Tản mạn về Thư pháp Nhật Bản
Nhật Bản là một quốc gia rất coi trọng nghệ thuật thư pháp, lĩnh vực có ảnh hưởng rất
lớn với nền mỹ thuật của nước này. Trong số 127 triệu người, Nhật Bản có đến gần 10
triệu đang tham gia viết thư pháp bao gồm cả những nhà thư pháp nổi tiếng và người
đang học viết thư pháp.
Thư pháp được coi là một trong những loại hình nghệ thuật độc tôn của xứ sở Hoa Anh Đào. Tuy
nhiên, không có bất cứ tiêu chuẩn nào đối với những người muỗn trở thành nhà thư pháp, cũng
không có sự phân biệt giữa nam và nữ. Vấn là là ở chỗ họ có khả năng, đủ kiên trì và cái tâm để
theo đuổi loại hình nghệ thuật thanh tao này không? Nhà nữ thư pháp Kanagawa Michico khẳng
định: "Không có sự phân biệt nào giữa nam và nữ, điểm khác biệt là ở chỗ mỗi người có cách
thể hiện khác nhau”. “Người đam mê thư pháp có thể tìm thấy ở cuộc triển lãm này những bức thi pháp ấn tượng và
có tính nghệ thuật cao. Với những nét bút tài hoa, các nghệ sĩ thư pháp bậc thầy của Nhật Bản
đã mang đến cho người xem những cảm xúc độc đáo. Có cảm giác như họ đang vẽ chứ không
phải viết. Một trong những điểm gây ấn tượng cho những người tham dự là màn biểu diễn của
nhà nữ thư pháp Kanagawa Michiko. Bà đã dùng lại mực của 4 nhà thư pháp trình diễn trước
mình với quan niệm sử dụng triệt để những gì đã có, theo đúng tinh thần của người Nhật”. “Dường như các nhà thư pháp Nhật Bản chú ý tới yếu tố tạo hình hơn là để người xem hiểu ý
nghĩa của những chữ mình thể hiện. Chính ông Chủ tịch Hội thư pháp Mainichi cũng thừa nhận
"có đến 80% những tác phẩm được trưng bày là không đọc được và đây cũng là một trong
những mục đích của những nhà thư pháp viết ra nó. Một trong những nét đặc trưng của nghệ
thuật thư pháp là mang đến cho người xem những xúc cảm khác nhau. Họ có thể hiểu hoặc
không hiểu, có thể thấy đẹp hoặc không đẹp Đó cũng là chủ ý của các nhà thư pháp”.
Nguồn gốc thư pháp Tiền vệ Nhật Bản
Nhật bản là một đất nước kì quặc, và cả lẽ không có gì lạ lùng trong
khi khoa học kĩ thuật vượt trội, thì nghệ thuật Thư pháp xa xưa vẫn
đang tồn tại. Đó là một bộ môn nghệ thuật cã sự hồi kháng tuyệt vời
và đã phát triển chậm rãi từ hơn 3.000 năm qua. Trong thế kỉ 20, Thư
pháp đã phải đối mặt với những thách thức ghê gớm nhất để sống sót
và giữ bản sắc.
Từ máy chữ, bộ vi xử lý ngôn ngữ, cho đến máy tính điện tử đã tạo ra
việc viết lách tốt cho mọi công việc, nhưng những thành phần nhàn dỗi
như trẻ em hay các bà nội trợ sẽ là những đối tượng chủ yếu để học
Thư pháp, thì họ lại bị lôi cuốn bởi những môn nghệ thuật khác hay
theo đuổi thời trang. Bất chấp điều đó, một số người thực hành nghiệp
dư ưu tú vẫn tiêu tốn thời gian và tiền bạc cho môn nghệ thuật này.
Đó là sự bảo trợ cho việc sống còn của Thư pháp. Về nghệ thuật, các
Thư pháp gia đã đặt vấn đề về tính tự nhiên của Thư pháp, như dễ
đọc, mối quan hệ với nghệ thuật trừu tương, và tự nhiên của sự vật.
Các trường phái Thư pháp khác nhau đảm bảo câu trả lời khác nhau
cho các vấn đề về phong cách khác nhau, trải dài từ bảo thủ đến cấp
tiến. Sự cấp tiến tối cao của phong cách-Thư pháp Tiên phong- là vấn
đề được thảo luận trong tiểu luận này.Thư pháp Tiên phong hay còn gọi là Zeneisho trong tiếng Nhật, có thể
cho mình. Cả Kusakabe và Hidai đều cảm nhận được mục đích của việc
luyên tập Thư pháp, đó là sự giáo dục nhân cách và biểu hiện tinh
thần. Kusakabe nhấn mạnh việc giáo dục phiến diện, ông cho rằng
việc luyên tập từ thủ bản của thầy là cần thiết, và thao tác viết là quan
trọng. Còn Hidai thì ngược lại, ông lại nhấn mạnh tính biểu cảm tự
nhiên của Thư pháp. Ông không khuyến khích học tập theo bất kỳ bia
thiếp nào của thời hậu Đường và không đề cập đến tính chân xác theo
thủ bản của thày. (Sự rõ ràng trong thủ bản của thày và thực tế thu
hoạch của ông).
Một lý do khác cho việc học tập trực tiếp từ các bản rập là, ông cảm
thấy rằng, hầu hêt các Thư pháp gia đều chuộng biến pháp, phái sinh
dòng riêng. Các thể chữ Hán, về cơ bản đã phát triển và hoàn thiên từ
đời Đường, và lịch sử Thư pháp được bắt đầu khi có việc lâm mô chỉ
như một sự diễn giải. Khi các Thư pháp gia đã nắm bắt được tinh thần
của con chữ và sáng tác tác phẩm có thiện cảm hơn. Sự cảm nhận đó
là cần thiết đẻ tập trung trong sự mô phạm của bản thân, và sẽ đạt tới
sự tự do hơn, giải phóng cá nhân hơn. Và, các tác phẩm Thư pháp hậu
Đường chỉ là sự diễn giải. Như vậy, thủ bản chỉ có thể hỗ trợ cho học
tập, nhưng không thể thay thế tính nguyên thủy của chữ Hán được.Sự chính xác của việc lâm mô và việc phó bản có được tinh thần của
nguyên bản là yếu tố thiết yếu cho tính toàn ven của Thư pháp, khi mà
bản mới sáng tạo ra phải biểu hiện được cá tính tác giả. Hidai đặt ra
các Thiền sư, Thư pháp như một phần của việc hành Thiền vậy.Tầng lớp Văn nhân cho rằng Thư pháp, về bản chất thuộc về TH, và
việc viết lách đương nhiên là cần thiết cho khả năng chính xác. Họ
quyết tâm tạo tác chữ viết tới mức khách quan nhất có thể, và không
phải là sự giãi bày cá tính. Nishikawa Shundou- người từng theo Hội
Thư đạo Hiền nhân năm 1933, vẫn tiếp tục học tập và cẩn trọng trong
sáng tác. Việc bàn luận về nghệ thuật Thư pháp và sự nổi bật của
thẩm mỹ đã bị gác lại một bên, trong khi các Thư pháp gia vẫn chỉ
quan tâm đến bản thân với kỹ pháp cần thiết cho thể chữ, mà họ nghĩ
là phải trung thành với bản gốc. Kết quả là, tầng lớp Văn nhân đã trực
tiếp ganh đua với các thư lại trong triều, sự cạnh tranh về kỹ pháp đó
diễn ra gay gắt.Vào thập kỷ 20 của thế kỷ 20, các Thư pháp gia đã tự tổ chức thành
các nhóm cơ động và rộng rãi. Thủ lĩnh các nhóm đều có xu hướng
luyện tập chữ mẫu đã chọn, và mong muồn môn sinh luyện tập theo
các thủ bản. Điều đó không tránh khỏi việc, với đẳng cấp khác nhau và
sự phát triển rộng rãi các triển lãm Thư pháp đã tạo ra sự nhấn mạnh
về kỹ pháp và tạo ra các phó bản rập khuôn chính xác. Viện Thư dạo
Đại đồ- một tổ chức thúc đẩy Thư pháp- đã được thành lập vào năm
1930, tồn tại kéo dài đến năm 1942, và đã tài trợ cho các cuộc triển
lãm Thư pháp. Các tác phẩm triển lẫm ngày càng trở nên chính thức
hóa cho đến khi Hidai Tenrai và Onoe Saishu thiết lập ra nhóm phá
phách Viện Thư đạo Đại Nhật bản vào năm 1937. Năm 1948, lần đầu tiên tác phẩm Thư pháp được gom vào Triển lãm