Đề án môn học GVHD: PGS.TS. Võ Thị Thúy Anh
MỤC LỤC
OMO : Open Market Operations – Thị trường mở.
NHNN: Ngân hàng Nhà nước.
NHTW : Ngân hàng Trung ương.
NHTM: Ngân hàng thương mại.
NH : Ngân hàng.
GTCG : Giấy tờ có giá.
TD : Tín dụng.
TPKB : Tín phiếu Kho bạc.
SVTH: Nguyễn Thị Yến Loan-38H12K7.1 Trang 1
Đề án môn học GVHD: PGS.TS. Võ Thị Thúy Anh
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ, BẢNG BIỂU
CHƯƠNG I
Sơ đồ 1.1. Cơ chế tác động của OMO tới dự trữ ngân hàng 4
Sơ đồ 1.2. Cơ chế tác động của OMO qua lãi suất 5
CHƯƠNG II
Bảng 2.1. Tình hình hoạt động nghiệp vụ thị trường mở 6 tháng
đầu năm 2011 23
Biểu đồ 2.1. Doanh số giao dịch trên thị trường mở từ 2006 - 2012 18
Biểu đồ 2.2. Diễn biến lãi suất OMO 22
Biểu đồ 2.3. Lượng tiền NHNN hút ròng 9 tuần liên tục 4/5
đến hết 1/7 /2011 24
Biểu đồ 2.4. Lãi suất và khối lượng giao dịch trong năm 2011 24
Biểu đồ 2.5. Khối lượng bơm/hút trên thị trường mở trong năm 2012 26
SVTH: Nguyễn Thị Yến Loan-38H12K7.1 Trang 2
Đề án môn học GVHD: PGS.TS. Võ Thị Thúy Anh
LỜI MỞ ĐẦU
፠፠፠፠፠፠፠
Những năm sau này nền kinh tế nước ta chuyển mạnh từ kế hoạch hóa sang cơ
chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của nhà nước. Sự đổi mới kinh tế đòi hỏi phải
1.1. Khái niệm nghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ của ngân hàng Trung ương để tiến hành
mua hoặc bán chứng từ có giá ngắn hạn đối với tổ chức tín dụng nhưng không vì mục
đích thu được lợi nhuận, mà vì mục đích chung của toàn bộ nền kinh tế.
Như vậy, nghiệp vụ thị trường mở vừa là nghiệp vụ của thị trường, nhưng lại
vừa là công cụ của NHTW để thực thi chính sách tiền tệ, mang lại hiệu quả cao và
hiện đang được các nước trên thế giới sử dụng để điều hành chính sách tiền tệ.
1.2. Cơ chế tác động của nghiệp vụ thị trường mở
Thông qua hoạt động mua, bán các giấy tờ có giá trên thị trường mở, NHTW
đã tác động trực tiếp đến dự trữ của các ngân hàng và ảnh hưởng gián tiếp đến các
mức lãi suất trên thị trường, từ đó tác động trực tiếp đến các mục tiêu của chính
sách tiền tệ cả về mặt giá và mặt lượng.
1.2.1. Về mặt lượng - Tác động vào dự trữ của hệ thống ngân hàng
Hành vi mua bán các giấy tờ có giá trên thị trường mở của NHTW có khả
năng tác động ngay lập tức đến tình trạng dự trữ của các ngân hàng thương mại
thông qua ảnh hưởng đến tiền gởi của các ngân hàng tại NHTW (nếu các NHTM là
đối tác tham gia OMO) và tiền gởi của khách hàng tại hệ thống ngân hàng (nếu các
khách hàng là đối tác tham gia OMO).
Sơ đồ 1.1. Cơ chế tác động của OMO tới dự trữ ngân hàng
NHTW bán GTCG
Dự trữ NH giảm
Dự trữ mở rộng cho vay giảm
Khối lượng TD giảm
MS giảm
SVTH: Nguyễn Thị Yến Loan-38H12K7.1 Trang 4
Đề án môn học GVHD: PGS.TS. Võ Thị Thúy Anh
Khi NHTW thực hiện bán GTCG cho các ngân hàng thì tiền gửi của ngân
hàng tại NHTW sẽ giảm xuống tương ứng với khối lượng GTCG mà NHTW bán ra.
Trường hợp người mua là các khách hàng của ngân hàng thì số tiền mua GTCG sẽ
làm giảm số dư tiền gửi của họ tại hệ thống ngân hàng. Kết quả là dự trữ của hệ
Thứ hai, việc mua bán GTCG sẽ làm ảnh hưởng ngay đến quan hệ cung cầu
về loại GTCG đó trên thị trường và giá cả của nó. Khi giá chứng khoán thay đổi, tỷ
lệ sinh lời của chúng cũng thay đổi. Nếu khối lượng chứng khoán này chiếm tỷ
trọng lớn trong các giao dịch trên thị trường tài chính thì sự thay đổi tỷ lệ sinh lời
của nó sẽ tác động trở lại lãi suất thị trường, và vì thế mà tác động đến tổng cầu AD
và sản lượng.
Khi NHTW bán tín phiếu kho bạc sẽ làm giảm dự trữ của hệ thống ngân
hàng. Điều này làm giảm cung quỹ cho vay và sẽ ảnh hưởng đến lãi suất ngắn hạn,
làm lãi suất ngắn hạn có xu hướng tăng lên và tác động vào làm tăng các lãi suất thị
trường. Bên cạnh đó khi NHTW thực hiện bán tín phiếu kho bạc trên thị trường mở
sẽ làm tăng cung tín phiếu kho bạc trên thị trường, từ đó làm giảm giá của tín phiếu
kho bạc. Điều này làm ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của tín phiếu kho bạc theo
hướng tăng lên, dẫn đến sự chuyển dịch vốn đầu tư sang tín phiếu kho bạc. Để cân
bằng lãi suất và hạn chế sự dịch chuyển vốn đầu tư, lãi suất thị trường sẽ tăng lên.
Khi lãi suất thị trường tăng lên thì hoạt động đầu tư của các chủ thể đối với nền kinh
tế sẽ giảm xuống do tỷ suất sinh lời giảm. Từ đó tổng cầu trên thị trường giảm
xuống và góp phần làm giảm sản lượng, ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng.
SVTH: Nguyễn Thị Yến Loan-38H12K7.1 Trang 6
Đề án môn học GVHD: PGS.TS. Võ Thị Thúy Anh
1.3. Vai trò của nghiệp vụ thị trường mở
1.3.1. Đối với ngân hàng trung ương
Để thực hiện nhiệm vụ ổn định giá trị đồng tiền, NHTW đã xây dựng và thực
thi các công cụ chính sách tiền tệ nhằm đưa tiền ra và rút tiền về từ lưu thông theo
tín hiệu thị trường. Trong đó, nghiệp vụ thị trường mở là công cụ chính sách tiền tệ
gián tiếp quan trọng nhất tại nhiều quốc gia làm thay đổi cung - cầu tiền tệ dẫn đến
thay đổi lãi suất trên thị trường tiền tệ. Thông qua việc mua bán GTCG tại thị
trường mở, NHTW có thể mở rộng hoặc thu hẹp khối lượng tiền dự trữ trong hệ
thống ngân hàng và tác động một cách tốt nhất đến cơ số tiền tệ, lượng tiền cung
ứng. Như vậy, nghiệp vụ thị trường mở đã tạo điều kiện cho NHTW hạn chế sử
dụng các công cụ mang tính trực tiếp trong điều hành chính sách tiền tệ.
và có kỳ hạn với thời gian dưới 12 tháng thường chiếm tỷ trọng từ 60-70%. Vì vậy,
vấn đề cấp bách hiện nay đối với các ngân hàng là làm thế nào để sử dụng vốn linh
hoạt hiệu quả và giải quyết được khó khăn tạm thời về vốn khả dụng trong thời gian
ngắn, không gây ách tắc trong thanh toán cũng như đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín
dụng.
Thị trường mở là nơi các đối tác của NHTW được chủ động tham gia mua bán
GTCG với NHTW và lãi suất thực sự là mang tính thị trường. Thông qua thị trường
mở, các ngân hàng có thể sử dụng các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để đầu tư vào các
GTCG để thu được lợi tức và đáp ứng nhu cầu dự trữ thứ cấp. Khi cần thiết, các ngân
hàng có thể bán lại các GTCG này trên thị trường mở để giải quyết khó khăn về nguồn
vốn. Các thành viên tham gia thị trường mở thường là các đối tác có độ tin cậy cao,
nên việc mua bán GTCG trên thị trường mở có độ an toàn rất cao. Bên cạnh đó, những
điều kiện về chủng loại và chất lượng các GTCG được giao dịch trong nghiệp vụ thị
trường mở sẽ gián tiếp làm thay đổi danh mục đầu tư GTCG của các ngân hàng, từ đó
cải thiện theo hướng tích cực cơ cấu sử dụng vốn của ngân hàng, làm giảm dự trữ
không sinh lợi và cải thiện bảng tổng kết tài sản của ngân hàng.
Ngoài ra, nghiệp vụ thị trường mở góp phần đa dạng hoá các nghiệp vụ kinh
doanh của các tổ chức tín dụng. Các tổ chức tín dụng không chỉ đơn thuần thực hiện
các nghiệp vụ kinh doanh truyền thống như cho vay, bảo lãnh, dịch vụ … mà còn sử
dụng một nguồn vốn nhất định để thực hiện nghiệp vụ kinh doanh mới là mua bán các
GTCG. Nghiệp vụ thị trường mở cũng thúc đẩy các mối quan hệ mang tính kinh doanh
giữa các thành viên tham gia thị trường.
SVTH: Nguyễn Thị Yến Loan-38H12K7.1 Trang 8
Đề án môn học GVHD: PGS.TS. Võ Thị Thúy Anh
Nghiệp vụ thị trường mở do các ngân hàng tự nguyện tham gia thực hiện theo
các nguyên tắc thị trường, không mang tính chất bắt buộc như dự trữ bắt buộc và cũng
không có tác động như một hình thức "đánh thuế" đối với hoạt động của các ngân
hàng như dự trữ bắt buộc. Lãi suất trên thị trường mở cũng mang tính chất thị trường
chứ không bị áp đặt như trong công cụ chiết khấu GTCG của NHTW.
Như vậy, thị trường mở tạo điều kiện cho các ngân hàng sử dụng nguồn vốn
bảo an toàn, chính xác, đảm bảo quyền lợi cho các thành viên.
Ngoài vai trò nói trên, ngân hàng Trung ương còn tham gia thị trường với tư
cách thành viên, tức là tham gia các hoạt động giao dịch mua bán với các thành viên
còn lại của thị trường. Tuy nhiên, hoạt động giao dịch mua bán của NHTW không phải
vì mục tiêu lợi nhuận, mà vì các mục tiêu của chính sách tiền tệ, chính vì vậy NHTW
hoàn toàn có thể chủ động trong khi thực hiện các nghiệp vụ giao dịch. Cần mua
GTCG để gia tăng khối tiền cung ứng, hoặc cần bán GTCG để làm giảm lượng tiền
cung ứng, NHTW đều có thể thực hiện theo ý định.
1.4.2. Đối tác của ngân hàng Trung ương
1.4.2.1. Các ngân hàng thương mại
Các NHTM là chủ thể thường xuyên và chủ yếu của thị trường mở, đồng thời là
"đối tác", là khách hàng chủ yếu của NHTW trong hoạt động giao dịch mua bán
GTCG. Có thể nói, nếu không có sự tham gia của các NHTM thì thị trường mở sẽ trở
nên vắng lặng và xơ cứng, do đó NHTW quan tâm trước hết đến đối tượng này.
Hoạt động của NHTM là hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận, họ tham
gia mua bán GTCG trên thị trường mở cũng không ngoài mục tiêu đó. Chính điều này
giúp NHTW điều tiết được hành vi kinh doanh của NHTM. Việc tham gia vào thị
trường mở ngoài mục tiêu lợi nhuận, còn giúp các NHTM có thể điều hòa vốn khả
dụng một cách hợp lý nhất. Khi cần gia tăng ngân quỹ để thỏa mãn nhu cầu thanh
toán, hoặc ngược lại, làm gia tăng dự trữ thứ cấp, các NHTM đều có thể thực hiện
thuận lợi nhờ tham gia thị trường mở.
Sự tham gia của các NHTM vào thị trường mở không những làm cho thị trường
này trở nên sống động hơn, tích cực hơn, mà còn trở thành đối tác quan trọng nhất của
NHTW trong các nghiệp vụ của mình trên thị trường mở, qua đó mà tác động một
cách nhanh nhất, hiệu quả nhất theo các mục tiêu và ý định cần đạt được trong điều
hành chính sách tiền tệ.
1.4.2.2. Các tổ chức tài chính phi ngân hàng
SVTH: Nguyễn Thị Yến Loan-38H12K7.1 Trang 10
Đề án môn học GVHD: PGS.TS. Võ Thị Thúy Anh
Ngoài NHTM là đối tác chủ yếu và thường xuyên của NHTW trên thị trường
SVTH: Nguyễn Thị Yến Loan-38H12K7.1 Trang 11
Đề án môn học GVHD: PGS.TS. Võ Thị Thúy Anh
Tín phiếu kho bạc do Kho bạc Nhà nước phát hành, huy động vốn để bù đắp
thiếu hụt tạm thời của ngân sách nhà nước. Thực chất của tín phiếu kho bạc là giấy
nhận nợ của Chính phủ đối với người mua tín phiếu kho bạc, với sự cam kết mặc định
về việc hoàn trả vốn và lãi cho người sở hữu tín phiếu kho bạc.
Đây là công cụ chủ yếu của nghiệp vụ thị trường mở của hầu hết NHTW các
nước vì:
• Tín phiếu kho bạc có tính thanh khoản cao, dễ dàng chuyển hóa thành tiền.
• Được phát hành định kỳ với khối lượng lớn vì thế có khả năng thỏa mãn nhu
cầu của NHTW với liều lượng khác nhau.
1.5.2. Tín phiếu Ngân hàng Trung ương
Tín phiếu NHTW do NHTW phát hành, là giấy nhận nợ của NHTW đối với
người mua tín phiếu. Tín phiếu NHTW cũng có những đặc điểm tương tự như tín
phiếu kho bạc, nhưng vì đây là loại tín phiếu do NHTW phát hành nên tín phiếu
NHTW là công cụ chủ động và linh hoạt hơn cho NHTW để điều hành chính sách tiền
tệ thông qua việc mua, bán tín phiếu này.
Tuy nhiên, việc phát hành tín phiếu NHTW để thực thi chính sách tiền tệ sẽ làm
cho chi phí hoạt động của NHTW tăng lên và có khả năng bị lỗ khi phát hành khối
lượng lớn, mặc dù NHTW hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận. Việc sử dụng tín
phiếu NHTW đòi hỏi phải có sự phối hợp nhất định với Bộ Tài chính.
1.5.3. Trái phiếu Chính phủ
Trái phiếu Chính phủ là một chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận số vốn
cho vay của trái chủ (người mua trái phiếu) đối với tổ chức phát hành của Chính phủ
(Bộ Tài chính, Kho bạc Nhà nước) theo đó trái chủ sẽ được hưởng những quyền và lợi
ích hợp pháp từ tổ chức phát hành như được hoàn lại vốn khi mãn hạn, được hưởng
thu nhập cố định dưới hình thức lợi tức trái phiếu, được thế chấp cầm cố
Đây là chứng khoán nợ dài hạn được Nhà nước phát hành nhằm bù đắp thiếu
hụt ngân sách Nhà nước. Dù là chứng khoán dài hạn nhưng trái phiếu Chính phủ được
sử dụng rộng rãi trong nghiệp vụ thị trường mở bởi tính an toàn cao, khối lượng phát
không hoàn toàn cứng nhắc, vì NHTW có thể ngay sau đó sẽ tiến hành giao dịch
ngược chiều, để lấp vào chỗ "trống" sự tác động thái quá của giao dịch lần trước.
1.6.1.2. Giao dịch mua hoặc bán có kỳ hạn (giao dịch có hoàn lại - REPO)
SVTH: Nguyễn Thị Yến Loan-38H12K7.1 Trang 13
Đề án môn học GVHD: PGS.TS. Võ Thị Thúy Anh
Giao dịch có kỳ hạn là nghiệp vụ giao dịch mua hoặc bán GTCG của NHTW
với các đối tác, có kèm theo điều kiện là bên bán phải cam kết mua lại các GTCG đã
bán bằng một hợp đồng cụ thể. Phương thức giao dịch này thường được sử dụng cho
mục đích giao dịch tạm thời thông qua các hợp đồng mua lại (Repos) hoặc hợp đồng
mua lại đảo ngược. Repos được sử dụng khi NHTW thực hiện mua GTCG với thoả
thuận là sau một thời gian ngắn trong tương lai người bán sẽ mua lại các GTCG đó.
Repos đảo ngược được sử dụng khi NHTW thực hiện bán GTCG với thoả thuận người
mua sẽ bán lại vào một ngày xác định trong tương lai. Thông thường, Repos và Repos
đảo ngược được sử dụng trong một khoảng thời gian ngắn với mục đích điều tiết vốn
khả dụng của các NHTM một cách linh hoạt. Giao dịch theo hợp đồng Repos thực chất
là một khoản cho vay của NHTW có bảo đảm bằng các GTCG có tính thị trường cao.
Các giao dịch có hoàn lại được sử dụng chủ yếu trong nghiệp vụ thị trường mở
vì những lý do sau:
- Đây là công cụ hiệu quả nhất để bù đắp hoặc triệt tiêu những ảnh hưởng
không dự tính trước đến dự trữ của các ngân hàng.
- Chi phí giao dịch thấp hơn các giao dịch mua bán hẳn.
- Thích hợp trong các trường hợp các định hướng chính sách tiền tệ không hoàn
hảo dẫn đến việc sử dụng các giải pháp khắc phục.
- Làm giảm thời gian thông báo, do đó giảm bớt biến động của thị trường trước
các quyết định hàng ngày của NHTW.
1.6.2. Phương thức đấu thầu của nghiệp vụ thị trường mở
Các giao dịch trên thị trường mở thường được thực hiện thông qua 2 phương
thức đấu thầu là đấu thầu khối lượng và đấu thầu lãi suất.
1.6.2.1. Đấu thầu khối lượng
Đấu thầu khối lượng là phương thức đấu thầu cho phép người giao dịch (người
i
)
được xác định như sau:
T
i
= K x b
i
1.6.2.2. Đấu thầu lãi suất
Đấu thầu lãi suất là phương thức đấu thầu cho phép người giao dịch (người mua
hoặc người bán) được quyền đưa ra các mức lãi suất với các khối lượng tương ứng, để
đăng ký bán hoặc mua GTCG theo thông báo của NHNN. Căn cứ vào đó, sẽ xác định
khối lượng trúng thầu với lãi suất trúng thầu được chọn, sao cho với lãi suất đó sẽ đảm
bảo khối lượng giao dịch mua bán theo yêu cầu của NHTW.
Trong đấu thầu lãi suất, cần phân biệt hai trường hợp:
- Trường hợp NHTW cần cung ứng tiền thêm vào lưu thông thông qua việc mua
GTCG, các đơn dự thầu được sắp xếp theo thứ tự và được phân bổ theo các mức lãi
suất từ cao xuống thấp. Nghĩa là những đơn dự thầu ứng với lãi suất cao sẽ được ưu
tiên phân bổ trước cho đến khi khối lượng phân phối được sử dụng hết. Nếu tại mức
lãi suất thấp nhất được chấp nhận, khối lượng đăng ký dự thầu lớn hơn khối lượng
được phân phối thì quá trình phân bổ như sau:
Gọi: A: Khối lượng NHTW chào mua/chào bán
SVTH: Nguyễn Thị Yến Loan-38H12K7.1 Trang 15
Đề án môn học GVHD: PGS.TS. Võ Thị Thúy Anh
r
t
: Mức lãi suất thứ t được đăng ký
b(r
t
)
i
1
1
( )
m
t
t
b r
−
=
∑
b(r
m
)
Trên cơ sở xác định được tỷ lệ K(r
m
), khối lượng trúng thầu của thành viên thứ i
(T
i
) tại mức lãi suất r
m
được xác định như sau:
T(r
m
)
i
=K(r
m
) x b(r
m
)
cụ đó. Nếu NHTW thấy rằng cung ứng tiền tệ tăng quá nhanh do nó mua chứng khoán
trên thị trường mở quá nhiều, thì nó có thể sửa chữa ngay lập tức bằng cách tiến hành
nghiệp vụ bán chứng khoán trên thị trường.
- Nghiệp vụ thị trường mở là công cụ chính sách tiền tệ chủ động. Nó cho phép
NHTW có thể tạo ra những biến động có khả năng hướng dẫn xu hướng thị trường trên
cơ sở dự báo nhu cầu vốn khả dụng. Mặt khác, việc hoàn thành nghiệp vụ thị trường
mở không phụ thuộc nhiều lắm vào ý thích chủ quan của các đối tác. Lợi dụng tác
động của các lực lượng thị trường, NHTW có thể buộc các đối tác hoạt động theo mục
tiêu của mình.
- Nhờ có nghiệp vụ này, NHTW có thể kiểm soát được lượng tái cấp vốn không
vay. Việc kiểm soát này không thể thực hiện được trong nghiệp vụ tái chiết khấu. Ở
nghiệp vụ tái chiết khấu, NHTW có thể khuyến khích hoặc hạn chế khối lượng tái
chiết khấu và có thể khống chế hạn mức tái chiết khấu nhưng không thể kiểm soát
được nhu cầu tái chiết khấu các NHTM.
1.8.2. Nhược điểm
- Vì các ảnh hưởng của nghiệp vụ thị trường mở đến cơ số tiền bị triệt tiêu bởi
các tác động ngược chiều nên dự trữ của ngân hàng không tăng hoặc giảm tương ứng
sau các hoạt động mua bán chứng khoán của NHTW. Chẳng hạn, do dòng chảy ngược
chiều của vốn, do mất cân đối trong cán cân thanh toán hoặc do số dư tiền gửi ngân
SVTH: Nguyễn Thị Yến Loan-38H12K7.1 Trang 17
Đề án môn học GVHD: PGS.TS. Võ Thị Thúy Anh
sách ở NHTW tăng lên, các hoạt động mua chứng khoán của NHTW nhằm tăng lượng
tiền cung ứng sẽ bị triệt tiêu một phần hay toàn bộ.
- NHTW không phải lúc nào cũng tăng hay giảm lượng cung ứng tín dụng và
đầu tư khi dự trữ tăng lên hay giảm xuống dưới tác động của nghiệp vụ thị trường mở.
Có nhiều yếu tố ngăn cản NHTM sử dụng tối đa số dự trữ dư thừa cho mục tiêu mở
rộng tín dụng như: nhu cầu trả nợ NHTW, nhu cầu sử dụng tiền mặt tăng lên
- Khi lãi suất thị trường giảm xuống, không phải lúc nào khối lượng tín dụng
cũng tăng lên tương ứng. Điều này còn phụ thuộc vào khả năng hấp thụ vốn của nền
kinh tế, mức độ rủi ro và thiếu ổn định của môi trường đầu tư.
2.1.1. OMO giai đoạn 2007 - 2009
Ngân hàng Nhà nước đã có những biện pháp khá linh hoạt trong điều hành
chính sách tiền tệ từ “thắt chặt” cho đến “nới lỏng” trong khoảng thời gian 2007 -
2008 nhằm giảm thiểu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới.
Năm 2007 là năm thứ 2 cả nước phấn khởi triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ 10, cũng là năm nước ta chính thức trở thành thành viên của WTO,
mở ra nhiều cơ hội mới. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất của NHNN năm 2007 đó là
nhập siêu ở mức cao làm tăng thâm hụt cán cân vãng lai; lạm phát có xu hướng tăng
mạnh trong bối cảnh kinh tế và thị trường tài chính quốc tế có nhiều biến động khó
lường gây sức ép đối với điều hành tỷ giá và việc kiểm soát tổng phương tiện thanh
toán và tín dụng. Trong bối cảnh đó, nghiệp vụ thị trường mở trở thành một trong
những công cụ chủ yếu để điều tiết cung tiền nhằm đảm bảo ổn định tiền tệ, kiềm chế
lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trong năm 2007, nghiệp vụ thị trường mở đã
có những đổi mới như cố định phiên mua nhằm khắc phục hạn chế của thị trường tiền
tệ, thay đổi phương thức đấu thầu nhằm bám sát mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ
và diễn biến vốn bằng VND của các tổ chức tín dụng. Cũng trong năm này, đã có 20
SVTH: Nguyễn Thị Yến Loan-38H12K7.1 Trang 19
Đề án môn học GVHD: PGS.TS. Võ Thị Thúy Anh
thành viên tham gia nghiệp vụ thị trường mở, gồm các NHTM nhà nước, các NHTM
cổ phần, ngân hàng liên doanh và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tăng 20% so với
năm trước, góp phần tăng khả năng điều tiết của nghiệp vụ này.
Năm 2008, nền kinh tế thế giới trải qua nhiều sự kiện phức tạp, khó lường xuất
phát từ cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ, trong nước kinh tế tăng trưởng chậm lại.
Trước tình hình đó, NHNN điều hành chính sách tiền tệ thắt chặt nhưng linh hoạt.
Nghiệp vụ thị trường mở trở thành công cụ cần thiết trong giải pháp thắt chặt tiền tệ
nhằm kiềm chế lạm phát có hiệu quả và ổn định kinh tế vĩ mô. Trong năm này, nghiệp
vụ thị trường mở được điều hành linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với các công cụ chính
sách tiền tệ khác để điều tiết vốn khả dụng cho các tổ chức tín dụng ở mức hợp lý, góp
phần ổn định thị trường tiền tệ. Các giao dịch nghiệp vụ thị trường mở được thực hiện
hàng ngày, chủ yếu được thực hiện theo phương thức đấu thầu khối lượng, công bố lãi
tỷ đồng. Các giao dịch nghiệp vụ thị trường mở được thực hiện hàng ngày, chủ yếu là
các giao dịch mua GTCG với kỳ hạn ngắn (7, 14 ngày); phương thức đấu thầu khối
lượng, công bố lãi suất và khối lượng nhằm ổn định thị trường; lãi suất được điều
chỉnh theo mục tiêu điều hành và phát tín hiệu điều hành của NHNN; khối lượng chào
mua phù hợp với mục tiêu điều tiết linh hoạt vốn khả dụng, hỗ trợ thanh khoản, đảm
bảo khả năng thanh toán.
Nửa đầu năm 2009, NHNN thực hiện các phiên chào mua kỳ hạn 14 ngày, lãi
suất giảm dần từ 9%/năm xuống 7%/năm để cung ứng vốn ngắn hạn cho nền kinh tế,
tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn cho các chương trình kích
thích tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, chương trình kích thích tăng trưởng kinh tế đang
ở giai đoạn đầu, nhu cầu vốn của nền kinh tế chưa cao, nguồn vốn của các tổ chức tín
dụng vẫn có dư thừa nên nhu cầu tham gia các phiên chào mua nghiệp vụ thị trường
mở không cao với doanh số trúng thầu chỉ đạt 74% so với lượng tiền chào mua của
NHNN. Khối lượng trúng thầu bình quân mỗi phiên đạt khoảng 1.000 tỷ đồng/phiên.
Nửa cuối năm 2009, nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của các TCTD có xu hướng
tăng cao theo các chương trình kích cầu của Chính phủ, NHNN đã tăng khối lượng
chào mua qua nghiệp vụ thị trường mở, khối lượng trúng thầu bình quân các phiên
chào mua tăng mạnh, đạt 95% khối lượng chào mua của NHNN và đạt khoảng 6.000
tỷ đồng/phiên, gấp 6 lần so với mức 6 tháng đầu năm. Đặc biệt trong nửa đầu tháng
12, NHNN đã chào mua qua kênh nghiệp vụ thị trường mở với khối lượng bình quân
xấp xỉ 15.000 tỷ đồng/phiên để hỗ trợ thanh khoản cho các TCTD do nhu cầu thanh
toán tăng cao trong dịp Tết dương lịch. Kỳ hạn chào mua được thực hiện linh hoạt 7
SVTH: Nguyễn Thị Yến Loan-38H12K7.1 Trang 21
Đề án môn học GVHD: PGS.TS. Võ Thị Thúy Anh
ngày và 14 ngày với lãi suất chào mua tương ứng là 7%/năm và 7-8%/năm. Đồng thời,
để chủ động kiểm soát lạm phát và điều tiết linh hoạt vốn khả dụng của các tổ chức tín
dụng trong hệ thống, NHNN đã thực hiện chào bán tín phiếu NHNN với định kỳ 3
phiên/tuần, kỳ hạn 3 tháng và 6 tháng; phương thức đấu thầu lãi suất, xét thầu thống
nhất, nhưng trong số 68 phiên đấu thầu bán tín phiếu NHNN chỉ có 2 phiên bán trúng
thầu với doanh số đạt 102 tỷ đồng.
nghiệp vụ thị trường mở được điều hành chặt chẽ hơn nhưng đảm bảo ổn định thị
trường tiền tệ thông qua việc giảm dần kỳ hạn chào mua từ dài nhất là 28 ngày xuống
chỉ thực hiện chào mua với kỳ hạn 7 ngày (từ ngày 10/11/2010); lãi suất chào mua kỳ
hạn 7 ngày tăng từ 7,0-8,75-9,0-10%/năm; khối lượng chào mua bình quân khoảng
7.160 tỷ đồng/phiên, khối lượng trúng thầu bình quân khoảng 6.970 tỷ đồng/phiên.
Cùng với việc điều hành linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ, nghiệp vụ thị trường
mở đã góp phần ổn định thị trường tiền tệ, đảm bảo an toàn thanh toán cho hệ thống
các tổ chức tín dụng; lãi suất thị trường liên ngân hàng có xu hướng xoay quanh lãi
suất nghiệp vụ thị trường mở.
Đối với riêng năm 2011, thực hiện Nghị quyết 11 của Quốc hội và Chính phủ,
chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ chặt chẽ và
thận trọng nhằm thực hiện mục tiêu kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng, tổng
phương tiện thanh toán ở mức thấp, lãi suất và tỷ giá ở mức hợp lý góp phần kiềm chế
lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội. Trong đó đặc biệt là nghiệp
vụ thị trường mở đã được sử dụng khá có hiệu quả để đảm bảo mục tiêu thực hiện
chính sách trực tiếp là lãi suất, thanh khoản cho các tổ chức tín dụng và cho nền kinh
tế, Trong 6 tháng đầu năm 2011, NHNN chỉ bơm ròng 13.056 tỷ đồng. Điều này thể
SVTH: Nguyễn Thị Yến Loan-38H12K7.1 Trang 23
Đề án môn học GVHD: PGS.TS. Võ Thị Thúy Anh
hiện NHNN quyết tâm thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, nhằm mục đích kiềm chế
lạm phát.
Bảng 2.1: Tình hình hoạt động nghiệp vụ thị trường mở 6 tháng đầu năm 2011
Đơn vị tính: Tỷ đồng
Tháng Cung ứng Hút về Cung ứng ròng
1 501.749 345.483 156.266
2 314.493 345.338,8 -30.845,8
3 468.904 511.392,3 -42.488,3
4 519.695,7 453.002,7 66.693
5 353.381,9 425.139,5 - 71.757,6
6 141.838,4 206.649,7 - 64.811,3
SVTH: Nguyễn Thị Yến Loan-38H12K7.1 Trang 25