1. Liên hệ giữa đề cương làm bài của nhóm và bài giảng
1. Cách phát hiện vấn đề => câu hỏi NC
2. Cách nghiên cứu lý thuyết => phải học thuộc ít nhất 1 lý thuyết có liên quan trong đề cương + mô hình NC áp
dụng
3. Cách phát triển giả thuyết => giả thuyết dạng gì
4. NC định tính, định lượng hay hỗn hợp
5. Thang đo sử dụng => vì sao sử dụng
6. Phương pháp lấy mẫu, thu thập dữ liệu, xác định cỡ mẫu
====> Học thuộc + hiểu tất cả quá trình làm đề cương. Những anh chị nào trong thời gian qua ko tham gia nhiều
trong phần làm đề cương thì lưu ý
2. Hãy học dưới dạng so sánh,nhìn tổng quát, đọc thêm sách để hiểu rõ và triển khai ý tốt khi làm bài
Để thuận tiện cho việc theo dõi và cập nhật, mọi người tham khảo “Bước 4: Một số chú ý để sử dụng file chia sẻ
thuận tiện” file “Hướng đãn sử dụng google docs”
● https :// docs . google . com / document / d /11 L 3 GNUFyiroXemfLdFM 1 Uh 6 Oj -
QAWFrp 8 hfNc 7 aw 66 g / edit ? hl = en #
CHƯƠNG 1: Vai trò và Tầm quan trọng của Nghiên cứu
Lý thuyết khoa học:
Theo định nghĩa: Lý thuyết khoa học là 1 tập hợp của những khái niệm, định nghĩa và giả thuyết lý thuyết trình bày
có hệ thống thông qua các mối quan hệ giữa các khái niệm, nhằm mục đích giải thích và dự báo các hiện tượng khoa
học.
Như vậy lý thuyết khoa học là một tập hợp của các giả thuyết lý thuyết. Có 2 thuật ngữ giả thuyết được sử dụng
trong NCKH là: Giả thuyết lý thuyết (proposition) và Giả thuyết kiểm định (hypothesis). Giả thuyết lý thuyết là giả
thuyết biểu diễn mối liên hệ giữa các khái niệm trong 1 lý thuyết khoa học. Trong một NCKH, khi chúng ta chưa thể
kiểm định các mối liên hệ này bằng thực tiễn thì các mối liên hệ này là các giả thuyết lý thuyết.
Khi chúng ta đưa ra các giả thuyết và thu thập thông tin để kiểm định các giả thuyết này thì giả thuyết đưa ra được
gọi là giả thuyết kiểm định.
Giả thuyết lý thuyết biểu diễn các mối quan hệ giữa các khái niệm nghiên cứu trong lý thuyết khoa học, còn giả
thuyết kiểm định dùng để biểu diễn các mối liên hệ giữa các biến quan sát.
Giả thuyết lý thuyết nói lên mối liên hệ (tương quan or nhân quả) giữa các khái niệm nghiên cứu và cô lập với
những khái niệm khác ko được nêu. Tức là 1 lý thuyết khoa học có giới hạn của nó, xác định bằng các giả thuyết về
giá trị, thời gian, không gian.
- Nghiên cứu không phải là thu thập thông tin: không nên chỉ sử dụng tài liệu thu thập được & đưa ra gọi đó là
công trình nghiên cứu.
- Nghiên cứu không chỉ là việc chuyển tải từ vị trí này sang vị trí khác
-Nghiên cứu không phải là lục lọi thông tin (Lưu ý tránh các nghiên cứu nhạy cảm, thông tin bí mật )
Nghiên cứu không phải là gây sự chú ý
→ Nghiên cứu là sự khởi đầu bằng một câu hỏi hay một vấn đề nghiên cứu Nếu không làm nổi bật vấn đề
nghiên cứu từ đầu → dễ đi lạc đề
Sự giống và khác nhau giữa NC định tính và định lượng
Giống nhau: Đều là các PP NCKH
Khác nhau:
ĐỊNH TÍNH ĐỊNH LƯỢNG HỖN HỢP
- Gắn liền với việc khám phá các lý
thuyết khoa học
- Dựa vào quá trình quy nạp
- Gắn liền với việc kiểm định các lý
thuyết khoa học
- Dựa vào quá trình suy diễn
- Phối hợp cả định tính và định
lượng
- Tổng hợp của cả hai quá trình
Các trường phái NCKH: Suy diễn và quy nạp
● Suy diễn: bắt đầu từ lý thuyết nền để trả lời câu hỏi NC. Mang tính định lượng, kiểm định.
● Quy nạp: Theo hướng ngược lại với suy diễn. Từ thực tế -> lý thuyết mới hay Quan sát các hiện tượng KH để
xây dựng mô hình và gthich các hiện tượng khoa học. Mang tính định tính
● Hỗn hợp: tổng hợp cả 2 trường phái trên.
So sánh NC định tính và định lượng
Nghiên cứu định tính Nghiên cứu định lượng
1. Định nghĩa
NCĐT là phương pháp thu thập dữ liệu bằng chữ và là
phương pháp tiếp cận nhằm tìm cách mô tả và phân tích đặc
vào một trường hợp cụ thể.
e/ Nghiên cứu so sánh là thiết kế n/c trong cùng một thời
Trang 2 / 36
điểm hay qua nhiều thời điểm
4/ Cách chọn mẫu:
a/ chọn mẫu xác xuất :
- mẫu xác xuất ngẫu nhiên.
- mẫu xác xuất chùm
- mẫu hệ thống.
- mẫu phân tầng.
- mẫu cụm.
a/ chọn mẫu xác xuất:
- mẫu ngẫu nhiên đơn giản.
- chọn mẫu hệ thống.
- chọn mẫu phân tầng.
- chọn mẫu cụm.
5/ Cách lập bảng hỏi:
- không theo thứ tự.
- câu hỏi mở.
- câu hỏi dài.
- câu hỏi gây tranh luận.
- theo thứ tự.
- câu hỏi đóng – mở.
- câu hỏi được soạn sẵn.
- câu hỏi ngắn ngọn, xúc tích.
- câu hỏi không gây tranh luận
Sự khác nhau giữa nghiên cứu định tính và định lượng
Sự khác nhau giữa nghiên cứu định tính và định
lượng
ĐỊNH LƯỢNG ĐỊNH TÍNH
● Nc cơ bản (basic research): tập trung giải quyết những câu hỏi phức tạp mang tính chất lý thuyết các vấn đề
của người quản lý, ít tác động đến những quyết định, chính sách của nhà quản lý.
Nghiên cứu hàm lâm và ứng dung
● Nguyên cứu hàm lâm : trong một ngành KH nào đó là nguyên cứu nhằm mục đích mở rộng kho tàng trí thức
của ngành khoa học đó. Thường NG HL sẽ cho ra đời 1 lý thuyết mới.
● Nguyên cứu ứng dụng : Là nghiên cứu nhầm ứng dụng các thành tựu KH của ngành đó vào thực tiễn nhằm mục
địch trực tiếp hỗ trợ cho việc ra QD. -> áp dụng KH để ng cứu các vấn đề của KD như marketing, nhân sự,…
So sánh NC ứng dụng và NC hàn lâm
Nghiên cứu ứng dụng Nghiên cứu hàn lâm
Giải quyết vấn đề trong thực tiễn QTKD Giải quyết vấn đề về tri thức khoa học trong QTKD
Vai trò của nghiên cứu hàn lâm trong thực tiễn
● Không có nghiên cứu hàn lâm thì không có nghiên cứu ứng dụng
● Nền tảng cho các nghiên cứu ứng dụng
● Không có gì thực tế bằng lý thuyết tốt
● Nghiên cứu hàn lâm thường không thể ứng dụng mà cần nghiên cứu tiếp theo để ứng dụng
Trang 3 / 36
● Nghiên cứu tiếp theo có thể ở dạng: Hàn lâm giải quyết vấn đề; Ứng dụng ra quyết định kinh doanh
● Cần phân biệt ứng dụng và nghiên cứu ứng dụng
Phân loại nghiên cứu.
a. Theo mức độ tổng quát và kết quả:
● Nghiên cứu cơ bản ( Basic Research)
● Nghiên cứu ứng dụng (Applied Research)
b. Theo nguồn thông tin thu thập được
● Nghiên cứu nội nghiệp (desk research)
● Nghiên cứu hiện trường (Field Research)
c. Theo quan sát và mô tả dữ liệu
● Nghiên cứu định tính (qualitative research)
● Nghiên cứu định lượng (quantitative research)
d. Theo tính chất kết quả
● Nghiên cứu khám phá ( Exploratory)
- Thành phần tham gia đã được chỉ định trước vào các nhóm
- Hữu ích khi nhà nghiên cứu không thể điều khiển các biến
Các tiêu chí đánh giá một nghiên cứu:
1. Có nghiên cứu các công trình đã hoàn thành và mới?
2. Vấn đề và mục tiêu NC có được phát biểu rõ ràng?
3. Giả thuyết nghiên cứu có rõ ràng?
Trang 4 / 36
4. Cách NC được thực hiện có rõ ràng?
5. Mẫu có đại diện cho đám đông?
6. Kết quả và thảo luận có phù hợp với vấn đề và mục tiêu nghiên cứu?
7. Trích dẫn có đầy đủ và mới?
8. Bạn có bất kỳ một phê phán nào về nội dung và hình thức?
(tổng hợp thêm từ sách PPNCKH trong kinh doanh - Thầy Thọ):
9. Câu hỏi NC tốt: định nghĩa được cuộc khảo sát, xác định được giới hạn, và cung cấp định hướng cho NC
10. Các khái niệm NC phải được định nghĩa chính xác, rõ ràng, dựa trên những NC trước
11. Bài NC phải cho thấy được sự khác biệt có ý nghĩa so với các NC đã có và có ý nghĩa trong thực tiễn
12. Văn viết phải rõ ràng và súc tích
Những điều quan trọng để thực hiện một nghiên cứu tốt:
+ Câu hỏi NC: phải thật sự cần thiết, hấp dẫn người đọc.
+ CS lý thuyết phải đầy đủ phù hợp.
+ Phạm vi của một bài nc: cần phải đầy đủ
+ Định nghĩa các KN NC phải đầy đủ, rõ ràng
+ Mối liên hệ lý thuyết phải rõ ràng và mang tích logic
+ Chú trọng các lý thuyết nền.
+ Xác định hướng tập trung và phạm vi ng cứu
+ Văn phải xúc tích
+ Phải có sự khác biệt so với những nghiên cứu trước, và có ý nghĩa ( quan trọng nhất )
( Nguồn Sách PPNC – Thầy N Đình Thọ)
Mối quan hệ giữa lý thuyết và giả thuyết
Lý thuyết là nền tảng để xây dựng giả thuyết. Giả thuyết cần có các quan sát để kiểm định. Kết quả của kiểm định
Kiểm tra các mối
quan hệ nhân quả mà
không cần phải kiểm
soát đầy đủ.
Khung
thời
gian
Hiện tại Quá khứ - Hiện tại hoặc
quá khứ (trong
mối tương quan)
- Tương lai (dự
đoán)
Hiện tại hoặc quá
khứ
Hiện tại Hiện tại hoặc quá khứ
Mức độ
kiểm
soát lên
các
nhân tố
hoặc sự
chính
xác
Không hoặc
thấp
Không hoặc
thấp
Thấp đến trung
bình
Vừa đến cao Cao Vừa đến cao
adolescent
girls.
Khảo sát thực
tế hẹn hò của
các cô gái vị
thành niên.
An analysic of
Freud’s use of
hypnosis as it
relates to
current
psychotherapy.
Phân tích cách
sử dụng thuật
thôi miên của
Freud có liên
quan đến tâm ký
hiện tại.
An investigation
that focuses on
the relationship
between the
number of hours
of television
watching and
grade-point
average.
Một cuộc điều tra
tập trung vào mối
tính trong không gian
và khả năng nói.
2. giải thích vì sao 1 phương pháp điều tra khoa học sẽ đem về thông tin có giá trị bất kể kết quả đó có ý
nghĩa hay không???????
Trang 6 / 36
Chương 2: Quy trình nghiên cứu
Định nghĩa các biến
Biến là 1 quan sát :
● Có nhiều giá trị khác nhau
● Biến số khác với hằng số (Chỉ có 1 giá trị duy nhất, không đổi)
Mỗi khái niệm được đo lường dựa trên bất kỳ một trong bốn loại thang đo và có các mức độ chính xác về đo
lường khác nhau được gọi là biến số.
Mỗi biến số là 1 biểu tượng mà các con số hay các giá trị được gán vào
Biến số là các đơn vị hợp lý của việc phân tích mà có thể nhận 1 trong tập các giá trị cho trước
Sự khác nhau giữa khái niệm và biến số
Khái niệm là các biểu tượng và có ý nghĩa khác nhau ở mỗi cá thể
Biến số đo lường được với các cấp chính xác khác nhau
Tính đo lường được là sự khác nhau giữa khái niệm và biến số
Khái niệm không thể đo lường được
Biến số đo lường được bằng các đơn vị đo lường kinh tế, thô sơ, chủ quan hay khách quan
Các kiểu biến số
Một biến số có thể được phân loại theo nhiều cách. Sự phân loại được tiến hành theo 3 cách
Mối quan hệ nhân quả
Thiết kế nghiên cứu
Đơn vị đo lường
Loại biến số
Biến độc lập: Nguồn gốc gây ra thay đổi cho hiện tượng hay tình huống
Biến phụ thuộc: kết quả của thay đổi gây ra bởi biến số độc lập
=> Mối quan hệ giữa biến độc lập và biến phụ thuộc:
● Biến độc lập thì không bị mất đi
Một biến số có quan hệ với biến phụ thựôc hoặc
biến độc lập, không phải là mục tiêu nghiên cứu
•Biến đe doạ (Threatening)
Điều tiết
(Moderator)
Một biến số có quan hệ với biến phụ thuộc hoặc
biến độc lập và có ảnh hưởng đến biến phụ
thuộc
•Biến tương tác (Interacting variable)
Giả thuyết
Giả thuyết là 1 mệnh đề phỏng đoán về mối quan hệ giữa 2 hay nhiều biến số
Trang 7 / 36
Giả thuyết là 1 nhận định sơ bộ,một kết luận giả định về bản chất sự vật do người NC đạt ra để chứng minh
hoặc bác bỏ
Giả thuyết nghiên cứu là câu trả lời giả định cho câu hỏi nghiên cứu và bất biến trong quá trình nghiên cứ
Giả thuyết phải phù hợp với điều kiện thực tế trong nghiên cứu, phù hợp với khung lí thuyết tác giả sử dụng,
nhiều giả thuyết có khả năng kiểm nghiệm trong thực tế.
Giả thuyết đóng vai trò là cơ sở, là khởi điểm của một công trình nghiên cứu, đồng thời cũng có vai trò định
hướng cho công trình nghiên cứu đó. Giả thuyết nghiên cứu khi được kiểm chứng, được khẳng định thì sẽ là cơ
sở lí luận giúp ta nhân thức sâu hơn về bản chất của đối tượng nghiên cứu. Ngay cả khi giả thuyết đó không phù
hợp, bị bác bỏ thì quá trình kiểm chứng cũng rất có ích trong quá trình tìm kiếm chân lí của nhà nghiên cứu.
Đặc tính của giả thuyết:
Là 1 mệnh đề có tính định hướng
Tính xác thực của nó chưa biết đến
Trong hầu hết các trường hợp, xác định mối quan hệ giữa 2 hay nhiều biến số
Đặc điểm:
Giả thuyết cần đơn giản, cụ thể rõ ràng về khái niệm
Giả thuyết phải có thể kiểm chứng được tức là phải dự kiến được các phương pháp và kỹ thuật thu thập và
phân tích
Giả thuyết phải dựa trên cơ sở quan sát các sự kiện riêng biệt. Mọi ý tưởng tuyệt đối hóa giả thuyết đều là sự
Phần tử: Đơn vị mà nhà NC cần quan sát và thu thập dữ liệu ( cá nhân, hộ gia đình, tổ chức,…)
Tổng thể: Tập hợp tất cả các phần tử được định nghĩa là thuộc phạm vi NC
Tổng thể nghiên cứu: Tập hợp các phần tử mà thực tế có thể nhận dạng và lấy mẫu
Đơn vị lấy mẫu: Một hay 1 nhóm các phần tử để từ đó thực hiện việc lấy mẫu trong mỗi giai đoạn của quá
trình chọn mẫu
Khung mẫu: Danh sách các đơn vị lấy mẫu có sẵn để phục vụ cho việc lấy mẫu
Quy trình chọn mẫu
Trang 8 / 36
1. Định nghĩa tổng thể và phần tử
2. Xác định khung lấy mẫu
3. Xác định kích thước mẫu
4. Xác định phương pháp chọn mẫu
5. Tiến hành lấy mẫu theo phương pháp đã chọn
Phân loại phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu xác suất
● Biết trước xác suất xuất hiện của các phần tử vào trong mẫu
● Quá trình chọn mẫu tuân theo quy luật toán, không thể tự ý thay đổi
● Các thông số của mẫu có thể dùng để ước lượng, kiểm nghiệm các thông số của tổng thể
Chọn mẫu phi xác suất
• Chọn các phần tử vào mẫu không theo quy luật ngẫu nhiên
• Không biết xác suất xuất hiện của các phần tử. Chọn mẫu tùy thuộc vào nhà nghiên cứu
• Không thể dùng các thông số của mẫu để ước lượng, kiểm nghiệm các thông số của tổng thể
Các loại chọn mẫu phân chia theo xác suất và phi xác suất
Chọn mẫu xác suất Chọn mẫu phi xác suất
Ngẫu nhiên đơn giản Lấy mẫu thuận tiện
Hệ thống Lấy mẫu phán đoán
Phân tâng Lấy mẫu theo lớp
Theo nhóm Lấy mẫu theo mầm
Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản
● Các phần tử được chọn vào mẫu có xác suất là như nhau và biết trước
Ví dụ:
Chọn mẫu theo phán đoán
● Nhà nghiên cứu tự phán đoán sự thích hợp của các phần tử để mời họ tham gia vào mẫu
Trang 9 / 36
● Đặc điểm giống như chọn mẫu thuận tiện, nhưng nếu khả năng và kinh nghiệm phán đoán tốt sẽ cho mẫu tốt
hơn thuận tiện
Ví dụ:
Chọn mẫu theo lớp
● Dựa vào một sô thuộc tính kiểm soát xác định 1 số phần tử sao cho chúng đảm bảo tỷ lệ của tổng thể và các
đặc trung kiểm soát
● Sử dụng phổ biến nhất trong thực tiễn NC
● Có thể dùng 1 hoặc nhiều thuộc tính kiểm soát như tuổi , giới tính, thu nhập, loại hình DN,….
Ví dụ:
Chọn mẫu theo mầm
● Chọn ngẫu nhiên những người phỏng vấn ban đầu, những người tiếp theo được chọn dựa trên sự giới thiệu
của người trước
● Sử dụng thích hợp khi tổng thể ít, khó nhận ra các đối tượng cần thu thập thông tin
Ví dụ:
Quy trình xác định cỡ mẫu
Xác định sai số e chấp nhận được giữa ước lượng của mẫu và tổng thể
Xác định độ tin cậy anpha mong muốn có trong ước lượng mẫu nằm trong sai số e
Xác định giá trị Z tương ứng với độ tin cậy muốn có đã quyết định
Ước lượng độ lệch chuẩn của tổng thể
Dùng công thức thống kê tương ứng
Tính cỡ mẫu
Trang 10 / 36
Chương 3: Lựa chọn vấn đề nghiên cứu và phê bình một nghiên cứu
1. Chọn vấn đề nghiên cứu?
Vấn đề nghiên cứu là gì?
Là vấn đề mà ta quan tâm hay buộc ta phải nghiên cứu. vd
classrooms on reading level?
Yếu tố ảnh hưởng gì của lớp học mở so với lớp
học truyền thống lên trình độ đọc?
Children who are taught reading in open classroom
settings will read at a higher grade level than children
who are taught reading in a traditional setting.
Trẻ em được dạy đọc ở các lớp học mở sẽ đạt được một
trình độ đọc cao hơn so với những đứa trẻ được dạy đọc
trong một lớp học truyền thống.
Test-Taking Skills and
Grades
Thực hiện bài kiểm tra kỹ
năng và trình độ
Will students who know how to “take” a test
improve their scores?
Liệu sinh viên có biết làm thế nào để thực hiện
tốt bài kiểm để cải thiện điểm số của họ?
Students who receive training in the “Here Today, Gone
Tomorrow” method will score higher on the SAT than
students who do not receive such training.
Những sinh viên ở trường SAT được qua huấn luyện
Trang 11 / 36
bằng phương pháp “Here Today, Gone Tommorrow” sẽ
có điểm số cao hơn những sinh viên chưa qua huấn
luyện này.
Television and Consumer
Behavior
Truyền hình và Hành vi tiêu
dùng của khách hàng
How does watching television commercials
Số lượng trẻ em đang chăm sóc cha mẹ của họ tại nhà đã
tăng hơn 10 năm quan.
2. Nghiên cứu lý thuyết?
Nghiên cứu lý thuyết (Literature Review) là gì? Cấu trúc? Nhiệm vụ?Lưu ý?
Là tìm kiếm xem vấn đề mà ta đang quan tâm nghiên cứu đã được nghiên cứu trước đây chưa và kết quả của
nó như thế nào.
Đối với đề tài khoa học: Nếu phát hiện đã có người nghiên cứu rồi thì cũng đừng nên chán nãn mà nên chọn
những đề tài khác, hoặc phát triển thêm một số vấn đề nghiên cứu từ công trình đã có.
Các chuyên gia đánh giá phần này sẽ dựa vào:
● Tính logic trong lập luận của ta
● Tính đầy đủ trong các tham khảo của ta ở các công trình nghiên cứu có liên quan trước đó.
● Tính liên quan đến mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Cấu trúc của phần này được xây dựng dựa trên khung phân tích (Analytical Framework) của mô hình
nghiên cứu.
Trong một số trường hợp, mô hình này còn được gọi là Mô hình khái niệm (Conceptual Framework)
● Sơ đồ diễn tả mối quan hệ giữa các nhân tố (biến số)
● Đây là cơ sở để xây dựng các giả thuyết
Ví dụ về mô hình phân tích:
Nhiệm vụ của phần nghiên cứu lý thuyết là dựa vào các lý thuyết hay công trình nghiên cứu trước đây để mô
tả các mối quan hệ này
● Mô tả các mối quan hệ này sẽ giúp ta phát triển các giả thuyết nghiên cứu mới dựa vào những gì mà lý
thuyết và công trình nghiên cứu trước đây chưa giải thích
● Đó cũng là những mối quan hệ mà ta quan tâm nhưng chưa có lời giải thích thỏa đáng
Lưu ý:
● Những giải pháp đã phát hiện không nhất thiết luôn luôn giải thích được các quan sát hiện tại
● Những giải pháp đã khám phá đôi khi cần được điều chỉnh hay thậm chí loại bỏ vì không còn phù hợp với
hoàn cảnh mới
Cách thức nghiên cứu lý thuyết? (xem chi tiết “3 @ Nghiên cứu lý thuyết” bên dưới )
Các nguồn thông tin khác nhau?
Information
The original reports of
the original work or experience.
Nguồn sơ cấp cung cấp các báo cáo của các công
trình nghiên cứu gốc
Journals, abstracts and scholarly books,
Educational Resources Information Center
(ERIC), movies
Slide bài giảng của cô Quý có 1 số lời khuyên khi nghiên cứu:
1. Cẩn thận khi sử dụng nguồn Internet!!!
Hiện tại Internet không bị kiểm soát (không giống như nguồn thông tin thứ cấp và sơ cấp)
Internet rất tốt cho giải trí và phát triển ý tưởng => Nhưng hãy cẩn thận!!
2. (Tại sao) tạp chí là nguồn thông tin tốt nhất! (?)
Bài báo được viết dưới dạng thống nhất và rõ ràng
Được đồng nghiệp đánh giá (Peer review)
● Chuyên gia đánh giá bài báo và đưa ra các nhận xét.
● Nhiều bài báo nộp nhưng không bao giờ được đăng.
3. Sử dụng tóm tắt
Tóm tắt là một hay hai đoạn văn tóm lược nội dung bài báo.
Bạn có thể tóm tắt để quyết định xem bài báo có hữu dụng không.
4. Sử dụng bảng liệt kê (INDEXES)
Comprehensive Dissertation Index
Social Sciences Citation Index (SSCI)
Bibliographic Index
5. Sử dụng các công cụ điện tử trong các hoạt động nghiên cứu
Tìm kiếm thông tin trên mạng.
Lợi ích:
● Thuận tiện, tiết kiệm thời gian
● Đó là tương lai
6. Nghiên cứu trên web qua các công cụ tìm kiếm
Phương tiện giúp tìm kiếm thông tin trên mạng
công ty không tăng mà có khuynh hướng giảm. Nảy sinh vấn đề nghiên cứu có hay không mối quan hệ giữa việc đào
tạo kỹ năng bán hàng và doanh số bán hàng của anh em sale hay không. Vì vậy, ý tưởng có thể xuất phát từ kinh
nghiệm hay hiểu biết của cá nhân, hoặc thông tin tình cờ hàng ngày chúng ta nghe mà chúng ta rất quan tâm
- Có thể trao đổi với giáo viên hướng dẫn: Đừng ngại trao đổi với giáo viên hướng dẫn, nên xem họ là người bạn
lớn. đôi khi, giáo viên hướng dẫn cũng không hiểu vấn đề mà bạn đang quan tâm, tuy nhiên họ sẽ tìm hiểu và cho
bạn nhiều lời khuyên hữu ích. Và nghiên cứu cũng là sản phẩm của chung người hướng dẫn và người nghiên cứu.
Có khi, từ một ý tưởng, sau khi trao đổi với giáo viên và chọn đề tài, đề tài đó có thể khác 100 % so với ý tưởng ban
đầu.
- Nghĩ về vấn đề chưa được nghiên cứu: Thị trường Việt Nam rất tiềm năng, có rất nhiều vấn đề chưa được nghiên
cứu. Tuy nhiên, sinh viên MBA nghiên cứu xoay quanh các đề tài cũ như sự hài lòng về chất lương dịch vụ, do
nguồn thông tin bị hạn chế
- Có thể nghĩ về các vấn đề liên quan đến tiêu đề trong bài học. Ví dụ như quản trị nhân sự, quản trị sản xuất,
chúng ta có hứng thú đến 1 chương nào đó, chọn chương đó làm điểm xuất phát.
2. Từ ý tưởng đến câu hỏi nghiên cứu, đến giả thuyết NC
Sau khi xác định được lĩnh vực yêu thích hình thành câu hỏi NC:
Câu hỏi nghiên cứu là một sự diễn đạt về vấn đề quan tâm hay mục đích được tuyên bố một cách rõ ràng và
hàm ý về mối quan hệ giữa các biến.
Ví dụ: trong nhân sự: Liệu có sự khác biệt hay không giữa người được mua cổ phiếu hay ngươi không mua
cổ phiếu trong công ty CP?
Trang 14 / 36
3. Nghiên cứu lý thuyết (rất quan trọng khi xây dựng đề cương nghiên cứu)
Nghiên cứu lý thuyết đi theo chuỗi như sau:
Diễn đạt ý tưởng của bạn dưới dạng thuật ngữ tổng quát và qua nguồn TT chung
Nghiên cứu thông qua nguồn thông tin thứ cấp
Nghiên cứu thông qua nguồn thông tin sơ cấp
Tổ chức các ghi chép của bạn.
Viết đề cương
● Diễn đạt ý tưởng của bạn dưới dạng thuật ngữ tổng quát và qua nguồn thông tin chung. Vd về thuật ngữ
tổng quát: Với nghiên cứu cổ phần hóa doanh nghiệp : thuật ngữ tồng quát là “cổ phần hóa”, Với nc sự gắn bó
của người lao động thì thuật ngữ tồng quát là “sự gắn bó”
Tránh việc khảo sát nhóm nằm ngoài đám đông nghiên cứu, hoặc nhóm nằm trong đám đông nhưng không đại
diện cho đám đông.
6. Kết quả và thảo luận có phù hợp với vấn đề và mục tiêu nghiên cứu?
Lưu ý chỉ thảo luận xung quanh vấn đề nghiên cứu, không đi lan man vô những vấn đề không quan trọng.)
7. Trích dẫn có đầy đủ và mới?
Trang 15 / 36
8. Bạn có bất kỳ một phê phán nào về nội dung và hình thức?
5. Vài cạm bẫy cần tránh!!
- Đừng quá yêu thích ý tưởng của bạn, bạn có thể thay đổi ý tưởng đầu tiên,
Đôi khi ban đầu chúng ta đưa ra một vấn đề nghiên cứu, sau đó khi nghiên cứu xem có cơ sở lý thuyết cho
vấn đề đó và đánh giá xem vấn đề có có cơ sở lý thuyết hay không hay chúng ta có khả năng nghiên cứu nó hay
không, chúng ta phải chuyển qua nghiên cứu vấn đề khác. Có nhiều người do quá yêu thích ý tưởng của mình mà
không chịu thay đổi người đó sẽ bị gặp trục trặc, do chúng ta ko có thông tin hoặc không có khả năng thực hiện. Vì
vậy, chúng ta cần phải thay đổi ý tưởng khi cần thiết
- Đừng chọn những nghiên cứu tầm thường không quan trọng. Cần đặc biệt lưu ý. Điều này rất quan trọng, vì
người ta thường đánh giá vấn đề nghiên cứu theo tiêu chí:
1. Tại sao chúng ta nghiên cứu vấn đề đó?
2. Kết quả nghiên cứu này để làm gì.
Nếu nó à một dự án tầm thường chúng ta lặp lại và làm tệ hơn, hoặc nếu ko ai cần sử dụng nghiên cứu này thì ko cần
nghiên cứu. Đề cương luôn có nội dung đóng góp của đề tài
3. Kết quả nghiên cứu cần cho ai: ví dụ nhà hoạch định kinh tế, hay nhà hoạch định nhân sự
- Đừng cố gắng làm nhiều hơn có thể: đừng bao giờ nghĩ cái gì cũng muốn ôm hết vào mình mà không để cho ai
làm hết.Mỗi một đề tài chúng ta chỉ có thể nghiên cứu trong một phạm vi , trong một không gian và một khoảng thời
gian nhất định. Do đó, nếu chúng ta nắm gốc rễ mọi vấn đề thì chúng ta không thể nào có thời gian làm nỗi. Đó là lý
do mà trong đề cương nghiên cứu có phần phạm vi nghiên cứu
- Phải xác định mục tiêu nghiên cứu phù, nếu chúng ta đưa ra mục tiêu quá lớn thì chúng ta không thể hoàn thành
trong nhiệm vụ nghiên cứu của mình
(Phạm vi nghiên cứu: có thể là giới hạn về không gian, thời gian và đối tượng khảo sát)
- Cố gắng làm điều gì đó mới: chúng ta có thể lặp lại nghiên cứu khác nhưng không đi theo hướng người ta đã làm
mà có điều chỉnh bổ sung, có nghĩa là có kế thừa và phát triển. Tuy nhiên, nên lưu ý Các bài báo được công bố ít
- Các phương pháp chọn mẫu xác suất và các phương pháp chọn mẫu phi xác suất.
MẪU VÀ NHỮNG LÍ DO CỦA VIỆC CHỌN MẪU
Một số định nghĩa
Phần tử:
Một phần tử là một đơn vị trong đó thông tin về nó được thu thập và làm cơ sở cho việc phân tích. Thông thường
trong lấy mẫu nghiên cứu marketing, những phần tử là con người, tuy vậy cũng có những loại phần tử khác như là:
gia đình, cửa hàng hoặc doanh nghiệp.
Tổng thể
Một tổng thể là sự tập hợp các phần tử. có 2 loại tổng thể:
- Tổng thể chủ đích (target population): Là một tổng thể được yêu cầu bởi đặc trưng thông tin cần nghiên cứu.
- Tổng thể lấy mẫu (sampling population): Là một tổng thể thực tế được chọn trên yêu cầu thông tin cần nghiên cứu.
Cấu trúc mẫu (sampling frames)
Cấu trúc mẫu là một danh sách các phần tử lấy mẫu. Ví dụ: yêu cầu đánh giá trình độ trung bình của sinh viên năm
thứ 4 của một trường đại học. Tổng thể chủ đích là tất cả sinh viên đang học năm thứ 4 đã theo học từ năm đầu tiên.
Tuy nhiên, một số sinh viên đã bỏ học vì chuyển sang trường khác, hoặc vì lý do nào đó. Số sinh viên còn lại là tổng
thể lấy mẫu. Danh sách các sinh viên này là cấu trúc mẫu. Mỗi sinh viên trong danh sách là một phần tử lấy mẫu.
Những lí do của việc chọn mẫu
Trong nghiên cứu , việc lấy mẫu để điều tra thay vì phải điều tra toàn bộ được thực hiện bởi các lý do sau:
- Những người ra quyết định thường bị giới hạn về mặt thời gian, do đó họ phải dựa vào bất kỳ
thông tin nào có thể dùng được trong thời gian đó.
- Đối với qui mô tổng thể nghiên cứu lớn, chi phí cho một cuộc điều tra toàn bộ rất lớn, sẽ gặp hạn chế về kinh phí.
Vì vậy việc điều tra trên một mẫu sẽ có ưu thế hơn nhưng vẫn bảo đảm thu thập đầy đủ thông tin thích hợp.
- Trong một số trường hợp, việc tiến hành điều tra toàn bộ tổng thể vẫn không thể nâng cao độ
chính xác của thông tin trong khi lại tốn kém chi phí và mất nhiều thời gian.
- Trong những tình huống mà việc kiểm tra, đo lường có thể phá hủy phần tử thì việc lấy mẫu là điều hiển nhiên. Ví
dụ: kiểm tra các phim chụp ảnh
Vấn đề sai số trong việc chọn mẫu
Thay vì điều tra toàn bộ, chúng ta chỉ thu thập các thông tin từ các phần tử trong mẫu được chọn, sau đó sử dụng các
kết quả này để ước lượng cho tổng thể, vì vậy luôn luôn xuất hiện sự sai biệt về trị số mẫu và trị số tổng thể. Sai số
này gồm hai loại:
mục đích và phạm vi nghiên cứu của mình.
VD: chúng ta cần nghiên cứu người dân sinh sống tại TP.HCM có độ tuổi từ 18-45 thì tập hợp những người sinh
sống tại TPHCM ở độ tuổi từ 18-45 là đám đông để chúng ta nghiên cứu.
2. Mẫu: mẫu là một nhóm nhỏ đại diện cho đám đông
3. Khả năng khái quát hóa là khả năng suy diễn tính chất của đám đông dựa trên tính chất mẫu.
- Nghiên cứu đám đông thông qua mẫu nên tính khái quát phải cao
VD1: Các yếu tổ ảnh hưởng đến tiêu dùng trong ngành trang trí nội thất.
Họ phải xác định mẫu thì dựa vào: - KH hướng tới của doanh nghiệp là ai?
VD2: Nghiên cứu mức độ chi tiêu cho mỹ phẩm ở phụ nữ:
Nếu chỉ nghiên cứu ở quý bà thì có thể mức chi tiêu sẽ cao và nếu chỉ dừng lại ở đối tượng đó thì kết quả nghiên cứu
sẽ bị sai lệch
II. Các phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu đại diện: mẫu đại diện phải mang những tính chất của đám đông
1. Chọn mẫu xác suất – là phương pháp chọn mẫu mà trong đó nhà nghiên cứu biết trước được xác suất tham gia
vào mẫu của các phần tử. Theo phương pháp này thì các tham số của nó có thể dùng để ước lượng hoặc kiểm
nghiệm các tham số của đám đông nghiên cứu
VD: trong lớp có 100 người, cô giáo gọi 1 người thì sẽ tính đc xác suất là bao nhiêu và xác suất là bằng nhau
Phương pháp chọn mẫu xác suất thực hiện việc chọn các phần tử của mẫu dựa trên việc sử dụng các quy luật phân
phối xác suất trong thống kê toán. Tuy nhiên, trong phần này do đối tượng nghiên cứu của môn học nên không trình
bày tỉ mỉ như trong thống kê học, mà chủ yếu giới thiệu phương pháp để trên cơ sở đó có thể lựa chọn phương pháp
chọn mẫu thích hợp cho từng mục tiêu nghiên cứu.
1.2. Kỹ thuật chọn mẫu xác suất
a. Chọn mẫu ngẫu nhiên giản đơn
- Mỗi thành viên của đám đông có cơ hội được chọn bằng nhau và độc lập
- Mẫu nên đại diện cho đám đông
Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản
● Chọn mẫu ngẫu nhiên là một quá trình chọn lựa mẫu sao cho mỗi đơn vị lấy mẫu trong cấu trúc có một cơ
hội hiện diện trong mẫu bằng nhau.
● Chọn mẫu ngẫu nhiên có hai loại: chọn mẫu ngẫu nhiên có sự thay thế hoặc là không có sự thay thế.
Trong lấy mẫu ngẫu nhiên có sự thay thế thì một phần tử đã được chọn luôn luôn được thay thế trước khi
- Chọn mỗi 5th từ điểm bắt đầu
Chọn mẫu có hệ thống
Chọn mẫu có hệ thống với sự bắt đầu ngẫu nhiên là một phương pháp chọn mẫu được tiến hành bằng cách lấy
từng đơn vị thứ k từ một tổng thể nghiên cứu có thứ tự. Đơn vị đầu tiên được chọn một cách ngẫu nhiên, k được gọi
là khoảng cách lấy mẫu, số nghịch đảo 1/k là tỷ lệ lấy mẫu.
Ưu điểm của phương pháp chọn mẫu có hệ thống là mẫu được thiết lập dễ dàng, dễ thực hiện trên hiện trường
(điều tra theo đường phố), mẫu được phân tán đều khắp tổng thể nghiên cứu và kết quả tính toán chính xác hơn so
với lấy mẫu ngẫu nhiên đơn giản.
Nhược điểm của phương pháp chọn mẫu này là: có thể một mẫu được lấy chỉ bao gồm những đơn vị có cùng một
dạng, và cần thiết phải có danh sách các đơn vị lấy mẫu theo thứ tự.
Vì thế phương pháp chọn mẫu có hệ thống thường được áp dụng khi thứ tự của các đơn vị lấy mẫu là ngẫu nhiên,
gần như có sự phân nhóm trong tổng thể nghiên cứu.
c. Chọn mẫu phân tầng (STRATIFIED SAMPLING)
Trong phương pháp chọn mẫu phân tầng hay phân nhóm đồng nhất (stratified sampling), người ta chia đám đông ra
thành nhiều tầng gồm các nhóm nhỏ (stratum), các nhóm này chính là đơn vị chọn mẫu. Các nhóm này thõa mãn
một tiêu chí là các phần tử trong cùng một nhóm có tính đồng nhất (homogeneity) cao và các phần tử giữa các nhóm
có tính dị biệt (heterogeneity) cao. Hay nói cách khác, nguyên tắc phân nhóm là cùng nhóm đồng nhất, khác nhóm
dị biệt.
Phương pháp chọn mẫu phân tầng có tính phân bố cao trong đám đông nghiên cứu. Hơn nữa, nếu các phần tử trong
cùng một nhóm có tính đồng nhất cao sẽ giúp cho việc chọn các phần tử trong đơn vị (nhóm) cho mẫu sẽ có hiệu
quả thống kê cao. Vì vậy, trong các phương pháp chọn mẫu theo xác suất thì phương pháp chọn mẫu phân tầng cho
chúng ta hiệu quả thống kê cao nhất
- Mục tiêu chọn mẫu là lựa chọn một mẫu đại diện cho đám đông
Trang 20 / 36
- Giả sử rằng: Người trong đám đông có khác nhau một cách hệ thống theo một vài tính chất/đặc điểm? Và các tính
chất/đặc điểm có liên quan đến các yếu tố đang được nghiên cứu? Thì chọn mẫu phân tầng là một lựa chọn
- Đặc điểm:
+ Các tính chất được nhận dạng (vd. Giới tính)
+ Các cá thể trong đám đông được liệt kê riêng theo loại của họ (vd., nữ và nam)
+ Đại diện theo tỷ lệ của mỗi nhóm được xác định (vd., 40% nữ & 60% nam)
đơn vị lấy mẫu là lớp; do vậy không cần phải lập danh sách sinh viên, mà lập danh sách các lớp. Khi thực
hiện điều tra, thì tất cả sinh viên trong một lớp được chọn đều được tiếp xúc.
Trang 21 / 36
Ưu điểm của phương pháp chọn mẫu theo cụm là không cần thiết phải xây dựng một danh sách tất cả các phần tử
trong tổng thể nghiên cứu, mà cấu trúc đối với lấy mẫu theo cụm là một danh sách các cụm. Ngay cả khi danh sách
các phần tử đã có sẵn, việc lấy mẫu theo cụm vẫn ít tốn kém hơn về chi phí.
Nhược điểm của phương pháp này là ở chỗ trong thực tế, lấy mẫu theo cụm không hiệu quả bằng lấy mẫu ngẫu
nhiên hay phân tầng. Chẳng hạn, những hộ gần kề nhau thường có đặc điểm tương tự nhau hơn những hộ riêng
biệt. Điều này sẽ ảnh hưởng đến tính đại điện của mẫu, và được thể hiện qua sai số chọn mẫu tăng.
Phương pháp chọn mẫu theo cụm được áp dụng khi danh sách đầy đủ các phần tử trong tổng thể nghiên cứu không
có sẵn, hoặc khi chi phí điều tra thấp được xem là quan trọng hơn so với yêu cầu về sự chính xác
f. Chọn mẫu nhiều giai đoạn
Việc chọn mẫu được thực hiện qua hai hay nhiều giai đoạn. Trước hết, tổng thể nghiên cứu được phân ra thành
những đơn vị của giai đoạn đầu tiên, từ đó tiến hành chọn mẫu, và sau đó có thể tăng thêm nhiều giai đoạn qua
việc phân chia tổng thể nghiên cứu thành nhiều cấp bậc của những đơn vị lấy mẫu tương ứng với mỗi giai đoạn lấy
mẫu khác nhau.
Ví dụ: Giả định muốn chọn một mẫu 30 hộ từ một thành phố nào đó, và thành phố được phân thành 10 khu phố,
mỗi một khu phố có 10 hộ. Cách làm như sau:
(1) Đánh số các khu phố từ 1 - 10.
(2) Dùng bảng số ngẫu nhiên lấy 5 số ngẫu nhiên; tương ứng là các khu phố được chọn.
(3) Đánh số thứ tự các hộ, liên tục từ 1 đến 10 trong cấu trúc của các khu phố được chọn.
(4) Lấy 5 nhóm số ngẫu nhiên, với mỗi nhóm gồm 6 số trong từng khu phố được chọn.
(5) Chọn 6 hộ theo nhóm số ngẫu nhiên ban đầu; sau đó chọn 6 hộ ở nhóm số ngẫu nhiên tiếp theo đến khi đủ 30.
Ưu điểm của phương pháp lấy mẫu này là có tính hiệu quả và linh hoạt hơn lấy mẫu một giai đoạn. Ngoại trừ
những đơn vị của giai đoạn thứ nhất, cấu trúc mẫu chỉ yêu cầu đối với những đơn vị đã chọn để lấy những đơn vị
phụ.
Nhược điểm: Lý thuyết phức tạp khi áp dụng trên hiện trường; qui trình tính toán khó khăn cho những người
không phải là chuyên viên thống kê.
Phương pháp lấy mẫu theo nhiều giai đoạn được áp dụng khi danh sách của các đơn vị lấy mẫu không có sẵn, tổng
thể nghiên cứu trải rộng trên vùng rộng lớn
Tuy nhiên cách chọn mẫu “nhờ giới thiệu” này có thể có sai lệch vì những người được giới thiệu ra thường có
một số đặc điểm tương đồng về nhân khẩu học hay tâm lý, sở thích. Do đó, phương pháp này chỉ được sử dụng
khi các phần tử mà chúng ta muốn nghiên cứu rất khó tìm.
d. Chọn mẫu phán đoán
Theo phương pháp chọn mẫu phán đoán, những đơn vị của mẫu được chọn dựa vào điều mà nhà chuyên môn suy
nghĩ có thể thỏa mãn một tiêu chuẩn nào đó. Có hai hình thức lựa chọn phán đoán: lấy mẫu theo dư luận và phán
đoán thống kê.
e. Chọn mẫu kiểm tra tỷ lệ
Chọn mẫu kiểm tra tỷ lệ là phương pháp chọn mẫu mà trong đó người nghiên cứu cố gắng bảo đảm mẫu được lựa
chọn có một tỷ lệ tương ứng với tỷ lệ tổng thể theo các tham số quan trọng nào đó (tuổi tác, giới tính, nghề
nghiệp ). Các phần tử trong mẫu cũng được chọn theo chủ ý của người nghiên cứu chứ không phải dựa vào quy
luật ngẫu nhiên. Chẳng hạn, nếu xác định kích thước mẫu cần điều tra là 100, và giới tính là một tham số quan
trọng đối với nội dung điều tra (chẳng hạn việc sử dụng kẹo sôcola); khi đó, nếu biết được tỷ lệ giới tính nữ - nam
của tổng thể là 51:49 (tỷ lệ bách phân) thì mẫu được chọn sẽ có 51 nữ và 49 nam. Đây là một ví dụ đơn giản; trong
thực tế, tùy thuộc nội dung điều tra, người ta xác định tỷ lệ theo nhiều tham số: tuổi tác - giới tính - thu nhập
III. Mẫu, cở mẫu, và sai số mẫu
1. Sai số mẫu: Sai số do chọn mẫu là các sai số gây ra do việc chọn mẫu để thu thập dữ liệu, và từ thông tin của mẫu
này, chúng ta suy ra thông tin của đám đông thay vì thu thập dữ liệu của toàn bộ đám đông nghiên cứu.
Sai số mẫu = sự khác nhau giữa tính chất mẫu và tính chất đám đông
VD: đo mức chi tiêu cho thời trang của tầng lớp trung bình của giới nữ là 800.000d/tháng và chúng ta chấp nhận sai
số là 2% có nghĩa là dao động từ 720 – 880.
- Giảm sai số mẫu là mục tiêu của kỹ thuật lấy mẫu
- Khi cỡ mẫu tăng lên, sai số mẫu giảm
2. Cỡ mẫu
2.1.Ước lượng cỡ mẫu:
- Mẫu lớn cần khi: sự thay đổi trong một nhóm là lớn, sự khác biệt giữa các nhóm là nhỏ. VD: đo sự tác động của
nghệ thuật lãnh đạo lên sự hài lòng của nhân viên.=> Nếu chỉ nghiên cứu trong 1 doanh nghiệp thì không ổn vì số
lượng người trong 1 cty ko đủ lớn để chúng ta nhận ra sự khác biệt giữa các nhóm. Bởi vì: một nhóm gồm nhiều loại
khác nhau, cần nhiều điểm dữ liệu để đại diện cho nhóm. Khi sự khác nhau giữa các nhóm nhỏ, thì cần càng nhiều
người tham gia để đạt khối lượng tới hạn “critical mass” để phát hiện ra sự khác biệt.
- Khi gửi thư, cần lưu ý hình thức và chất lượng bao thư, tem.
- Sự động viên bằng tiền hoặc tặng phẩm sẽ làm gia tăng tỷ lệ trả lời.
- Đối với các vấn đề riêng tư cần đảm bảo việc dấu tên hay giữ bí mật.
- Nên có những cuộc tiếp xúc sau khi người trả lời đã nhận được bản câu hỏi.
- Huấn luyện, tuyển chọn nhân viên phỏng vấn kỹ lưỡng sẽ góp phần tăng hiệu quả tiếp xúc.
ĐỀ THI VÀ TRẢ LỜI
Câu 1.Tại sao việc tăng cỡ mẫu làm giảm sai số mẫu?
Bởi vì Sai số mẫu = sự khác nhau giữa tính chất mẫu và tính chất đám đông
Khi cỡ mẫu càng tăng thì tính chất mẫu càng gần giống tính chất đám đông nên làm giảm sai số mẫu.
Câu 2. Tại sao khả năng khái quát hóa là điều mấu chốt của 1 NC thành công?
Khả năng khái quát hóa là khả năng suy diễn tính chất của đám đông dựa trên tính chất mẫu. Chúng ta không thể
nghiên cứu toàn bộ đám đông mà phải thông qua mẫu nên phải có khả năng khái quát hóa cao. Nếu không có khả
năng khái quát hóa thì độ tin cậy của kết quả nghiên cứu sẽ không cao……….(bổ sung thêm dùm Linh nha!)
Câu 3. a. Vì sao phải chọn mẫu?
Chúng ta không thể nghiên cứu trên đám đông mà phải thông qua mẫu vì chọn mẫu sẽ giúp tiết kiệm chi phí, thời
gian và chọn mẫu có thể cho kết quả chính xác hơn nhưng mẫu được chọn phải đại diện
b. Sự giống nhau và khác nhau giữa chọn mẫu trong nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Cho vd minh
họa. (không biết)
Chọn mẫu trong NC định tính : NC định tính là một dạng của NC khám phá. các dự án nghiên cứu được thực hiện
với một nhóm nhỏ các đối tượng nc. Vì thế mẫu không được chọn theo phương pháp xác suất mà chọn theo mục
đích xây dựng lý thuyết ( chọn mẫu lý thuyết). Các phần tử được chọn sao cho thõa mãn một số đặc tính của đám
đông nc.
Chọn Mẫu trong nc Định lượng : Chọn mẫu đóng vai trò quan trọng vì nó liên quan trực tiếp đến chi phí và chất
lượng dự án . Khác với nc Định tính : kích thước mẫu nhỏ và chọn theo mục đích xây dựng lý thuyết. NC định
lượng thường đòi hỏi mẫu có kích thước lớn và thường được chọn theo pp sác xuất để có thể đại diện được cho
đám đông cần nghiên cứu. Tuy nhiên có thể chọn ko theo pp sx. NC định lượng thì mẫu phải có khả năng tổng
quát cao cho kết quả nghiên cứu. (bổ sung của nhóm 5)
Còn ví dụ : các bạn xem sách PPNC của thầy Thọ nhé
Câu 4. Phân biệt sự khác nhau giữa chọn mẫu xác suất và chọn mẫu phi xác suất. Cho ví dụ.?
Trang 24 / 36
uống cà phê không?
Thích 1
Không thích 2
Không ý kiến 3
- câu hỏi nhiều lựa chọn: là câu hỏi trong đó người trả lời có thể lựa chọn một hay nhiều trả lời cho sẵn. vd Trong
các nước sau đây, bạn thường xem phim nước nào?
Mỹ 1
Đức 2
Hàn Quốc 3
Trung Quốc 4
Việt Nam 5
Thang đo thứ tự
- câu hỏi buộc sắp xếp thứ tự: người trả lời buộc phải sắp xếp thức câu trả lời
Bạn vui lòng sắp xếp theo sở thích môn thể thao nào bạn yêu thích nhất?
Bóng đá ….
Quần vợt ….
Bóng bàn ….
Cầu lông ….
Trang 25 / 36