PHẦN 1: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG MỞ
1. Khái niệm chung về nghiệp vụ thị trường mở
Sau cuộc suy thoáI kinh tế năm 1920-1921, cục dự trữ liên bang Mĩ-NHTW
(viết tắt là FED) thiếu vốn nghiêm trọng, nguồn thu nhập trước đó của FED chủ yếu
thu từ nghiệp vụ chiết khấu, nhưng do hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế đã
làm lượng tiền vay chiết khấu giảm sút, dẫn tới giảm nguồn thu. FED bí tiền đành
buôn bán chứng khoán kiếm lãi để tiếp tục hoạt động của mình. Trong khi thực
hiện mua chứng khoán, bỗng nhiên các nhà điều hành thị trường tiền tệ phát hiện
thấy dự trữ trong các ngân hàng tăng lên còn các khoản cho vay và tiền gửi tăng lên
gấp bội. Kết quả này được FED rút ra một bài học bổ ích từ thực tế vô tình là việc
mua bán chứng khoán sinh lãi có thể làm thay đổi cơ số tiền tệ nhạy bén nhất.
Thuật ngữ “thị trường mở” lần đầu tiên xuất hiện ở Mỹ vào những năm 20 của thế
kỷ XX khi nghiệp vụ này bắt đầu được thi hành. Các nghiệp vụ của ngân hàng
trung ương Mỹ về thị trường mở so với các công cụ khác có phạm vi rộng nhất vì
nước này có thị trường giấy tờ có giá lớn nhất . Ở Anh nghiệp vụ TTM đóng vai
trò quan trọng từ những năm 30. Ngân hàng Raykh Đức bắt đầu thi hành chính sách
tiền tệ từ năm 1933.
Nghiệp vụ thị trường mở (NVTTM) là gì ? Mặc dù khái niệm TTM đã được
chúng ta tiếp cận từ thời kỳ đổi mới hoạt động ngân hàng cho đến nay, song để trả
lưòi câu hỏi này vẫn không ít người mơ hồ. Để trả lời câu hỏi trên hãy tiếp cận với
một số quan điểm vể NVTTM như sau:
Theo quan điểm của nước Anh: “NVTTM là việc NHTW mua bán trái phiếu
dài hạn của Chính phủ trên thị trường trái phiếu có bảo đảm để làm tăng hoặc giảm
mức cho vay của ngân hàng. Khi mua trên thị trường mở, NHTW sẽ thanh toán
cho các cá nhân và tổ chức đã bán trái phiếu cho nó. NVTTM về chứng khoán ngắn
hạn cũng được thực hiện trên thị trường tín phiếu. Nơi mà NHTW bán và mua trái
phiếu chính phủ và kỳ phiếu thương mại để tác động đến lãi suất và duy trì sự ổn
định của thị trường”.
Theo quan điểm của Mỹ: “ NVTTM là việc mua và bán các loại chứng khoán
trên thị trường tài chính được thực hiện bởi FED “
Theo tài liệu ở trường đại học VICTORIA NEWREALAND: “ Một NVTTM
tín phiếu ngân hàng nhưng vẫn là giấy tờ có giá ngắn hạn.
Tóm lại thì “ NVTTM là nghiệp vụ được thực hiện bởi NHTW mà nội dung
cụ thể của nó là mua vào và bán ra các loại chứng khoán – các loại chứng khoán
này không bị giới hạn về thời hạn trên TTM, thông qua đó NHTW tác động trực
tiếp đến lượng tiền cung ứng và gián tiếp tới lãi suất thị trường”
Do tính chất thời hạn của công cụ sử dụng trong NVTTM nên NVTTM
không chỉ được thực hiện trên thị trường tiền tệ ( thị trường của các công cụ tài
chính ngắn hạn) mà còn được thực hiện trên cả thị trường vốn (thị trường của các
công cụ tài chính dài hạn) hay nói cách khác là được thực hiện thị trường tài chính.
Trong khái niệm này cũng không có thời hạn về chủ thể tham gia TTM là cá
nhân hay tổ chức. Vì bất kỳ đối tượng mà NHTW mua hoặc bán là ai thì NHTW
vẫn thực hiện được chính sách tiền tệ (CSTT) tác động đến cơ số tiền tệ làm tăng
giảm lượng tiền cung ứng trong nền kinh tế , mà cụ thể hoạt động của nó được hình
trình bày ở phần tiếp theo.
2. Hàng hoá và chủ thể tham gia NVTTM
2.1.Hàng hoá
2.1.1.Phạm vi hàng hoá được giao dịch trên TTM
Về nguyên tắc, mọi tài sản có thể mua bán trên TTM vì chúng đều là tài sản
thế chấp. Tuy nhiên, khác với tái cấp vốn thông qua hình thức cho vay có đảm bảo
ở chỗ tài sản thế chấp trên NVTTM phải là tài sản có khả năng thanh khoản cao
(tức khả năng chuyển sang tiền mặt của tài sản) đảm bảo quản lý dễ dàng đồng thời
đáp ứng yêu cầu điều hành nghiệp vụ này nhanh nhạy, chính xác và đạt được ý
mong muốn. Tài sản hội đủ các điều kiện như vậy chỉ có thể là công cụ tài chính
thuật ngữ gọi là giấy tờ có giá được sử dụng trên NVTTM mỗi nước có thời hạn là
khác nhau.
2.1.2. Một số hàng hoá được giao dịch trên TTM ở Việt Nam
Theo điều 8, quyết định số 85/2000/QĐ-NHNN14 các loại giấy tờ có giá
được giao dịch thông qua TTM gồm:
1. Tín phiếu kho bạc
2. Tín phiếu ngân hàng Nhà nước
2.2. Chủ thể tham gia NVTTM
2.2.1. Phạm vi thành viên tham gia NVTTM
Chủ thể tham gia NVTTM rất đa dạng và phong phú. Tuy vậy, cũng tuỳ thuộc
vào quy định riêng của mỗi nước mà các thành viên tham gia vào NVTTM là khác
nhau. Thông thường chủ thể tham gia bao gồm : NHTW, các tổ chức tín dụng, các
tổ chức phi tín dung, doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân… nhưng không phải tất cả
các chủ thể đều có thể tham gia mà phải có những điều kiện cần thiết. Có 3 điều
kiện để xem xét phạm vi thành viên, đó là:
- Thứ nhất : NHTW muốn can thiệp trực tiếp vào lượng tiền cung ứng bao
gồm cả tiền mặt và tìên gửi , về mặt lý thuyết thành viên tham gia mua bán
trong trường hợp này được mở rộng không những chỉ gồm các tổ chức tín
dụng mà còn cả các tổ chức khác, thậm chí có thể cả các cá nhân miễn là họ
có tiền mặt và tiền gửi.
- Thứ hai : nếu cơ sở pháp lý cho phép các tổ chức tín dụng hoạt động theo
hướng đa năng như hệ thống tổ chức tín dụng của Việt Nam hiện nay thì
phạm vi thành viên tham gia mở rộng đến tổ chức tín dụng là đủ .
- Thứ ba: khả năng chuyển tải của hệ thống thanh toán. nếu cá nhân không có
séc hoặc tiền trên tài khoản gửi tại NHTW thì không thể tham gia mua bán
được trên thị trường mở, nếu tổ chức tín dụng(TCTD) không có mạng kết
nối với NHTW trong điều kiện giao dịch trên mạng thì cũng không thể trở
thành thành viên.
2.2.2. Điều kiện tham gia thị trường mở ở Việt Nam
Chủ thể tham gia nghiệp vụ TTM ở Việt Nam, được quy định như sau:
+ NHTW tham gia với tư cách vừa là người tổ chức vừa là người điều hành
thị trường, vừa là người trực tiếp mua bán trên thị trường .
+ Các thành viên khác là các TCTD được thành lập và hoạt động theo luật
các TCTD bao gồm : TCTD Nhà nước, TCTD cổ phần, TCTD hợp tác, TCTD phi
ngân hàng, TCTD nước ngoài được phép hoạt động ở Việt Nam.
Theo điều 5, quyết định số 85/2000/QĐ-NHNN14 ngày 9/3/2000 thì
thành viên tham gia TTM phải có các điều kiện sau:
trong từng thời kỳ(ở Việt Nam hiện nay là 90 ngày).
*. Mua bán có kỳ hạn(giao dịch có thời hạn): là việc bên bán bán và chuyển
giao giấy tờ có giá cho bên mua đồng thời cam kết mua lại và nhận lại quyền sở
hữu giấy tờ có giá đó sau thời gian nhất định.
Theo cách chia này, thì hình thức mua bán có thời hạn bao gồm hai hình
thức là hợp đồng mua lại và bán – mua đảo ngược mà các nước thường hay sử
dụng. Trong đó, hợp đồng mua lại được sử dụng trong trường hợp NHTW muốn
tăng dự trữ tạm thời còn hình thức bán- mua đảo ngược sử dụng trong trường hợp
NHTW muốn giảm dự trữ tạm thời.
+ Hợp đồng mua lại : khi cần bổ sung tăng dự trữ tạm thời NHTW tham
gia trực tiếp vào việc ký hợp đồng mua lại chứng khoán của nhà môi giới, tức là
NHTW mua chứng khoán của nhà môi giới; còn nhà môi giới đồng ý mua lại chứng
khoán đó vào một ngày nhất định với một mức giá nhất định. Vì dự trữ bổ sung này
sẽ dừng lại một cách tự động khi hợp đồng mua lại đến hạn nên nghiệp vụ này chỉ
là cách bơm thêm dự trữ vào hệ thống tiền gửi tạm thời mà thôi. Thời gian thực
hiện hợp đồng mua lại thường là 7 ngày.
+ Bán- mua đảo ngược: khi cần giảm khối lượng tiền tệ NHTW thực hiện
giao dịch theo hình thức bán- mua đảo ngược với các nhà môi giới, bằng một hợp
đồng bán ngay chứng khoán cho nhà môi giới và một hợp đồng đảo ngược để mua
lại tiếp theo các chứng khoán từ nhà môi giới đó. Thời hạn thực hiện hợp đồng
thường là 7 ngày.
3.2.Phương thức đấu thầu trên thị trường mở
Các hình thức mua bán trên thị trường mở là mua bán hẳn và mua bán có thời
hạn đều được thực hiện trên phòng giao dịch thông qua phương thức đấu thầu. Có
hai phương thức mà NHTW áp dụng để đấu thầu là đấu thầu lãi suất và đấu thầu
khối lượng .
3.2.1 Phương thức đấu thầu khối lượng
Là việc xác định khối lượng trúng thầu của các tổ chức tín dụng tham gia
nghiệp vụ TTM trên cơ sở khối lượng dự thầu của các tổ chức tín dụng, khối lượng
giấy tờ có giá mua hoặc bán và lãi suất do NHTW thông báo cụ thể như sau :
mức lãi suất trúng thầu để tính số tiền phải thanh toán.
+ L ãi suất riêng lẻ : khối lượng trúng thầu được tính tương ứng với từng mức
lãi suất dự thầu được công bố trúng thầu để tính số tiền thanh toán.
Khối lượng trúng thầu được tính theo nguyên tắc :
+ Nếu tổng khối lượng dự thầu của các TCTD nhỏ hơn hoặc bằng khối
lượng mà NHTW cần mua hoặc cần bán thì khôí lượng dự thầu chính là khối lượng
trúng thầu.
+ Nếu tổng khối lượng dự thầu của các TCTD lớn hơn khối lượng mà NHTW
cần mua hoặc cần bán thì khôí lượng trúng thầu của các TCTD được tính tỷ lệ
thuận với khối lượng dự thầu của các TCTD đó.
4. Cơ chế tác động tới lượng tiền cung ứng của NVTTM
4.1. Khái niệm cơ số tiền tệ và lượng tiền cung ứng
Nghiệp vụ TTM được coi là công cụ chính sách tiền tệ quan trọng nhất, có
hiệu quả nhất vì nghiệp vụ này là yếu tố quyết định quan trọng nhất đối với những
thay đổi trong cơ số tiền tệ và là nguồn chính gây nên những biến động trong lượng
tiền cung ứng. Việc NHTW mua trên TTM làm tăng cơ số tiền tệ và do đó làm tăng
lượng tiền cung ứng, còn việc bán trên TTM thì thu hẹp cơ số tiền tệ và làm giảm
lượng tiền cung ứng. Vậy để hiểu rõ cơ chế tác động tới lượng tiền cung ứng của
NVTTM chúng ta cần lắm chắc các khái niệm về cơ số tiền tệ và lượng tiền cung
ứng :
- Cơ số tiền tệ ( hay lượng tiền cơ bản (MB-Money Base) bao gồm lượng
tiền trong lưu thông (C) cộng với lượng tiền dự trữ trong hệ thống các ngân hàng (R
) (bao gồm cả tiền dự trữ bắt buộc mà các NHTM gửi tại NHTW (RR) và dự trữ
vượt quá nằm trong két của các NHTM(ER)
MB= C +R (1)
R = RR + ER (2)
- Lượng tiền cung ứng( hay mức cung tiền (MS) là tổng số tiền có khả năng
thanh toán. Nó bao gồm tiền mặt đang lưu hành và các khoản tiền gửi không kì hạn
tại các NHTM(D).
Như vậy, mức cung tiền lớn hơn nhiều so với lượng tiền cơ bản bởi do hoạt động