán bộ
nhân viên có kiến thức chuyên sâu, tinh thông nghề nghiệp, có phẩm chất tốt,
sẽ thu hút được khách hàng và làđiều kiện cơ bản để có thể mở rộng và phát
triển các dịch vụ ngân hàng.
Hoạt động Marketing ngân hàng Cơ sở lý luận đã chỉ ra rằng Marketing
không chỉ làđáp ứng tốt nhất những mong muốn của khách hàng mà còn có
lợi cho ngân hàng. Marketing quan tâm đến mục tiêu cuối cùng là lợi ích của