BỘ CÔNG THƯƠNG
Dự án hỗ trợ thương mại đa biên EU – Việt Nam
Hoạt động CB - 2A “Hỗ trợ Bộ Công Thương xây dựng
chiến lược phát triển xuất nhập khẩu thời kỳ 2011 - 2020 Báo cáo chuyên đề CÁC QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN
XUẤT NHẬP KHẨU THỜI KỲ 2011 – 2020 Thực hiện chuyên đề: PGS.TS Trần Công Sách
Viện Nghiên cứu thương mại – Bộ Công Thương
kinh tế - xã hội 2011 – 2020, chuyên đề nghiên cứu: “Quan điểm
Chiến lược phát triển xuất nhập khẩu thời kỳ 2011 – 2020” được
xây dựng để cung cấp luận cứ khoa học cho việc xác định các quan
điểm chỉ đạo Chiến lược phát triển xuất nhập khẩu thời kỳ 2011 –
2020.
Nội dung chuyên đề được trình bày thành 3 phần: 2
I. Một số hạn chế, thách thức đối với phát triển kinh tế và phát
triển xuất nhập khẩu của Việt Nam trong hội nhập quốc tế.
II. Dự báo bối cảnh quốc tế và trong nước tác động đến phát
triển xuất nhập khẩu thời kỳ tới
III. Các quan điểm phát triển xuất nhập khẩu thời kỳ 2011-2020
Dưới đây là nội dung chuyên đề:
nguyên và dựa vào nhập khẩu nên xuất khẩu tăng nhanh dẫn đến thâm dụng tài
nguyên, cạn kiệt tài nguyên và nhập siêu tăng cao, ảnh hưởng tới các cân đối
vĩ mô. Điều đó cũng đồng nghĩa với phát triển không bền vững.
+ Tư tưởng thụ động, thiếu tính chủ động, tích cực trong HNQT nên
không nâng cao được năng lực độc lập tự chủ trong hoạt động HNQT; khi thời
cơ đến không kịp thời đón bắt để vượt lên phát triển nhanh, hoặc gặp khó khăn
thì chán nản để mất tự chủ. Điều đó dẫn đến tư tưởng muốn duy trì bảo hộ cao
4
cho các ngành thay thế nhập khẩu, cản trở tự do hóa và không chú trọng nâng
cao sức cạnh tranh để vươn ra thị trường nước ngoài, hướng về xuất khẩu.
+ Tư tưởng mơ hồ hoặc nhận thức chưa đúng về HNQT, gia nhập
WTO của Việt Nam; coi đó là mục tiêu chứ không phải là cách thức phát triển;
hoặc đó là cơ hội nhiều, thách thức ít… nên thiếu quyết tâm, nỗ lực sáng tạo
để tăng cường năng lực độc lập tự chủ để vượt qua thách thức, tận dụng cơ hội
nhằm phát triển nhanh hơn.
- Nền kinh tế phát triển theo chiều rộng, tăng trưởng dựa vào khai thác tài
nguyên là chủ yếu, mới khai thác lợi thế so sánh mà ít dựa vào lợi thế cạnh
tranh, chưa chuyển mạnh lên khai thác kỹ thuật để phát triển theo chiều sâu,
tăng năng suất lao động, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm. Tỉ lệ khai thác
năng lượng trong tổng thu nhập quốc gia
1
(GNP) của thời kỳ 1990 – 2008 có
xu hướng tăng nhanh từ 4% - 7,5% trong giai đoạn 1990 – 2000 lên 10 – 13%
trong giai đoạn 2001 – 2004, và vọt lên 16 – 19% những năm 2005 – 2010
(chỉ số này của Ấn Độ trong cả thời kỳ 1990 – 2008 chỉ dao động ở mức 3-
4%). Trong các động năng tăng trưởng của nền kinh tế thời kỳ 1990 – 2010,
yếu tố năng suất lao động chỉ đóng góp gần 30%, còn yếu tố vốn đóng góp
50% và yếu tố lao động đóng góp 20% (các chỉ số tương ứng của Ấn Độ trong
thời kỳ1990 - 2005 là 36%, 40% và 24%). Chỉ số năng suất Tổng hợp (TFP)
càng cần nhiều vốn hơn để có tăng trưởng. Trong giai đoạn 2001 – 2006, hệ
số ICOR của Việt Nam bình quân đã là 4,4; sau khi gia nhập WTO, hệ số này
tăng vọt lên 5,3 trong năm 2007 và 6,55 trong năm 2008, ước năm 2009 và
2010 là 7,0. Đây là mức rất cao so với các nước khác trong khu vực ở những
giai đoạn phát triển tương đương như Việt Nam
3
. Mặt khác, cơ cấu đầu tư mất
cân đối, thiên về đầu tư vật chất kỹ thuật, đầu tư hình thành tài sản vốn con
người và khoa học công nghệ còn rất thấp.
- Cơ cấu kinh tế chậm chuyển dịch theo hướng kinh tế thị trường hiện đại.
Sau 20 năm thực hiện hội nhập quốc tế và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa (1990 – 2009), tuy tỉ trọng của khu vực công nghiệp và xây dựng trong
GDP đã tăng gấp 2 lần (từ 22,7% năm 1990 lên 42% năm 2008), nhưng tỉ
trọng của khu vực dịch vụ lại không tăng ,mà lại có xu hướng giảm nhẹ từ
44,1% năm 1995 xuống 38,1% năm 2000 và 38,2% năm 2007. Điểm đáng chú
ý là tỉ trọng đóng góp của các tổ chức tài chính vào GDP chỉ dao động ở mức
3
Hệ số ICOR của Hàn Quốc thời kỳ 1961 – 1980 là 3,0 và của Đài Loan trong thời kỳ này là 2,7; của
Indonexia giai đoạn 1981 – 1985 là 3,7 của Malayxia là 4,4 và của Thái Lan trong cùng giai đoạn là 4,1; của
Trung Quốc giai đoạn 2001 – 2006 là 4,0.
6
1,8 – 2,0% trong suốt thời kỳ 1995 – 2008. Như thế, cơ cấu kinh tế chậm
chuyển dịch theo hướng kinh tế thị trường hiện đại.
Chưa chú trọng đúng mức vào phần cốt cốt lõi của công nghiệp hóa, hiện
đại hóa. Ở giai đoạn bản lề của sự phát triển, trước và sau ngưỡng cửa của gia
nhập WTO, chúng ta đã có bước thụt lùi về kỹ thuật công nghệ. Trình độ công
nghệ thấp, chậm được cải thiện, lệ thuộc vào công nghệ nước ngoài , mất cân
đối cung – cầu công nghệ ngày càng tăng.
dục còn rất thấp (kết quả trượt tốt nghiệp PTTH năm 2007 là một minh
chứng). Số lượng sinh viên được vào Đại học cũng chỉ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ
trong những người ở độ tuổi học Đại học. Trong năm 2000, tỉ lệ lao động tốt
nghiệp đại học chỉ chiếm 2% tổng dân số (so với 5% ở Trung Quốc và 8% ở
Ấn Độ); đến năm 2005, tỉ lệ sinh viên đỗ đại học ở Việt Nam chỉ là 16% (tỉ lệ
này của Trung Quốc và Indonexia là 17% - 19%, Thái Lan là 43%). Chất
lượng đào tạo ở các trường Đại học chưa đạt chuẩn quốc tế, giảng viên các
trường đaị học của Việt Nam còn rất ít bài đăng trên các tạp chí khoa học quốc
tế
5
. Gần 50% sinh viên ra trường ở Việt Nam không được làm đúng ngành đào
tạo. Trong khi đó, trên thực tế, tỉ lệ ngân sách dành cho giáo dục trong GDP
của Việt Nam liên tục tăng và cao hơn hầu hết các nước trong khu vực, chưa
kể mỗi năm cả nước (Chính phủ, tổ chức và cá nhân) chi khoảng 1 tỉ USD cho
việc du học (chủ yếu là từ nguồn gia đình có người đi du học).
Đến năm 2009, cả nước có 2,6 triệu người có trình độ đại học (chiếm 4,5%
lao động cả nước); trong đó, có 18 nghìn thạc sĩ, 16 nghìn tiến sĩ, hơn 6 nghìn
phó giáo sư và giáo sư. Thế nhưng năm 2002, Việt Nam chỉ đăng ký được 2
bản quyền với tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO).
- Xu hướng đô thị hóa diến ra rất chậm, cơ sở hạ tầng chậm được cải
thiện, ô nhiễm môi trường gia tăng nhưng chưa được kiểm soát chặt chẽ
Sau 20 năm (1990 – 2009), tỉ lệ dân số sống ở khu vực thành thị của Việt
Nam chỉ tăng từ 20,3% lên 28,6% (chí số tương ứng của Trung Quốc là 27,4%
và 44,5%, của Indonexia là 30,6% và 53%, của Philipin là 48,8% và 66,4%,
5
Trong năm 2006, với 2.830 giảng viên của trường Đại học Chulalongkom của Thái Lan đăng được 744 công
trình nghiên cứu trên các tạp chí khoa học quốc tế. Trong khi đó, 3.360 giảng viên ở hai trường Đaị học quốc
gia Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh chỉ đăng được tổng cộng 36 công trình – Nguồn: Chỉ số trích dẫn khoa
học mở rộng – Web of Scienoe, Thompson Corp.
Nam. Trong 3 năm 2005 – 2007 Việt Nam phải trả 6 tỉ USD cho nước ngoài
6
Chi phí XK bao gồm chi phí giấy tờ, hành chính, bốc dỡ, lưu kho, vận chuyển đường bộ cho 1 container 20
ft – Nguồn: Doiry Business 2007, WB.
9
về chi phí bảo hiểm và vận tải hàng hóa XNK, chiếm 35,7% tổng chi dịch vụ
cùng giai đoạn và là yếu tố chính làm thâm hụt cán cân dịch vụ, cán cân vãng
lai của Việt Nam.
- Số lượng doanh nghiệp tăng nhanh nhưng rất thiếu những doanh nghiệp
trong nước có thương hiệu mạnh,có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế
giới. Năng lực tham gia các mạng sản xuất, các chuỗi giá trị toàn cầu của sản
phẩm và doanh nghiệp Việt Nam còn rất hạn chế, chỉ mới ở các khâu mang lại
giá trị gia tăng thấp của chuỗi giá trị.
Đến nay, cả nước có khoảng 500 nghìn doanh nghiệp, trong đó mới có trên
44 nghìn doanh nghiệp tham gia hoạt động thương mại quốc tế. Tuyệt đại đa
số là những doanh nghiệp nhỏ và vừa, khả năng cạnh tranh quốc tế còn rất
yếu. Doanh nghiệp là lực lượng chính yếu trong hoạt động kinh tế và trong
hoạt động HNQT, nhưng đến nay chúng ta có rất ít doanh nghiệp có thương
hiệu Việt mạnh, có khả năng hoạt động xuyên quốc gia và giành thắng lợi
trong cạnh tranh toàn cầu.
Phần lớn các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam mới tham gia được vào
phân khúc sản xuất, gia công lắp ráp – tức là các khâu mang lại giá trị gia tăng
thấp nhất trong chuối giá trị. Có rất ít doanh nghiệp tham gia được và khâu
thiết kế, nghiên cứu và phát triển, tiêu thụ… là những khâu mang lại giá trị gia
tăng cao. Đối với các sản phẩm nông thủy sản có khối lượng lớn XK cũng
tương tự, các doanh nghiệp Việt Nam mới chủ yếu tham gia ở khâu sản xuất
và chế biến nông, chưa tham gia nhiều vào khâu chế biến sâu ra sản phẩm tiêu
dùng cuối cùng và các khâu maketing, tiêu thụ, qui trình canh tác và tạo ra các
biến mới chiếm 53,4% (Hàn Quốc năm 1986 đã đạt trên 96,4% và Trung Quốc
năm 2000 đã đạt đến 92%). Do hàng thô và sơ chế còn chiếm tỉ trọng lớn nên
độ co giãn về cung với thị trường thế giới rất nhỏ, sản xuất trong nước chậm
thích ứng với những biến động của thị trường thế giới .
11
- “Đầu tầu” của tăng trưởng là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, nhưng
một số ngành công nghiệp quan trọng như khai thác tài nguyên, công nghiệp
chế biến và các lĩnh vực có giá trị gia tăng cao đang có nguy cơ bị khu vực
này nắm giữ, chi phối. Khu vực FDI có tốc độ tăng trưởng cao nhất và đóng
góp ngày càng nhiều vào tăng trưởng GDP, tăng trưởng XK (năm 2008 khu
vực FDI chiếm 20% GDP, 41% vốn đầu tư xã hội, 45% GTSLCN, 57%
KNXK, 31,5% KNNK). Tuy nhiên, đầu tư vào công nghiệp khai thác tài
nguyên đạt hiệu quả cao nhất trong các ngành công nghiệp (hệ số ICOR thời
kỳ 2000 – 2008 là 0,51) và các lĩnh vực kinh doanh có giá trị gia tăng cao, tỉ
suất lợi nhuận cao (kinh doanh tài sản, nhà ở, nhà hàng, khách sạn, siêu thị,
trung tâm thương mại lại đang hút mạnh nguồn vốn FDI, và các lĩnh vực này
đang có nguy cơ bị khu vực FDI chi phối. Ngay sau khi Việt Nam gia nhập
WTO, tỉ trọng vốn FDI đăng ký vào công nghiệp khai thác tài nguyên đã tăng
vọt từ 1,2% năm 2007 lên 17,5% năm 2008 và trên 20% năm 2010 vào hoạt
động liên quan đến kinh doanh tài sản cũng tăng mạnh từ 15,2% năm 2006 lên
28,6% năm 2007, và khoảng 30% năm 2010; riêng vào khách sạn, nhà hàng
cũng tương tự từ: 4,2% năm 2006 lên 9,2% năm 2007 và 15,1% năm 2008.
- Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế dựa vào các khu công nghiệp,
khu chế xuất, khu kinh tế, nhưng mới phát triển về số lượng, chưa chú trọng
đến chất lượng, nảy sinh nhiều bất cập về mặt xã hội và gây ô nhiễm môi
trường.
Tính đến cuối tháng 6 năm 2008, cả nước có 186 khu công nghiệp (KCN),
khu chế xuất (KCX), với tổng diện tích đạt trên 45 nghìn ha; trong đó, đã có
110 KCN đi vào hoạt động, 76 KCN đang trong giai đoạn đền bù, giả phóng
mặt bằng và XDCB. Các KCN thu hút 3290 dự án FDI với tổng vốn 33,2 tỉ
nghiệp FDI tăng trung bình khoảng 30%/năm, GTSXCN tăng trung bình
khoảng 34%/năm, thì khu vực kinh tế Nhà nước chỉ đạt khoảng 16%/năm
(theo giá hiện hành). Trong năm 2005, tỉ lệ vốn/lao động của các DNNN cao
hơn 40% so với khu vực dân doanh; so với khu vực vốn FDI, mức vốn trung
13
bình/1 lao động của khu vực DNNN cao hơn khoảng 70%, thế nhưng doanh số
bình quân 1 lao động lại ngang nhau. Thêm vào đó, lao động tại các DNNN có
trình độ kỹ năng cao hơn so với lao động ở khu vực dân doanh. Như thế, mặc
dù có lợi thế hơn hẳn về vốn và kỹ năng lao động, nhưng các DNNN không
biến được lợi thế này thành sự vượt trội về năng suất. Nguyên nhân chủ yếu
của tình trạng kém hiệu quả này là các DNNN thường được hưởng lợi thế độc
quyền, sức ép cạnh tranh tại thị trường không cao như các khu vực kinh tế
khác nên kém năng động và nỗ lực vương lên, và hệ thống khuyến khích yếu.
- Một số yếu tố nền tảng cho phát triển và tăng trưởng trong dài hạn chậm
được cải thiện:
+ Về mặt thể chế kinh tế:Các chính sách kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế
thị trường và trong điều kiện HNQT đang có những thách thức phải điều
chỉnh để đạt được và duy trì cân bằng kinh tế đối nội (nền kinh tế đạt được tốc
độ tăng trưởng ổn định không tạo ra lạm phát quá mức), đạt được và duy trì
cân bằng kinh tế đối ngoại (thâm hụt cán cân vãng lai có thể được bù đắp dễ
dàng), duy trì được sự ổn định về tình hình tài chính (hệ thống tài chính đảm
nhận tốt vai trò trung gian dẫn vốn mà không tạo ra nguy cơ gây mất ổn định),
tạo lập được thể chế tài chính và kinh tế vĩ mô mạnh và chắc chắn…
+ Hiệu năng của Nhà nước tuy đã được nâng lên nhưng chưa đáp ứng
kịp yêu cầu quản lý, điều tiết nền kinh tế - xã hội trong bối cảnh có nhiều biến
động của tình hình trong nước và quốc tế khi nước ta HNQT ngày càng sâu
rộng. Một nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (2007) đã đánh giá chất lượng
quản trị quốc gia của Chính phủ 212 nước và vùng lãnh thổ, trên 6 tiêu chí:
hiệu năng của Chính phủ, chất lượng chính sách và hoạt động điều tiết, thượng
tôn pháp luật, tham nhũng, tiếng nói và giải trình trách nhiệm, ổn định chính
7
Nguồn: “Tầm quan trọng của quản trị quốc gia VI: các chỉ số thành phần và tổng hợp về quản trị quốc gia
1996 – 2006”, tư liệu nghiên cứu số 4280 của nhóm nghiên cứu Ngân hàng thế giới, tháng 7/2007.
15
2. Một số hạn chế, yếu kém trong mô hình tăng trưởng xuất nhập
khẩu hiện nay
- Tăng trưởng xuất khẩu đang chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên, sử
dụng lao động rẻ, các ngành sử dụng nhiều vốn, giá trị gia tăng thấp, gây ô
nhiễm môi trường và tiêu hao nhiều năng lượng, nguyên nhiên liệu cho một
đơn vị sản phẩm xuất khẩu. Đến năm 2010, nhóm hàng khoáng sản thô vẫn
chiếm 9,3% kim ngạch xuất khẩu, nhóm hàng nông lâm, thủy sản vẫn chiếm
22,5% kim ngạch xuất khẩu mà chủ yếu là sản phẩm thô và sơ chế. Nhóm sản
phẩm của các ngành công nghiệp gia công lắp ráp sử dụng nhiều lao động và
nhóm sản phẩm kết hợp giữa lao động giản đơn với công nghệ trung – thấp
(dệt may, giày dép, sản phẩm gỗ, sản phẩm nhựa, hóa phẩm tiêu dùng, sản
phẩm cơ khí, điện, và hàng thủ công mỹ nghệ) đến năm 2010 vẫn chiếm
khoảng 39% kim ngạch xuất khẩu (37,5 tỉ USD), giá trị gia tăng thấp, phụ
thuộc nhiều vào nguyên phụ liệu nhập khẩu.
- Tăng trưởng xuất khẩu phụ thuộc ngày càng nhiều vào nhập khẩu, tính
chủ động thấp, dễ bị tổn thương trước các biến động của thị trường thế giới. Tỉ
lệ kim ngạch xuất khẩu so với GDP có xu hướng ngày càng tăng, đến năm
2010, kim ngạch xuất khẩu đạt 71 tỉ USD và bằng khoảng 66% GDP nhưng tỉ
lệ giá trị trong nước rất thấp. Giá trị ngoại tệ thực thu của phần lớn các ngành
sản phẩm công nghiệp chế biến xuất khẩu chỉ khoảng 20 – 30% kim ngạch
xuất khẩu; một số ngành rất thấp như điện tử - tin học chỉ khoảng 5%, dệt may
và giày dép chỉ khoảng 20%
- Tăng trưởng nhập khẩu cao hơn xuất khẩu, tỉ trọng của nhóm hàng thô và
sơ chế vẫn chiếm 25 – 26%; trong khi tỉ trọng của nhóm hàng máy móc thiết
bị và công nghệ không có xu hướng tăng mà ngược lại đã giảm mạnh từ
khoảng 30% trong năm 2000 xuống 16 – 18% trong giai đoạn 2007 – 2010.
17
Trên thế giới, bên cạnh xu hướng hòa bình, ổn định, hợp tác cùng có lợi
tiếp tục chiếm ưu thế là là tiền đề để phát triển xuất nhập khẩu của quốc gia
thì nguy cơ xảy ra chiến tranh năng lượng, chạy đua hạt nhân, các xung đột
sắc tộc, tôn giáo, lãnh thổ, tranh giành về tài nguyên, khủng bố quốc tế… có
thể gia tăng. Biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường trở thành thách thức
ngày càng lớn. Toàn cầu hóa tiếp tục phát triển về qui mô, mức độ và hình
thức biểu hiện. Các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia có vai trò ngày càng lớn.
Sau cuộc khủng hoảng tài chính và suy toái kinh tế toàn cầu vừa qua, các nước
đang đẩy mạnh tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng gắn chặt phát triển kinh tế
tri thức với phát triển “kinh tế xanh”, chú trọng chất lượng tăng trưởng và phát
triển bền vững. Chủ nghĩa bảo hộ đang trỗi dậy, các rào cản thương mại mới
ngày càng tinh vi, thương mại dịch vụ sẽ được chú trọng phát triển hơn thương
mại hàng hóa. Tương quan sức mạnh của các nền kinh tế và cục diện phát triển
toàn cầu thay đổi nhanh với sự xuất hiện của các liên kết mới, độ rủi ro và bất
định của nền kinh tế thế giới còn rất lớn. Cấu hình của nền kinh tế và thương
mại thế giới đang khác trước, sự phát triển của các chuỗi giá trị toàn cầu đang
làm cho quan hệ trao đổi thương mại quốc tế ngày càng khác với truyền
thống. Trung Quốc sẽ tiếp tục lớn mạnh rất nhanh, thế lực ảnh hưởng ngày
càng lớn, đang sử dụng công cụ tiền tệ để gia tăng áp lực đối với các nền kinh
tế khác… sẽ tác động mạnh đến kinh tế và thương mại toàn cầu. Tình hình đó
sẽ làm tăng áp lực về nhiều mặt đối với Việt Nam về kinh tế, thương mại, chủ
quyền ở Biển Đông, an ninh quốc gia, an toàn sức khỏe…
Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương tiếp tục phát triển năng động, hình
thành nhiều hình thức liên kết, hợp tác đa dạng hơn, hội nhập khu vực sâu hơn.
Các nước ASEAN đang nỗ lực thúc đẩy liên kết nội khối để hoàn thành xây
dựng cộng đồng kinh tế (ACE) vào năm 2015, tiến tới xây dựng Cộng đồng
chung theo Hiến chương ASEAN. Mặt khác, ASEAN đang nỗ lực đóng vai trò
chủ động tăng cường liên kết khu vực Đông Á mở rộng. Đang định hình cấu
trúc liên kết mới tại khu vực, với vai trò trung tâm của ASEAN. Cục diện liên
8
Do tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, kinh tế thế giới bước vào thời kỳ suy thoái từ năm 2008, tụt
đáy trong năm 2009 (tăng trưởng -5,3%), vượt đáy trong năm 2010 (theo Báo cáo của Liên Hợp Quốc về tình
hình và triển vọng kinh tế thế giới năm 2010 thì tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2010 chỉ 2,4%. Theo IMF thì
tỉ lệ tăng trưởng dưới 2,5% thì được định nghĩa là suy thoái kinh tế thế giới.
19
đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất trong các năm 2015 – 2017. Khu vực Châu Á
– Thái Bình Dương tiếp tục là khu vực động lực chính của tăng trưởng thương
mại toàn cầu thời kỳ tới 2020 Vai trò động lực của Trung Quốc trong tăng
trưởng thương mại toàn cầu có thể sẽ giảm xuống tương đối trong thời kỳ tới,
do nước này sẽ phải giảm nhịp độ xuất khẩu để tăng nhịp độ nhập khẩu
nguyên nhiên vật liệu và đang điều chính Chiến lược thị trường hướng mạnh
vào khai thác thị trường Trung Quốc mở rộng (bao gồm cả Đài Loan, Hồng
Kông, Ma Cao). Hoa Kỳ đang nỗ lực tăng cường xuất khẩu hàng hóa để đạt
mục tiêu kỳ vọng đến năm 2015 tăng kim ngạch xuất khẩu gấp 2 lần năm
2010, đồng thời phải giảm nhịp độ tăng trưởng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa
để giải quyết sự thâm hụt của cán cân vãng lai, sẽ là nhân tố quan trọng tác
động mạnh đến thương mại toàn cầu. Các nước Đông Bắc Á và LB Nga tiếp
tục thực hiện chính sách hướng Nam mạnh mẽ, sẽ tác động mạnh đến dòng
hàng hóa trao đổi giữa khu vực này với ASEAN. EU sẽ chú trọng tăng cường
xuất khẩu dịch vụ, tăng cường trao đổi thương mại với các nước ASEAN và
Ấn Độ, là nhân tố quan trọng tác động đến cán cân thanh toán vãng lai của các
nước này.
Trung Quốc tiếp tục là nhân tố hàng đầu ảnh hưởng đến thương mại khu
vực, nhất là khu vực ASEAN. Từ thành công trong cuộc điều chỉnh Chiến
lược thị trường lần thứ ba từ Tây sang Đông (sau khi Trung Quốc gia nhập
WTO) nhằm thu hút nguồn tài nguyên phong phú của các nước Phương Đông
cho tăng trưởng “nóng” và đảm bảo an ninh năng lượng
9
, hiện nay Trung
tranh bình đẳng, minh bạch giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh
tế. Nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ được tập trung
phát triển nhanh cùng với hệ thống kết cấu hạ tầng sẽ được chú trọng phát
triển đồng bộ và hiện đại để tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh
tranh của nền kinh tế.
Đến năm 2020, nước ta sẽ cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo
hướng hiện đại, qui mô dân số khoảng 97,5 triệu người, GDP bình quân đầu
10
Theo thống kê của IMF thời kỳ 1978 – 2008, xuất khẩu của Trung Quốc tăng trưởng bình quân 16,7%/năm
nhập siêu tăng trưởng bình quân 12,5%/năm nhưng doanh thu bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng trong nước chỉ tăng
bình quân khoảng 9,5%/năm; so với GDP tỉ trọng của kim ngạch xuất khẩu đã tăng từ 4,7% lên 39,6%, của
kim ngạch nhập khẩu tăng từ 5,2% lên 31,4% nhưng của doanh thu bán lẻ và DVXH đã giảm từ 42,7% xuống
39,3%. Tỉ lệ tiết kiệm so với CTDP tăng từ 26%/năm 1995 lên 43% trong năm 2004.
21
người theo giá thực tế đạt khoảng 3000 – 3200 USD, tỉ trọng các ngành công
nghiệp và dịch vụ chiếm khoảng 85% GDP, giá trị sản phẩm công nghệ cao
chiếm khoảng 45% GDP và sản phẩm công nghiệp chế tạo chiếm khoảng 40%
GDP, yếu tố năng suất tổng hợp (TFP) đóng góp vào tăng trưởng trên 35%.
Phát triển xuất nhập khẩu trong thời kỳ tới sẽ tiếp tục gặp phải những
khó khăn, thách thức từ ngay trong nước. Nhận thức và quan điểm Chiến lược
hướng mạnh về phát triển xuất khẩu hay hướng mạnh vào phát triển thị trường
trong nước còn có sự khác nhau, chưa thống nhất. Năng lực cạnh tranh của sản
phẩm, doanh nghiệp và của cả nền kinh tế còn thấp hơn so với nhiều nước
trong khu vực, khả năng giành lợi thế cạnh tranh theo qui mô kinh tế chưa cao.
Tác động của tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng xuất khẩu đến thâm dụng tài
nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái còn cao. Thương mại dịch vụ, nhất
là xuất khẩu dịch vụ chưa thể phát triển nhanh trong ngắn và trung hạn. Mức
độ phụ thuộc vào thị trường thế giới của nền kinh tế còn nhiều, khả năng thích
ứng của nền kinh tế với những biến động của tình hình quốc tế còn hạn chế.
Trong thời kỳ tới, nước ta sẽ hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hơn.
Mức độ tự do hóa thương mại ngày càng cao thì độ rủi ro và tổn thương sẽ
ngày càng lớn khi có biến động mạnh của thị trường thế giới. Bên cạnh những
thuận lợi đối với phát triển xuất khẩu, chúng ta cũng phải đối mặt với nhiều
khó khăn, thách thức trong quản lý nhập khẩu, cân bằng cán cân thương mại,
nhất là từ năm 2012 chúng ta phải thực hiện cắt giảm thuế quan sâu hơn , tự do
hóa thương mại cao hơn theo các cam kết WTO và các cam kết FTA đã ký
kết. Với hiệu ứng của các FTA đã ký kết, trong 10 năm tới khu vực thị trường
ASEAN +6 sẽ vẫn chiếm tỉ trọng lớn (khoảng 55%) trong tổng kim ngạch xuất
nhập khẩu của Việt Nam. Đến năm 2020, về cơ bản chúng ta phải hoàn thành
lộ trình cắt giảm thuế, tự do hóa thương mại theo các FTA đã ký kết. Theo
cam kết, Việt Nam phải giảm mức thuế suất bình quân đơn giản cả Biểu thuế
23
trong AFTA từ mức 3,2% năm 2008 xuống 0,4% năm 2018, trong ACFTA
giảm từ 14,5% năm 2007 xuống 2,1% năm 2020, trong AKFTA giảm từ
17,53% năm 2007 xuống 4,59% năm 2021, trong AJCEP giảm từ 11,3% năm
2008 xuống 1,8% năm 2026, trong AANZFTA giảm từ 19,7% năm 2009
xuống 2,9% năm 2020 và trong AIFTA giảm từ 15,04% năm 2009 xuống
6,96% năm 2024.
Thực hiện cam kết gia nhập WTO, trong thời gian tới, chúng ta phải tiếp
tục giảm bảo hộ các ngành sản xuất trong nước, nhất là các ngành công nghiệp
sản xuất hàng xuất khẩu. Tỉ lệ bảo hộ thực tế của các ngành công nghiệp chế
biến chế tạo phải giảm từ mức 28% năm 2009 xuống 21,1% vảo năm 2015, tỉ
lệ bảo hộ thuế quan của những ngành này cũng phải giảm từ 13,7% năm 2009
xuống 10,6% vào năm 2015. Trong thời gian tương ứng, tỉ lệ bảo hộ thực tế
của các ngành khai khoáng giảm từ mức 4,43% xuống 0,29%, tỉ lệ bảo hộ thuế
quan giảm từ 3,83% xuống 0,17%.
Giai đoạn 2011 – 2015, nhiều khả năng chúng ta sẽ đạt được thỏa thuận
tham gia TPP, ký FTA với EU, ký FTA với Liên minh Hải quan Nga – Bêlarút
- Kazakhstan… Bên cạnh những thuận lợi do các FTA này mở ra đối với đẩy
suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm; bảo đảm hài hòa
lợi ích giữa các ngành.
Cân đối lại các nguồn lực để đầu tư phát triển các ngành sản phẩm đáp
ứng nhu cầu thị trường trong nước làm nền tảng, đầu tư phát triển các ngành
sản phẩm xuất khẩu làm động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu các ngành sản
xuất theo hướng hiệu quả, an toàn và bền vững. Các ngành sản phẩm có khả
năng thích ứng nhanh với những biến động của tình hình thị trường, có độ co
giãn về cung cao được khuyến khích phát triển. Các ngành thích ứng chậm với
những biến động đó cần hạn chế hoặc kiểm soát chặt chẽ qui mô phát triển.