QUAN IM V NH HNG PHT TRIN XUT NHP KHU
NHM PHT TRIN BN VNG VIT NAM THI K 2011-2020
PGS. TS. Lờ Danh Vnh
Th trng Thng trc B Cụng Thng
Ch tch Hi ng Khoa hc B Cụng Thng
TS. H Trung Thanh
Vin Nghiờn cu Thng mi
I. NH GI TNG QUAN V HOT NG XUT NHP KHU THI K
2001-2010
Trong nhng nm qua, phỏt trin xut khu ó cú nhng úng gúp to ln vo cụng
cuc i mi ca t nc. Xut khu ó tr thnh mt trong nhng ng lc ch yu ca
tng trng kinh t, gúp phn n nh kinh t, xó hi nh gii quyt vic lm, tng thu
nhp, xúa úi, gim nghốo.
Nhp tng trng kim ngch xut khu bỡnh quõn hng nm giai on 2001-2010
mc cao, t 19%/nm. Quy mụ xut khu tng t 15 t USD nm 2001 lờn 72,19 t
nm 2010, tng hn 4,7 ln. T trng kim ngch xut khu ca Vit Nam trờn GDP tng t
46% nm 2001 lờn 70% nm 2010. Mt hng xut khu ngy cng phong phỳ v a dng.
Nu nh nm 2004, Vit Nam ch cú 6 nhúm hng t kim ngch trờn 1 t USD thỡ n ht
nm 2010 ó cú 18 nhúm hng, trong ú cú 10 nhúm hng t kim ngch xut khu trờn 1
t USD v 8 nhúm hng trờn 2 t USD. Hng húa xut khu ca Vit Nam ó cú mt trờn
th trng ca 220 nc v vựng lónh th.
Trong 10 nm qua, xut khu ó úng gúp t trng ln nht vo tng trng kinh t
bờn cnh cỏc yu t khỏc l tiờu dựng, u t v nhp khu
1
. Tng trng xut khu cao v
tng i n nh trong nhiu nm ó gúp phn n nh kinh t v mụ nh hn ch nhp
siờu, cõn bng cỏn cõn thanh toỏn quc t v tng d tr ngoi t. Chớnh sỏch khuyn khớch
xut khu trong giai on va qua cng ó gúp phn vo cụng tỏc bo v mụi trng, bo
tn v phỏt trin h sinh thỏi. Kh nng ỏp ng cỏc quy nh v mụi trng v an ton v
sinh thc phm ca nhiu nhúm hng c nõng cao
2
4
, có khả năng tham gia
vào khâu tạo ra giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Bên cạnh đó, mở rộng xuất khẩu đang có nguy cơ làm cạn kiệt tài nguyên thiên
nhiên, suy giảm đa dạng sinh học và ô nhiễm môi trường. Tăng trưởng xuất khẩu của nước
ta hiện nay chủ yếu dựa vào việc khuyến khích khai thác các nguồn lợi tự nhiên và sử dụng
ngày càng nhiều các yếu tố đầu vào làm gia tăng áp lực gây ô nhiễm
5
.
Nhiều vấn đề xã hội nảy sinh từ hoạt động xuất, nhập khẩu mà chúng ta chưa có cơ
chế, chính sách để giải quyết hiệu quả. Chia sẻ lợi ích từ xuất khẩu chưa thật bình đẳng,
đặc biệt là lợi ích thu được từ các nhóm hàng xuất khẩu có nguồn gốc thiên nhiên. Gia tăng
khoảng cách giàu nghèo trong quá trình tự do hóa thương mại. Cơ hội về thu nhập và việc
làm dựa vào xuất khẩu chưa thật sự bền vững đối với nhóm xã hội dễ bị tổn thương là
người có thu nhập thấp, khu vực nông nghiệp. Xung đột chủ thợ có xu hướng gia tăng
6
.
3
Năm 2008, có 3,6 triệu lao động tham gia xuất khẩu trong ngành dệt may, ngành da giày là 660.000 người, điện tử
230.000 người và thủ công mỹ nghệ là 1,88 triệu người.
4
Tính đến hết năm 2009, tỷ trọng hàng xuất khẩu công nghệ cao của Việt Nam chỉ chiếm khoảng 9% trong tổng kim
ngạch xuất khẩu. Trong khi đó, tỷ lệ này của Trung Quốc là 35%, Thái Lan là 40%, Malaysia là 60%. Điều đáng nói
là tỷ trọng xuất khẩu hàng công nghệ cao của Việt Nam ít thay đổi trong 10 năm gần đây.
5
Chỉ trong hơn hai thập kỷ qua, diện tích rừng ngập mặn Việt Nam giảm đi hơn một nửa, trung bình mỗi năm mất đi
gần 20.000 ha, hơn 80% độ che phủ đã bị ảnh hưởng. Các đầm nuôi tôm là một trong những nguyên nhân chủ yếu
dẫn đến tình trạng phá huỷ này.
6
Tranh chấp và đình công có xu hướng gia tăng mạnh trong thời gian kể từ năm 2006, song đặc biệt tăng nhanh
điều kiện tự nhiên và lao động rẻ như nông sản, thủy sản, dệt may, da giày, đồ gỗ… Chính
sách của nhà nước để hạn chế rủi ro chưa được thực hiện một cách liên tục và kịp thời.
Biến động giá cả của một số mặt hàng xuất khẩu như gạo, cà phê trong năm 2008 cho thấy
Chính phủ còn bị động trong việc điều hành xuất khẩu. Lợi ích từ xuất khẩu không được
chia sẻ một cách hợp lý tiềm ẩn nguy cơ xung đột xã hội, giảm lòng tin của người dân vào
các chính sách của nhà nước.
Phát triển xuất, nhập khẩu bền vững đặt ra hết sức cấp bách đối với nước ta trong
giai đoạn 2011-2020, giai đoạn tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, với mục tiêu chủ
yếu là coi trọng chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển, đảm bảo ổn định
kinh tế vĩ mô, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tốc độ và chất lượng tăng trưởng, ổn
định xã hội, bảo vệ tốt môi trường. Đây là chủ trương lớn của Đảng cho giai đoạn
2011-2020. Yêu cầu phát triển xuất, nhập khẩu bền vững càng bức xúc hơn trong bối cảnh
nước ta hội nhập ngày càng sâu hơn với nền kinh tế thế giới, đặc biệt là sau khi gia nhập
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và thực hiện các cam kết FTA ở mức độ cao hơn.
Hội nhập kinh tế quốc tế làm tăng cơ hội mở rộng thị trường xuất, nhập khẩu, do đó
khuyến khích khai thác tài nguyên và gia tăng sử dụng các yếu tố đầu vào liên quan đến
môi trường, tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường qua biên giới. Áp lực cạnh tranh ngày càng
gay gắt và sự biến động kinh tế thế giới đang là thách thức đối với việc duy trì tốc độ tăng
trưởng xuất khẩu cao và bền vững, hạn chế mất cân đối ngoại thương. Mở cửa thị trường,
thực hiện các cam kết thương mại quốc tế có thể làm nảy sinh các vấn đề xã hội như việc
làm, thu nhập, xung đột xã hội... nếu như không có các chính sách đúng đắn và kịp thời.
Như vậy ở nước ta, trong giai đoạn tăng trưởng tiếp theo còn đang tiềm ẩn những nhân tố
làm chệch định hướng phát triển bền vững kinh tế nói chung và xuất, nhập khẩu nói riêng.
II. QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN XUẤT NHẬP KHẨU PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN
VỮNG Ở VIỆT NAM THỜI KỲ 2011-2020
Mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam thời kỳ 2011-2020 là phát
triển nhanh phải đi đôi với phát triển bền vững. Tăng trưởng về số lượng phải đi liền với
nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Trong khi khai thác các
yếu tố phát triển theo chiều rộng, phải đặc biệt coi trọng các yếu tố phát triển theo chiều
sâu. Phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, phát triển toàn diện con người,
khẩu trong dài hạn. Đó là chưa kể đến những tác động tiêu cực đến môi trường được xem
như một hạn chế cản trở tăng trưởng xuất khẩu. Lợi thế lao động rẻ cũng ngày càng giảm
dần trong bối cảnh chênh lệch tiền lương lao động ở nước ta và các nước giảm dần và nhu
cầu cao trên thị trường thế giới về những hàng hóa có hàm lượng công nghệ và khoa học
ngày càng cao. Do đó, dựa vào mô hình tăng trưởng theo chiều rộng trên cơ sở phát huy lợi
thế so sánh sẵn có, xuất khẩu Việt Nam khó có thể duy trì được tốc độ tăng trưởng ở mức
cao. Bên cạnh đó, cạnh tranh quốc tế trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu cũng là áp
lực phải nhanh chóng chuyển sang mô hình tăng trưởng mới.
Mô hình tăng trưởng mới là mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, dựa vào việc khai
thác lợi thế cạnh tranh động để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả xuất khẩu trên
cơ sở đẩy mạnh cải cách thể chế, sử dụng công nghệ tiên tiến, nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực, xây dựng cơ sở hạ tầng hiện đại. Chuyển từ phát triển xuất khẩu theo chiều rộng
sang phát triển theo chiều sâu, từ việc dựa chủ yếu vào lợi thế so sánh sẵn có (tĩnh) sang lợi
thế cạnh tranh động là nhân tố quyết định chất lượng tăng trưởng xuất khẩu; duy trì được
tốc độ tăng trưởng cao, nâng cao hiệu quả kinh tế, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng
hóa xuất khẩu, phù hợp với xu hướng biến đổi của thị trường, do đó, hạn chế được rủi ro
khi thị trường thế giới biến động bất lợi. Thực hiện định hướng phát triển xuất khẩu theo
chiều sâu cũng là giải pháp để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
khắc phục nguy cơ tụt hậu, bẫy thu nhập trung bình, nâng cao vị thế quốc gia, đảm bảo
phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ.
Trong giai đoạn tới, chất lượng phát triển phải là mục tiêu hàng đầu. Cần khắc phục
tư tưởng coi trọng số lượng, chạy theo thành tích cục bộ và ngắn hạn. Nhiều chỉ tiêu xuất
khẩu trong giai đoạn vừa qua chỉ phản ánh về mặt số lượng mà chưa phán ánh được hiệu
quả đầu tư, các tác động về mặt xã hội, môi trường. Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng,
trong thời gian qua, nước ta đã đầu tư quá mức cho xuất khẩu mà chưa tính toán đến hiệu
quả của nó. Điều này dẫn đến sự hao phí nguồn lực, sử dụng không hiệu quả vốn đầu tư,
làm nảy sinh hành vi tiêu cực như tham nhũng, gian lận thương mại. Cần phải tính toán