Chất lượng nhân lực của Tổng công ty xay dựng công trình giao thông 8, Nguyên nhân và hướng biện pháp nâng cao - Pdf 10

Ng« CÈm Ly – QTNL 41A
LỜI NÓI ĐẦU
Lý thuyết mới về sự tăng trưởng đã chỉ ra rằng một nền kinh tế muốn tăng
trưởng nhanh phải dựa vào ba trụ cột cơ bản là: Áp dụng công nghệ mới, phát
triển hạ tầng cơ sở và phát triển nguồn nhân lực, trong đó phát triển nguồn nhân
lực là then chốt và trong phạm vi của một doanh nghiệp thì thứ tự ưu tiên này
vẫn hoàn toàn phù hợp.
Có thể nói rằng phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao chính là lối ra, là
đáp số của bài toán chống nguy cơ tụt hậu xa hơn nữa của một doanh nghiệp trong
quá trình phát triển và hội nhập quốc tế.
Nền kinh tế nước ta trong thời kỳ bao cấp không thừa nhận sức lao động của
con người là hàng hoá, là một yếu tố đầu vào của sản xuất, do đó chất lượng của
lao động trong một tổ chức không được ưu tiên phát triển hàng đầu. Khi bước sang
nền kinh tế thị trường cùng với sự hội nhập giao lưu kinh tế quốc tế thì yếu tố cạnh
tranh ngày càng trở nên gay gắt hơn. Các doanh nghiệp bắt đầu có những nhận thức
đổi mới về vai trò của nguồn nhân lực trong doanh nghiệp: Coi sức lao động của
con người là một dạng hàng hóa đặc biệt, là một yếu tố đầu vào của sản xuất. Chi
phí cho yếu tố này là tương đối lớn song lợi ích đem lại cho doanh nghiệp cũng là
vô cùng lớn, khó có thể xác định được. Các nhà quản lý doanh nghiệp đã bắt đầu
quan tâm đến các giải pháp thu hút nhân tài về cho doanh nghiệp đồng thời có
những biện pháp cụ thể để nâng cao chất lượng nhân lực hiện có của doanh nghiệp.
Đề tài: “Chất lượng nhân lực của Tổng công ty xay dựng công trình giao thông 8,
Nguyên nhân và hướng biện pháp nâng cao” nhằm mục đích đánh giá thực trạng về
chất lượng nguồn nhân lực hiện có của Tổng công ty xây dựng Công trình giao thông
8, từ đó đưa ra một số giải pháp có tính định hướng nhằm hoàn thiện và nâng cao chất
lượng nhân lực cho Tổng công ty xây dựng Công trình Giao thông 8.
Nội dung chính của bài tiểu luận gồm có 2 phần:
PHẦN I: Cơ sở lý luận về chất lượng nhân lực của doanh nghiệp
PHẦNII: Đánh giá thực trạng chất lượng của Tổng công ty công trình giao
thông 8 và hướng biện pháp nâng cao chất lượng nhân lực cho Tổng công ty xây
dựng Công trình Giao thông 8

Nhân lực: Nhân lực là nguồn lực của mỗi người bao gồm thể lực và trí lực.
Thể lực thể hiện ở sức khoẻ, khả năng sử dụng cơ bắp, chân tay. Nó phụ thuộc
2
2
Ng« CÈm Ly – QTNL 41A
vào rất nhiều yếu tố: gen, tầm vóc người, chế độ ăn uống, nghỉ ngơi, giới tính.
Trí lực là sức suy nghĩ, sự hiểu biết của con người. Như vậy, nhân lực phản ánh
khả năng lao động của con người và là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình lao
động sản xuất xã hội. Trong giai đoạn hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp đều tập
trung vào việc khai thác các tiềm năng về trí lực của con người vì đây là một
kho tàng còn nhiều bí ẩn trong mỗi con người và cũng có thể nói nó là một lợi
thế cạnh tranh quan trọng nếu các doanh nghiệp biết khai thác tối đa nguồn lực
này.
Nguồn nhân lực trong một doanh nghiệp được hiểu là tất cả người lao động có
trong doanh nghiệp đó. Như vậy, nguồn nhân lực của một doanh nghiệp bao gồm
toàn bộ những người có quan hệ lao động với doanh nghiệp, trực tiếp tham gia vào
các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như các hoạt động quản lý, điều hành của
doanh nghiệp. Nguồn nhân lực là yếu tố cấu thành nên doanh nghiệp, quyết định
đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Nguồn nhân lực có thể hiểu là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham
gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy
động vào quá trình lao động.
Nguồn nhân lực là cơ sở tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp, vì vậy mà
phải tiến hành quản lý nguồn nhân lực như một yếu tố chi phí đầu vào quan trọng
trong mỗi doanh nghiệp.
Trong bất kỳ thời đại nào, xét về nguyên tắc sự tăng trưởng kinh tế bao giờ
cũng được quy định bởi nhân tố con người, bởi xét tới cùng trình độ xã hội trước
hết phụ thuộc vào năng lực, trí tuệ và trình độ nghề nghiệp của người lao động.
Trong phạm vi một doanh nghiệp, con người trước hết là yếu tố cấu thành nên
doanh nghiệp, làm cho doanh nghiệp tồn tại được thông qua việc điều hành hoạt

người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống làm việc nghỉ ngơi. Ngoài ra thể lực
của con người cũng phụ thuộc vào tuổi tác, thời gian công tác, giới tính… của
người lao động. Trí lực của người lao động phụ thuộc vào môi trường làm việc,
phong cách quản lý của lãnh đạo, chế độ đãi ngộ của tổ chức…Tổ chức sử dụng lao
động thực chất là sử dụng thể lực và trí lực có trong từng cá nhân người lao động.
Bởi vậy cho nên cũng có thể hiểu thực chất của công tác quản lý nguồn nhân lực là
quá trình tạo ra các điều kiện cần thiết và thuận lợi cho người lao động đảm bảo về
mặt thể lực và phát huy được tối đa mặt trí lực đóng góp cho tổ chức.
4
4
Ng« CÈm Ly – QTNL 41A
Quản trị nhân lực (hay còn gọi là “Quản trị nhân sự”, “Quản trị lao động”) là
tất cả mọi hoạt động của tổ chức để nhằm xây dựng, sử dụng, bảo quản, duy trì, gìn
giữ, phát triển một lực lượng lao động sao cho phù hợp với yêu cầu công việc của
tổ chức cả về mặt số lượng và chất lượng. Ngoài ra quản trị nhân lực cũng được
hiểu là quá trình phân tích, đánh giá, hoạch định, quản lý và sử dụng một cách hiệu
quả nguồn nhân lực nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức.
Quản trị nhân lực vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật kết hợp nhuần
nhuyễn nhiều thành tựu của các ngành khoa học, tạo thành tổng thể các phương tiện
nhằm:
Thu hút, lôi quấn những lao động giỏi về với doanh nghiệp.
Giữ cho được đội ngũ lao động mà doanh nghiệp đang có.
Động viên, thúc đẩy nhân viên, tạo điều kiện cho họ bộc lộ, thăng hoa và
cống hiến tài năng cho tổ chức.
Những hoạt động trên là trách nhiệm của tất cả các lãnh đạo trong doanh
nghiệp và các cán bộ quản lý của doanh nghiệp ở tất cả các cấp quản lý.
1.2 Chất lượng nhân lực của doanh nghiệp.
a. Bản chất, sự cần thiết phải đảm bảo và phương pháp nhận biết, đánh giá
chất lượng nhân lực của doanh nghiệp.
Các lý thuyết kinh tế học hiện đại đã chỉ ra rằng nguồn nhân lực là nguồn lực

đội ngũ công nhân, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và giảm bớt tai nạn
lao động.
Muốn nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phải kết hợp được đồng thời hiệu
quả của 3 quá trình : Thu hút, sử dụng và đào tạo phát triển nguồn nhân lực trong
đó đặc biệt coi trọng công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực
Có thể nói rằng phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao chính là lối ra, là
đáp số của bài toán chống nguy cơ tụt hậu của bất kỳ doanh nghiệp nào trong tiến
trình phát triển và hội nhấp quốc tế.
Khả năng của con người là một kho tàng vô tận và không dễ gì khai thác hết
được. Kinh nghiệm cho thấy nếu doanh nghiệp nào sử dụng lao động theo tiêu chí:
“Đúng người” đúng việc thì doanh nghiệp đó sẽ khai thác được nhiều nhất khả
6
6
Ng« CÈm Ly – QTNL 41A
năng của người lao động vì khi đó người lao động có được cơ hội thể hiện năng lực
bản thân nhiều nhất và thuận lợi nhất.
Tuyển dụng được những lao động giỏi sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm cả thời
gian lẫn những hao phí về vật chất cho quá trình thử việc và đào tạo lại người lao
động.
Quản lý nguồn nhân lực là tổng thể các hoạt động nhằm hướng vào chu kỳ tái
sản xuất sức lao động, tức là bao gồm các khâu: Sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu
dùng. Vì vậy thực chất của công tác quản lý nguồn nhân lực là việc kế hoạch hóa
nhân lực, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, kích thích, phát triển nguồn nhân lực,
nhằm thu hút con người tham gia lao động, gồm cả quá trình sản xuất trực tiếp
cũng như các mối quan hệ tác động qua lại với nhau để tạo ra hàng hóa, dịch vụ.
Quản trị nhân lực là một bộ phận không thể thiếu của quản trị sản xuất kinh
doanh, nó nhằm củng cố và duy trì đầy đủ số lượng và chất lượng người làm việc
cần thiết cho tổ chức, giúp cho tổ chức đạt được mục tiêu đề ra, tìm kiếm và phát
triển những hình thức, những phương pháp tốt nhất để người lao động có thể đóng
góp nhiều nhất sức lực cho các mục tiêu của tổ chức, đồng thời cũng tạo cơ hội để

cần được khai thác của đội ngũ lao động để có thể nâng cao tốc độ phát triển sản
xuất của doanh nghiệp. Ngoài ra giúp cho các doanh nghiệp chủ động dự kiến
được số nhân lực cần phải bổ sung thay thế do yêu cầu của sản xuất ( do thay đổi
công nghệ sản xuất sản phẩm, do mở rộng quy mô sản xuất..), và các nguyên nhân
khách quan khác (số lao động nghỉ hưu, số lao động ra đi khỏi doanh nghiệp..).
+ Mức độ hấp dẫn của chính sách và hợp lý của tổ chức tuyển dụng: Chất
lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào quá trình tuyển mộ,
tuyển chọn vì thông qua quá trình này doanh nghiệp sẽ tuyển được những lao động
có chuyên môn phù hợp với công việc của mình, hơn nữa người lao động được
tuyển được làm những công việc đúng với sở trường của bản thân nên năng suất
làm việc sẽ đạt kết quả cao. Doanh nghiệp cũng sẽ giảm được chi phí đào tạo lại,
thời gian tập sự, hạn chế được các sự cố xảy ra trong sản xuất, chất lượng sản phẩm
sẽ đảm bảo hơn.
Các nhà tuyển dụng sẽ căn cứ vào kế hoạch nhân lực đã được lập để biết
được nhu cầu về nhân lực của doanh nghiệp. Sau đó sẽ xem xét đến các giải pháp
8
8
Ng« CÈm Ly – QTNL 41A
khác có thể huy động để đáp ứng kịp thời nhu cầu của doanh nghiệp. Đó là các giải
pháp như: Huy động công nhân làm thêm giờ; hợp động gia công; hợp đồng thời
vụ; thuê lại lao động của các doanh nghiệp khác. Khi doanh nghiệp cần hoàn thành
kế hoạch nhanh để có sản phẩm đáp ứng nhanh nhu cầu của khách hàng thì những
giải pháp này là tối ưu hơn cả vì nó tiết kiệm được chi phí tuyển dụng và thời gian
tuyển dụng cho doanh nghiệp.
Khi cần tuyển mộ nhân lực để phục vụ cho công việc lâu dài của doanh
nghiệp, thông thương sẽ được tuyển từ hai nguồn chính đó là nguồn bên ngoài
doanh nghiệp và nguồn từ chính cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp.
Công tác tuyển mộ, tuyển chọn được coi là thành công khi doanh nghiệp
tuyển được những người lao động thực sự phù hợp với công việc, đáp ứng được
một cách tốt nhất những yêu cầu công việc mình.

Người lao động nào khi bắt đầu đi làm điều đầu tiên họ quan tâm đó là họ
được trả công như thế nào cho công việc mà họ sẽ đảm nhận, các khoản phúc lợi
của doanh nghiệp có phong phú không.v.v.. Trong thực tế những lao động giỏi
thường lựa chọn những doanh nghiệp có mức lương cao, các khoản phụ cấp và
khuyến khích đa dạng và phong phú. Vì vậy để thu hút và giữ chân được những lao
động giỏi gắn bó với doanh nghiệp ngoài việc tạo cho họ những cơ hội thăng tiến
và phát triển bản thân thì điều đầu tiên các doanh nghiệp cần quan tâm đó là trả
lương và các khoản khuyến khích có tính hấp dẫn đối với họ song vẫn đảm bảo
được lợi ích cho doanh nghiệp. Tính hấp dẫn thể hiện ở việc mức thù lao mà doanh
nghiệp trả cho người lao động phải bằng hoặc cao hơn mức lương mà thị trường lao
động sẵn sàng trả cho cùng một công việc đó, các hình thức thù lao phong phú, đặc
biệt là phải đảm bảo được tính công bằng.
+ Mức độ hấp dẫn của chính sách hỗ trợ và hợp lý của tổ chức đào tạo nâng
cao cho các loại người lao động của doanh nghiệp: Trong các yếu tố để phát triển
nhanh và bền vững của doanh nghiệp của nền kinh tế thì nguồn lực con người là
yếu tố cơ bản nhất. Bởi lẽ, khi đã có trình độ văn hóa, kỹ thuật, nghiệp vụ cao, có
tay nghề vững sẽ là yếu tố quyết định để sử dụng phương pháp công nghệ hiện đại.
Nguồn nhân lực này vừa là người sáng tạo ra, vừa là người sử dụng các phương
tiện, phương pháp công nghệ để đạt được lợi ích kinh tế cao nhất cho xã hội, cho
doanh nghiệp và cho bản thân họ. Nguồn nhân lực như vậy cần được đào tạo, giáo
10
10
Ng« CÈm Ly – QTNL 41A
dục nâng cao trình độ và cần được sử dụng một cách đầy đủ, có hiệu quả, cần phải
đầu tư để đào tạo và bồi dưỡng lại đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật, chuẩn bị kế
hoạch để phát triển đào tạo mới có chất lượng cao nhằm đáp ứng kịp thời sự tiến bộ
của khoa học kỹ thuật cũng như việc chuyển đổi cơ chế, mở rộng thị trường. Từ
quản lý một doanh nghiệp, một tổ chức đến quản lý một quốc gia mà coi nhẹ phát
triển nguồn nhân lực thì thế nào cũng bị trì trệ. Đối ngoại thì không đủ sức cạnh
tranh, không thích ứng được với những biến động nhanh chóng mà đối nội thì năng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status