Tài liệu Luận văn " Thực trạng và các giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu thịt lợn của Việt Nam " doc - Pdf 10



KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Thực trạng và các giải pháp đẩy
mạnh hoạt động xuất khẩu thịt
lợn của Việt Nam

Mục lục T
rang
Mục lục
Lời nói đầu

Chương I: Khái quát thị trường thịt lợn thế giới và tình hình
chăn nuôi lợn xuất khẩu ở Việt Nam
I.Tình hình thị trường thịt lợn thế giới 1
1.Tổng quan thị trường thịt thế giới 1
2.Tình hình thị trường thịt lợn thế giới 9
3.Tình hình xuất nhập khẩu thịt lợn trên thị trường thế giới 13

II. Tổng quan về ngành chăn nuôi và chăn nuôi lợn ở Việt Nam 19
1.Ngành chăn nuôi lợn ở Việt Nam 19
2.Thực trạng chăn nuôi và chế biến thịt lợn 26
3.Thị trường tiêu thụ thịt lợn 33

Chương II: Thực trạng xuất khẩu thịt lợn ở Việt Nam
I.Thực trạng xuất khẩu thịt lợn của Việt Nam 38


Kết luận
Danh mục Tài liệu tham khảo

Lời nói đầu
Thực hiện chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, kinh tế nước ta
nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng đã có bước phát triển vượt bậc,
nông nghiệp sau 15 năm đổi mới đã trở thành nền sản xuất hàng hoá với
nhiều loại sản phẩm. Nông nghiệp đã đóng góp vào sự tăng trưởng mạnh
mẽ của nền kinh tế và làm tăng kim ngạch xuất khẩu. Trong đó, ngành
chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng đã có những bước phát
triển đáng kể: tốc độ tăng trưởng đàn lợn đạt 4,6%/năm, đến nay tổng đàn
lợn là 20 triệu con, tổng sản lượng thịt lợn hơi tăng 6,5%/năm, đáp ứng cơ
bản nhu cầu trong nước đang tăng và mỗi năm xuất khẩu được 15-20 nghìn
tấn thịt lợn sang thị trường truyền thống và khu vực.
Phát triển xuất khẩu mặt hàng thịt lợn không những có ý nghĩa về mặt
kinh tế mà còn có ý nghĩa rất to lớn về các mặt chính trị xã hội. Đó là, tăng
thu nhập cho quốc gia, nâng cao đời sống xã hội, tạo công ăn việc làm, đặc
biệt giải quyết được một số lượng lớn lao động nông nhàn ở nông thôn.
Hơn nữa, đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu thịt lợn, nước ta có nhiều thuận
lợi vì điều kiện tự nhiên của nước ta phù hợp phát triển chăn nuôi lợn, có
cơ sở từ ngành trồng trọt khá vững mạnh, chi phí nhân công rẻ, Có thể
nói cùng với một số hàng hóa nông sản khác như gạo, cà phê, hạt điều, chè
và thuỷ sản, thịt lợn cũng là mặt hàng Việt Nam có lợi thế so sánh trên thị
trường thế giới.
Với ý nghĩa như trên, Đảng và Nhà nước ta đã chỉ đạo trong Quyết
định số 166/2001/QĐ/TTg về: Một số biện pháp và chính sách phát triển

thông cảm. Em rất mong các thầy, cô đọc khoá luận và góp ý sửa chữa
những thiếu sót không thể tránh khỏi đồng thời nâng cao kiến thức cho em
trong mảng đề tài nhiều thử thách nhưng thú vị này.
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Lê Thu Thuỷ đã tận tình hướng dẫn,
các cán bộ Tổng Công ty chăn nuôi Việt Nam, các cán bộ ở những cơ quan
em tới tham khảo số liệu đã nhiệt tình giúp đỡ để em có thể hoàn thành
được khoá luận này. Xin cám ơn bạn bè và gia đình đã giúp đỡ và động
viên em trong quá trình thực hiện khoá luận.
Hà Nội, tháng 12 năm 2003
Sinh viên: Đặng Thị Ngọc Tâm.

Chương I
Khái quát thị trường thịt lợn thế giới và
tình hình chăn nuôi lợn xuất khẩu ở Việt Nam

I. Tình hình thị trường thịt lợn thế giới
1. Tổng quan thị trường thịt thế giới
Thế kỷ XX đã chứng kiến những thành tựu vượt bậc của con người trong
các lĩnh vực khoa học và kỹ thuật như thành công giải mã gien người, nhân bản
vô tính trong ngành công nghệ sinh học, tạo ra các loại năng lượng thay thế mới
hiệu quả và dồi dào như năng lượng mặt trời, năng lượng nguyên tử trong ngành
năng lượng, các thế hệ máy tính nối tiếp nhau ra đời ngày càng hiện đại và các
ứng dụng của chúng trong ngành công nghệ thông tin, những khám phá mới
trong ngành khoa học vũ trụ, chế tạo nhiều loại thuốc mới trong y học, Tất cả
những tiến bộ đó đã thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế, xã hội, nâng
cao đời sống con người. Đời sống con người càng được nâng cao, nhu cầu dinh
dưỡng trong các bữa ăn hàng ngày-nguồn cung cấp dinh dưỡng chính cho con

lượng cao, chăn nuôi công nghiệp quy mô lớn, giá thức ăn chăn nuôi thấp, kinh
tế thế giới phát triển, thu nhập quốc dân và nhu cầu tiêu dùng, sinh hoạt của
nhiều nước tăng, thêm vào đó một số thị trường mở cửa cho sản phẩm nhập
khẩu đã thúc đẩy sản xuất, tiêu dùng, tạo đà cho sản xuất và thương mại thịt
toàn cầu tăng nhanh.
1.1. Sản xuất
Sự tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế toàn cầu trong thập kỷ vừa qua đã
làm cho nhu cầu đối với sản phẩm thịt tăng lên, dẫn đến tăng tương ứng sản
lượng thịt thế giới. Theo số liệu của Tổ chức nông lương thế giới FAO, sản
lượng thịt toàn cầu năm 2001 đạt 236,9 triệu tấn tăng 1,5% so với năm 2000
(sản lượng thịt bò giảm 1%, thịt gia cầm tăng 3% và thịt lợn tăng 2,2%), năm
2002 tỷ lệ tăng trưởng là 3,03% lên 244,08 triệu tấn và dự kiến năm 2003 sẽ
tăng 1,2% lên 247,7 triệu tấn (trong đó sản lượng gia cầm tăng mạnh nhất với
2,2% so với năm 2002). Sản lượng thịt thế giới chủ yếu tập trung vào 3 khu vực
chính là Mỹ, Liên minh Châu Âu và Trung Quốc.Trong những năm gần đây,
sản lượng thịt tăng chủ yếu ở Trung Quốc, nước hiện nay chiếm gần 40% sản
lượng thịt của thế giới.
Một đặc điểm quan trọng của ngành sản xuất thịt thế giới là sản xuất thịt
tập trung vào một số nước có nền nông nghiệp phát triển và có điều kiện tự
nhiên thuận lợi cho ngành chăn nuôi. Đó là các nước Mỹ, Liên minh Châu Âu,
Trung Quốc, Braxin, Canada, Đặc biệt là Trung Quốc, Mỹ, Liên minh Châu
âu là những nước có tốc độ tăng trưởng đàn gia súc và gia cầm và sản lượng thịt
cao đáng kể.
Hàng năm Trung Quốc tăng sản lượng thịt 10%, là mức tăng nhanh hơn
bất cứ nơi nào trên thế giới, giai đoạn 1988-1997, sản lượng thịt của Trung
Quốc đã tăng lên 3 lần đạt mức 67 triệu tấn vào năm 1997. Thành công này đã
khiến Trung Quốc trở thành quốc gia sản xuất gần 1/2 sản lượng thịt của thế
giới. Nguyên nhân dẫn đến sự tăng trưởng mạnh mẽ của ngành sản xuất thịt của
Trung Quốc là do quá trình tự do hoá thị trường, bắt đầu từ cuối thập niên 80
của thế kỷ XX, cùng với tăng thu nhập người dân kết hợp với những chính sách

xuất thịt bò giảm 4%. Năm 2001, sản xuất thịt ở Nam Mỹ, Châu á tăng 3%,
trong đó sản xuất thịt của Indonexia, Philippin, Thái Lan, Việt Nam tăng lên
chủ yếu là thịt gia cầm và thịt lợn.
Đặc điểm thứ hai trong sản xuất thịt thế giới là xu hướng thay đổi cơ cấu
sản phẩm thịt (gồm các loại thịt bò bê, thịt lợn, thịt gia cầm, thịt cừu dê, và các
loại khác) theo hướng gia tăng tỷ lệ thịt lợn và thịt gia cầm. Thịt gia cầm gia
tăng liên tục trong suốt thập kỷ này với tốc độ 17%/năm trong khi thịt lợn duy
trì ở mức độ tăng khiêm tốn hơn là 4%/năm. Khối lượng thịt bò vốn chiếm ưu
thế trước kia, giờ đây tăng chậm lại một phần do giá cả khuyến khích việc tiêu
thụ các loại thịt khác. Hiện nay xu hướng này đã tạm ổn định dẫn đến cơ cấu
thịt thế giới hiện tương đối ổn định với 3 loại chính là thịt bò bê, thịt lợn và thịt
gia cầm với có khối lượng chiếm tỷ trọng gần tương đương. Mặc dù cơ cấu này
có thể thay đổi về tỷ lệ theo từng nước và khu vực
Bảng 1.1: Sản xuất thịt thế giới (đơn vị: triệu tấn)
Năm 1999 2000 2001 2002
2003
(dự báo)
Gia cầm 64,7 66,6 68,6 72,9 74,5
Thịt lợn 89,9 91,1 93,1 94,3 95,8
Thịt bò 58,9 60 59,4 61,3 61,2
Dê cừu 11,1 11,4 11,5 11,7 11,8
Thịt khác 4,2 4,3 4,3 4,5 4,4
Tổng sản lượng 228,8 223,4 236,9 244,7 247,7
Nguồn: F.A.O.
Theo bảng 1.1, ta thấy tổng sản lượng thịt thế giới luôn tăng đều trong
những năm gần đây. Dự báo, xu hướng gia tăng này còn tiếp tục trong những
năm tới tuy tốc độ không cao bằng những năm trước.Trong cơ cấu thịt, thịt lợn
vẫn có khối lượng cao nhất đạt 94,3 triệu tấn (năm 2002) chiếm 38,53%. Còn
thịt bò và thịt gia cầm có khối lượng là 61,3triệu tấn;72,9 triệu tấn và và tỷ trọng
tương ứng là 25,1%; 29,8%.

Trong cơ cấu các sản phẩm thịt được trao đổi trên thị trường thế giới, thịt
gia cầm chiếm đa số, tương ứng theo các năm 1999, 2001, 2002 là 41%, 44%,
42%. Năm 2002 kim ngạch xuất khẩu thịt gia cầm là 7,9 triệu tấn trong khi thịt
lợn xuất khẩu là 4 triệu tấn chiếm 21,27% trong trao đổi các sản phẩm thịt, thịt
bò là 5,9 triệu tấn chiếm 31,4%.
Trong 3 loại sản phẩm chính là thịt bò bê, thịt lợn và thịt gia cầm, thịt lợn
được coi là ít được trao đổi trên thị trường thế giới, chỉ có 3% tổng sản lượng
thịt là xuất khẩu trong khi 11% sản lượng thịt bò và thịt gia cầm được đem trao
đổi trên thị trường thế giới. Nguyên nhân của việc thịt lợn ít được trao đổi trên
thị trường thế giới là do thịt lợn Trung Quốc ít được trao đổi trong khi Trung
Quốc là nước sản xuất nhiều thịt lợn nhất thế giới. Tỷ lệ thịt bò đem trao đổi
quốc tế so với sản lượng thịt bò sản xuất ra là tương đối ổn định từ cuối thập
niên 80 ở mức 11%. Tầm quan trọng của thịt gia cầm xuất khẩu lại ngày một
tăng cho đến nay đã chiếm 11% sản lượng thịt gia cầm sản xuất được.
Trên thế giới, mức tiêu dùng thịt hiện nay rất chênh lệch. Các nước phát
triển tiêu thụ thịt nhiều nhất ở mức 76,3 kg/người/năm. ở các nước đang phát
triển, mức tiêu thụ thịt bình quân theo đầu người đạt 28,2 kg/người/năm; còn ở
châu á mức tiêu thụ này là 27,5 kg; ở châu Phi là 14,1kg. Tiêu thụ thịt bình quân
đầu người trên thế giới là 38,4 kg/năm. Trong đó tiêu dùng các sản phẩm thịt ở
các nhóm nước phát triển và đang phát triển lại có xu hướng trái ngược
nhau.Mức tiêu dùng thịt ở các nước phát triển tăng bình quân 5,53%/năm, còn ở
các nước đang phát triển giảm bình quân 0,79%/năm.
Các nước phát triển là nhóm nước tiêu thụ nhiều thịt nhất đồng thời cũng là
nhóm nước nhập khẩu nhiều thịt nhất theo thứ tự Nga, Nhật Bản, Mỹ,
EU, trong đó Nga và Nhật Bản chiếm vị trí đứng đầu kiểm soát hơn 1/2 giá trị
mậu dịch thịt thế giới. Nhật Bản đứng đầu về nhập khẩu thịt lợn với 1,125 triệu
tấn năm 2002 chiếm 30% tổng kim ngạch nhập khẩu thịt lợn thế giới. Mỹ nhập
khẩu nhiều thịt bò nhất 1,5 triệu tấn năm 2002 chiếm 32% kim ngạch nhập khẩu
thịt bò thế giới. Còn Nga lại vô địch về nhập khẩu thịt gia cầm 1,22 triệu tấn gà
giò và 0,165 triệu tấn gà tây năm 2002 (theo tạp chí Ngoại thương số 11-

2000 85 592 2.073 1957 -
2001 83 645 2.077 2138 2912
2002 - 549 1830 2127 3303
2003
(Dự báo)

- 510 1758 2163 2626
Nguồn: F.A.O.
Bảng 1.3 cho thấy cho đến 2001 giá thịt bò và thịt lợn tương đối ổn định và
cao hơn hẳn thịt gà ở mức 2040 USD/tấn trong khi thịt gà giảm giá đều xuống
645 USD/tấn vào năm 2001. Từ 2002 tất cả các sản phẩm thịt đều giảm giá,
càng làm cạnh tranh trở nên gay gắt trên thị trường thịt thế giới.
Theo dự đoán của tháng 3/2003 của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), tổng
mậu dịch thịt toàn thế giới năm 2003 sẽ tăng khoảng 1% so với năm 2002, đạt
16,83 triệu tấn. Những thay đổi trong chính sách nhập khẩu ở những thị trường
lớn có thể gây ảnh hưởng lớn lên mức độ nhập khẩu thịt vào các thị trường này.
2. Tình hình thị trường thịt lợn thế giới
2.1. Sản xuất và chăn nuôi

88.6
89.2
89.9
91.1
91.7
94.3
95.8
84
86
88
90

giới. Những năm 1990, sản lượng thịt lợn Trung Quốc đã chiếm tới 49% tổng
sản lượng thịt lợn thế giới. Nguyên nhân của việc phát triển chăn nuôi lợn ở
Trung Quốc là chủ yếu do dân số đông, nhu cầu về thịt đặc biệt là thịt lợn rất
lớn, nuôi lợn lại rất phù hợp với các gia đình ở nông thôn Trung Quốc. Những
năm gần đây, Trung Quốc đã đưa ra những chính sách hỗ trợ và phát triển
ngành chăn nuôi, trong đó có chăn nuôi lợn khá thành công nên ngành chăn
nuôi của Trung Quốc được hiện đại hoá, ngày càng vững mạnh. Năm 2003,
Trung quốc vẫn là nước sản xuất thịt lợn lớn nhất thế giới: tổng đàn lợn là
170.146.000 con, sản lượng dự đoán đạt 44,1 triệu tấn, tăng 2% so với năm
trước và chiếm tới 50,8% tổng sản lượng thịt lợn thế giới (theo FAO). Năm nay
là năm thứ 4 liên tiếp sản xuất và tiêu thụ thịt lợn của Trung Quốc tăng. Thịt lợn
Trung Quốc sản xuất ra chủ yếu tiêu thụ nội địa, xuất khẩu tuy khá cao (225.000
tấn năm 2002) nhưng không đáng bao nhiêu so với tổng sản lượng. Nhu cầu tiêu
thụ thịt lợn của Trung quốc sẽ tiếp tục tăng khoảng 2,65% năm tới.
Khu vực sản xuất thịt lợn lớn thứ hai thế giới hiện nay là Liên minh Châu
âu-khu vực nổi tiếng có nền nông nghiệp phát triển cao và sở hữu ngành chăn
nuôi hiện đại. Sản lượng thịt lợn của khu vực này chiếm khoảng 20,53% tổng
sản lượng thịt lợn thế giới. Năm 2003, Liên minh Châu âu sản xuất được 17,82
triệu tấn, tăng 0,1% so với năm 2002, trong khi tiêu thụ thịt ước khoảng 16,55-
16,56 triệu tấn.
Các nước sản xuất thịt chủ yếu khác còn có Mỹ, Nga, Ba Lan và các nước
Đông Nam á. Tại Mỹ, sản lượng thịt lợn đến hết năm 2003 sẽ giảm 0,9% so với
năm trước, còn 8,82 triệu tấn, tiêu thụ thịt lợn giảm 1,75%, còn 8,57 triệu tấn
(theo FAO).ở Nga, mấy năm 2000-2002, sản lượng thịt lợn của Nga liên tục
tăng với tốc độ 2,5-3,5%/ năm. Nguyên nhân tăng trưởng là do kinh tế Nga tăng
trưởng ổn định, sức mua trong dân cư tăng, khả năng sản xuất tới 41,8%. Năm
2003, sản lượng thịt lợn của Nga tăng với tốc độ cao nhất, tăng 6,2% so với năm
trước, đạt 1,7 triệu tấn.Tốc độ tănng trưởng thịt lợn của Nga như vậy là phù hợp
với mục tiêu phát triển sản xuất thịt lợn nội địa của nước này là khoảng
7%/năm, giảm dần sự phụ thuộc vào thịt lợn nhập khẩu. ở Đông Nam á, Việt

trưởng. Tổng khối lượng thịt lợn xuất khẩu đến hết năm 2003 có thể đạt mức dự
báo là 4 triệu tấn, tăng 2 % so với năm 2002.
Cũng theo nguồn tin này, do những thay đổi trong chính sách nhập khẩu
vào các thị trường chính như Nga, Nhật Bản nên dự đoán thương mại thịt lợn
toàn cầu năm 2004 sẽ giảm nhẹ, khoảng 2%.Thị trường Bắc Mỹ sẽ tăng trưởng
trong năm tới nhưng nhu cầu nhập khẩu lại giảm mạnh ở Nhật Bản, Nga và Liên
minh Châu âu.
Cạnh tranh giữa các nước xuất khẩu chính như Mỹ, Braxin, Canada và
Liên minh Châu âu hiện diễn ra gay gắt.
Sản lượng thịt lợn Mỹ trong năm 2003 tiếp tục tăng và dự đoán sẽ còn tăng
trong năm 2004 gần 1%, đưa năm tới thành năm thứ 14 tăng trưởng liên
tục.Xuất khẩu thịt lợn của Mỹ năm 2003 cũng tăng đạt 726.000 tấn.Tuy nhiên,
Canada đã vượt Mỹ trở thành nước xuất khẩu thịt lợn lớn nhất thế giới và thực
tế Mỹ lại là thị trường nhập khẩu thịt lợn lớn nhất của Canada, chiếm tới 60%.
EU sau khi xuất khẩu thịt lợn bị giảm mạnh do ảnh hưởng bệnh lở mồm long
móng, thị trường năm 2003 đã được phục hồi và lượng thịt lợn xuất đi ước đạt
1,3 triệu tấn.
Kim ngạch xuất khẩu thịt lợn của Braxin tiếp tục tăng trưởng. Mặc dù năm
qua, Braxin đã cố gắng đàm phán để thâm nhập vào thị trường Nhật Bản nhưng
những lo lắng an toàn thực phẩm liên quan đến dịch bệnh xảy ra ở một số tỉnh ở
Braxin vẫn khiến cho người tiêu dùng e ngại.Mặt khác, Braxin đang nỗ lực để
giảm sự phụ thuộc vào thị trường Nga.
Tất cả thị trường nhập khẩu lớn đều tăng cường nhập khẩu thịt lợn trong
năm 2003. Mặc dù Nhật Bản đã bắt đầu áp dụng mức thuế bảo hộ, song nhập
khẩu thịt lợn năm 2003 của nước này vẫn tăng lớn ở mức kỷ lục 1,2 triệu tấn.
Tại Nga, nền kinh tế phục hồi khiến khối lượng thịt lợn nhập khẩu tăng nhẹ, tới
710.000 tấn. Đối với Mỹ, khối lượng thịt lợn nhập khẩu trong năm 2003 ước đạt
490.000 tấn, tăng 2% so với năm 2002. Tại Hồng Kông, nhu cầu nhập khẩu thịt
lợn năm 2003 tăng 5%, lên mức kỷ lục 300.000 tấn, do nhu cầu tiêu thụ thịt lợn
thay thế thịt gà mắc bệnh cúm và thay đổi thói quen tiêu thụ thịt tươi sang thịt

Việc Nga áp dụng TRQ- hạn ngạch và thuế nhập khẩu sẽ ảnh hưởng trực
tiếp tới Mỹ, vì thị trường Nga tiêu thụ gần 3% thịt lợn xuất khẩu của Mỹ trong
năm 2002. Việc Mêhicô điều tra chống bán phá giá cũng gây bất lợi cho xuất
khẩu của Mỹ.Tuy nhiên, Mỹ và Mêhicô có lẽ sẽ tìm được một giải pháp đảm
bảo cho cả hai nước theo thoả thuận NAFTA. Năm 2002, Mêhicô tiêu thụ 21%
thịt lợn xuất khẩu của Mỹ. Trong khi mậu dịch với Mêhicô và Nga giảm xuống
thì nhu cầu thịt lợn Mỹ ở Hàn Quốc có thể vẫn cao. Còn Nhật tiếp tục là thị
trường tiêu thụ thịt lợn lớn nhất của Mỹ (chiếm 48% lượng xuất khẩu của Mỹ)
Braxin đã thành công lớn trong xuất khẩu thịt lợn trong vài năm trở lại
đây. Kể từ năm 2000, giá trị xuất khẩu thịt lợn tăng 300%, từ mức 8% tổng sản
lượng lên chiếm khoảng 25% vào năm 2004 (dự báo). Dự báo, năm 2004 sản
xuất thịt của Braxin sẽ tiếp tục tăng trưởng trên 2% nhưng dự đoán xuất khẩu có
thể giảm so với những năm trước.
Thức ăn gia súc, thường chiếm 75% tổng chi phí sản xuất thịt lợn của
Braxin hiện vẫn tăng nhưng duy trì mức tăng thấp, do chương trình trợ cấp
trồng ngũ cốc 2003/2004 tiếp tục trợ cấp cho ngành sản xuất ngô. Mức tiêu thụ
thịt trong nước của Braxin tương đối thấp, chỉ khoảng 18kg/người/năm ở miền
Nam giàu có, nhưng bù lại xuất khẩu lại tăng trưởng ngoạn mục đặc biệt ở các
thị trường Nga, Bulgari, Hồng Kông, Singapore và Achentina.
Chi phí sản xuất thấp và tỷ giá hối đoái cực kỳ cạnh tranh là những thuận
lợi cho Braxin xuất khẩu. Mặc dù Braxin có khó khăn trong thương mại thịt
trong 6 tháng đầu năm do bệnh dịch Aujeszky, nhưng các nhà xuất khẩu Braxin
đã cố gắng khoanh vùng và dập tắt dịch bệnh. Quả thực, Braxin đang chứng tỏ
khả năng không chỉ xuất khẩu được sang thị trường Nga (hiện chiếm 80% thịt
lợn xuất khẩu của Braxin) mà còn nhiều thị trường khác nữa.
Nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu thịt lợn là Canada, đạt khoảng
800.000 tấn. Trong năm 1999, sản lượng thịt lợn của Canada tăng mạnh, trong
đó lượng thịt xuất khẩu toàn bộ lượng dư thừa. Năm 2000, Canada đã vượt qua
Mỹ trở thành nước xuất khẩu thịt lợn lớn nhất thế giới. Hiện nay, Mỹ là thị
trường nhập khẩu lớn nhất của Canada, nhập gần 60% trong tổng khối lượng

Đài Loan trước đây là một nước xuất khẩu thịt lợn khá mạnh trong khu
vực. Nước này có nền nông nghiệp trù phú, luôn chú trọng đến công tác nghiên
cứu, lai tạo để có được giống cây con mới có chất lượng và sản lượng cao. Năm
1995, Đài Loan xuất khẩu khoảng 330.000 tấn thịt lợn. Từ tháng 3 năm 1997,
do dịch lở mồm long móng lan tràn không dập tắt được, do vậy đến nay vẫn
chưa có khả năng phục hồi trở lại là nước xuất khẩu chủ yếu. Đài Loan hiện
chuyển hướng không đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu thịt nữa mà chuyển sang
nhập khẩu thịt từ các nước Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan,
3.2. Nhập khẩu
Trên thế giới các nước và các vùng lãnh thổ nhập khẩu nhiều thịt lợn là:
Nhật Bản, Nga, Mỹ, Hồng Kông, Hàn Quốc, Mêhicô,…
Tính riêng 4 nước và lãnh thổ là Nga, Mỹ, Nhật Bản, Hồng Kông đã nhập
khẩu gần 60% sản lượng thịt buôn bán trên thế giới trong đó phải kể đến là Mỹ
vừa là nước nhập khẩu vừa là nước xuất khẩu với số lượng lớn, đứng ở vị trí thứ
2 về xuất khẩu (sau Canada) và vị trí thứ 3 về nhập khẩu thịt lợn (sau Nhật Bản
và Nga) .
Nhập khẩu thịt lợn của Mỹ có xu hướng tăng và có thể đạt mức kỷ lục vào
năm 2003, ở mức 490.000 tấn. Năm 2002, lượng thịt lợn nhập khẩu vào Mỹ
tăng 13% so với năm 2001 nhưng năm nay có thể chỉ tăng 2% so với năm trước.
Thương mại thịt lợn của Mỹ chủ yếu với Canada do thuận lợi về khoảng cách
địa lý hai nước, 80% lượng thịt nhập của Mỹ là từ Canada. EU tăng lượng thịt
lợn xuất khẩu vào Mỹ năm 2003 sau khi giảm mạnh năm trước do ảnh hưởng
của bệnh FMD.
Sản phẩm Mỹ hiện đang nhập chủ yếu là thịt lợn mảnh, nhưng xu hướng
nhập khẩu thịt lợn sống hiện đang tăng mạnh, nước này nhập khẩu 5,8 triệu lợn
sống trong đó 69% là lợn giống năm 2003. Năm tới, muốn xuất khẩu thịt lợn
vào Mỹ, các nước cần lưu ý phải tuân thủ quy định COOL, quy định về dán
nhãn nguồn gốc xuất xứ-có hiệu lực từ 30/8/2004.
Nhật Bản nhập khẩu lượng thịt hàng năm nhiều nhất thế giới vì tiêu thụ
thịt của Nhật rất mạnh, 2,2 triệu tấn mỗi năm, 10,2 kg/người/năm, tăng trưởng

nước, giảm sự phụ thuộc vào thịt lợn nhập khẩu. Tuy nhiên các nước xuất khẩu
lớn nhất cho Nga như Braxin, EU, Trung Quốc, không bị ảnh hưởng nhiều bởi
quy chế này. Sản lượng thịt lợn trong nước của Nga chưa thể đáp ứng đủ nhu
cầu tiêu thụ, đồng thời Nga sẽ điều chỉnh chính sách thương mại quốc tế với các
nước sắp kết nạp vào EU, sẽ làm giá thịt lợn ở Nga nhích lên trong thời gian tới.
Với dự kiến giai đoạn từ 2001 đến 2010 LB Nga vẫn là thị trường nhập
khẩu thịt lợn với khối lượng lớn, giá thịt lợn tại thị trường Nga vẫn cao, nguồn
thịt viện trợ của một số nước cho Nga ngày càng giảm dần do đó các nhà xuất
khẩu cần phải nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm của mình.
Thị trường Hồng Kông với 7 triệu dân là vùng lãnh thổ có mức tiêu thụ
thịt lợn tính theo đầu người cao nhất châu á. Nguồn cung cấp chủ yếu dựa vào
nhập khẩu, số lượng thịt các loại nhập khẩu tăng đều hàng năm: năm 1996-
145.000 tấn, năm 1999-260.000 tấn, năm 2000-264.000 tấn. Dự kiến năm 2010
Hồng Kông nhập khẩu 300.000 tấn thịt các loại. Trong tổng lượng thịt nhập
khẩu hàng năm của Hồng Kông có khoảng 25.000 tấn thịt lợn sữa và 20.000 tấn
thịt lợn choai. Hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam phấn đấu duy trì và đẩy
mạnh xuất khẩu thịt lợn sang thị trường Hồng Kông.
Bất chấp những bất ổn liên quan đến dịch SARS đầu năm 2003, thịt lợn
nhập khẩu của Hồng Kông vẫn tăng trong năm nay và ở mức cao. Năm 2004,
dự đoán lượng thịt lợn nhập khẩu của nước này đạt mức kỷ lục là 283.000 tấn,
tăng 1% so với năm nay. Xuất khẩu nhiều vào Hồng Kông là các nước Trung

Trích đoạn Một số giải pháp khác
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status