Tài liệu Toà án hình sự quốc tế - một thiết chế pháp lý bảo vệ các quyền con người - Pdf 10

Toà án hình sự quốc tế - một
thiết chế pháp lý bảo vệ các
quyền con người
1. Khái quát lịch sử hình thành Tòa án hình sự quốc tế
Trong xã hội hiện đại, với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập, những
giá trị cao quý nhất - các quyền con người - ngày càng được các nhà
nước và xã hội quan tâm và bảo vệ. Do đó, các thiết chế quốc tế được
thành lập ra nhằm bảo vệ các quyền con người (CQCN) ngày càng
phong phú, đa dạng. Lời nói đầu Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền
con người năm 1948 (được Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua và
công bố theo Nghị quyết số 217A (III) ngày 10/12/1948) đã khẳng
định: “Việc thừa nhận phẩm giá vốn có, các quyền bình đẳng và không
thể tách rời của mọi thành viên trong gia đình nhân loại là cơ sở cho tự
do, công bằng và hòa bình trên thế giới Điều cốt yếu là quyền con
người cần phải được pháp luật bảo vệ để con người không buộc phải
nổi dậy như là một biện pháp cuối cùng nhằm chống lại sự độc tài và áp
bức Các quốc gia thành viên đã cam kết, cùng với Liên hiệp quốc,
phấn đấu thúc đẩy sự tôn trọng và tuân thủ chung các quyền và tự do cơ
bản của con người”. Do đó, một trong các thiết chế của luật hình sự
quốc tế (LHSQT) là Tòa án hình sự quốc tế (International Criminal
Court, gọi tắt là ICC) được thành lập dựa trên Quy chế Rome ngày
17/7/1998(1). ICC không chỉ là hiện thân của công lý, lẽ phải, dân chủ
và lương tri toàn cầu, nó còn là tượng trưng cho sức mạnh của các dân
tộc, của cộng đồng quốc tế và xã hội loài ngoài bằng một thiết chế tố
tụng của LHSQT do chính nhân loại đặt ra - Tòa án quốc tế có thẩm
quyền xét xử các tội ác nghiêm trọng nhất trong xã hội chống lại loại
người, xâm phạm đến CQCN. Đặc biệt, điều này còn “ngăn chặn việc
trốn tội và đồng thời cũng thiết lập hệ thống thường xuyên nhằm ngăn

thế giới, và đặc biệt là bảo vệ những giá trị của xã hội văn minh -
CQCN. Có thể nhận thấy rõ rằng ICC theo Quy chế Rome là thiết chế
được thừa hưởng và hoàn thiện trên cơ sở các thành tựu của lịch sử loài
người trong việc bảo vệ CQCN như Luật quốc tế về nhân quyền, Luật
nhân đạo quốc tế, Luật xung đột vũ trang. Để đảm bảo cho việc hình
thành Tòa án, ngoài quy chế Rome còn có một số văn bản khác hỗ trợ
như Quy tắc về thủ tục và chứng cứ (Rules of Procedure and Evidence)
và các yếu tố cấu thành tội phạm (Elements of Crimes); Thỏa thuận về
các quyền ưu đãi và miễn trừ của ICC (Agreement on Privileges and
Immunities of ICC - Apic).
2. Nội dung của việc bảo vệ các quyền con người bằng Toà án
hình sự quốc tế
2.1. Những nguyên tắc quy định trong Quy chế Rome về ICC - cơ
sở quan trọng cho việc bảo vệ các quyền con người
Các nguyên tắc của luật hình sự được ghi nhận trong Quy chế Rome
về ICC đã thể hiện quyết tâm bảo vệ những giá trị xã hội cao quý nhất -
CQCN. Theo Quy chế Rome về ICC, những nguyên tắc của luật hình
sự được quy định tập trung tại Phần 3 (các điều 22-33) với những
nguyên tắc: i) Nguyên tắc pháp chế (khoản 1 Điều 22 và Điều 23); ii)
Nguyên tắc nhân đạo (Điều 24); iii) Nguyên tắc trách nhiệm cá nhân
(Điều 25); iv) Nguyên tắc loại trừ quyền tài phán đối với người dưới 18
tuổi (Điều 26); v) Nguyên tắc bình đẳng trước luật hình sự (Điều 27);
vi) Nguyên tắc công minh (Điều 28); vii) Nguyên tắc không áp dụng
thời hiệu đối với những tội xâm phạm sự tồn tại hòa bình và an ninh
của nhân loại (Điều 29) và 8) Nguyên tắc trách nhiệm do lỗi (Điều 30).
Trong số những nguyên tắc của luật hình sự, nguyên tắc pháp chế,
nhân đạo, loại trừ quyền tài phán đối với người dưới 18 tuổi và nguyên
tắc không áp dụng thời hiệu đối với những tội xâm phạm sự tồn tại hòa
bình và an ninh của nhân loại phản ánh trực tiếp tư tưởng bảo vệ
CQCN bằng luật hình sự. Theo đó, với pháp chế, không ai phải chịu

cộng đồng quốc tế, mà cụ thể là tội diệt chủng, tội chống nhân loại, tội
phạm chiến tranh, tội xâm lược. Trong bốn loại tội ác thuộc thẩm
quyền xét xử của ICC thì tội xâm lược chưa có định nghĩa, mà theo
Điều 5.2 Quy chế Rome thì “Tòa án sẽ thực thi thẩm quyền đối với các
tội xâm lược khi một quy định về định nghĩa tội xâm lược và các điều
kiện để Tòa án thực hiện quyền tài phán đối với tội này được thông qua
theo các điều 121 và 123…”. Để đưa ra được sự thống nhất về thẩm
quyền tài phán của ICC, các quốc gia thành viên đã cố gắng chắt lọc
những gì tốt nhất ở các hiệp ước sẵn có. Tuy nhiên không phải lúc nào
sự nỗ lực này cũng đi đến sự đồng thuận. Chẳng hạn khi xem xét về
định nghĩa để xét xử về tội xâm lược có thể viện dẫn tương tự như các
tội ác về hòa bình được định nghĩa trong Quy chế Nremberg là “Lập kế
hoạch, chuẩn bị, khởi sự hay bắt đầu tiến hành cuộc chiến tranh xâm
lược hay chiến tranh phá hoại các hiệp ước, các thỏa thuận, các bảo
đảm quốc tế; Tham gia vào một kế hoạch hay âm mưu chung để thực
hiện bất kỳ trong số hành động nào kể trên”. Định nghĩa về tội xâm
lược cần phải được Hội đồng bảo an LHQ thông qua (4) và cho đến nay
dù tội này được quy định trong Điều 5 của Quy chế Rome nhưng nó
vẫn chưa được thực thi trên thực tế. Như vậy ICC chưa thể bảo vệ
CQCN và mang lại công lý cho các nạn nhân trước hành vi tội ác này.
Đối với ba tội phạm còn lại là tội diệt chủng, tội chống loài người và
tội ác chiến tranh thì đã có định nghĩa và quy định các yếu tố cụ thể của
các tội phạm này trong Quy chế Rome. Cụ thể như sau: Điều 6 quy
định 5 loại hành vi cụ thể cấu thành tội diệt chủng; Điều 7 quy định 11
loại hành vi cấu thành tội chống loài người cùng với giải thích cụ thể về
mỗi hành vi; Điều 8 quy định trên 50 hành vi cấu thành tội phạm chiến
tranh (5).
Điểm b khoản 2 Điều 8 Quy chế Rome quy định ICC có thẩm quyền
tài phán đối với hành vi vi phạm nghiêm trọng luật pháp và tập quán
được áp dụng trong xung đột vũ trang quốc tế, trong đó có hành vi: “Cố

động của con người cụ thể nhưng thường là sự thể hiện ý chí của không
chỉ một cá nhân mà của một tổ chức, thậm chí một Chính phủ. Do đó
khi xem xét trách nhiệm hình sự của cá nhân phạm tội thì thường liên
quan đến nhiều người. Chính vì vậy các hoạt động tố tụng từ điều tra,
truy tố, xét xử đến việc thu thập chứng cứ, bảo vệ nhân chứng v.v cần
phải được quy định chặt chẽ cũng như việc thực thi phải được tiến hành
hết sức nghiêm túc vì nó ảnh hưởng đến CQCN được pháp luật quốc
gia và pháp luật quốc tế bảo vệ.
Theo Điều 17 và 20 “nguyên tắc không xét xử hai lần” và theo tinh
thần chung xuyên suốt Quy chế Rome về ICC - thẩm quyền của ICC có
tính chất bổ sung, hỗ trợ các quốc gia - thì ICC sẽ không thể tham gia
vào trường hợp nào đó nếu trường hợp này đang được xem xét trách
nhiệm hình sự bởi một quốc gia. Những trường hợp được liệt kê ở Điều
17 có ý nghĩa trong việc bảo vệ CQCN mà cụ thể ở đây là bảo vệ
những người có liên quan đến trách nhiệm hình sự khi quy trình tố tụng
không được thực hiện do quốc gia không mong muốn hoặc không có
khả năng.
Cho nên, để bảo đảm việc xử lý các cá nhân thực hiện tội ác nghiêm
trọng xâm phạm đến CQCN, nhưng cũng tránh làm oan, sai cho người
vô tội, Quy chế Rome đã quy định chặt chẽ về thủ tục tố tụng như sau:
1) Thực hiện quyền tài phán (Điều 13 Quy chế). Tòa án có thể thực
hiện quyền tài phán khi xảy ra một hay nhiều tội phạm thuộc thẩm
quyền tài phán của ICC được quốc gia thành viên hoặc Hội đồng bảo
an LHQ thông báo cho Trưởng công tố; Trưởng công tố cũng có thể tự
mình mở điều tra căn cứ vào những thông tin thuộc quyền tài phán của
ICC; 2) Tiến hành điều tra, truy tố: để tiến hành hoạt động này thì
Trưởng công tố phải xác định thông tin nhận được có đủ căn cứ để xác
định tội phạm thuộc quyền tài phán của ICC hay không, có đúng theo
quy định của Điều 17 của Quy chế hay không. Sau đó Trưởng công tố
được áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ cũng như các biện pháp

theo yêu cầu của ICC (Khoản 6 Điều 87 Quy chế Rome). Hội đồng bảo
an LHQ xác định căn cứ để ICC thực hiện quyền tài phán, hoãn hoạt
động điều tra, truy tố của ICC và định nghĩa tội xâm lược. Thêm vào
đó, ICC còn là thiết chế hỗ trợ bảo vệ nhân chứng của LHQ, do LHQ
không có nhiệm vụ bảo vệ nhân chứng nên ICC cung cấp cơ chế về nhà
ở và cơ chế bảo vệ khẩn cấp mang tính lâm thời. Một số văn bản pháp
luật quốc tế, như: Luật quốc tế về nhân quyền, Luật nhân đạo quốc tế,
Luật xung đột vũ trang đã trở thành cơ sở pháp lý cho hoạt động của
lực lượng gìn giữ hòa bình của LHQ nhằm bảo vệ CQCN. Những luật
này là đã tạo cơ sở cho việc ra đời Quy chế Rome sau này.
LHQ đã thông qua một loạt các văn bản mà những văn bản này hợp
thành Luật quốc tế về nhân quyền như Tuyên ngôn nhân quyền tháng
12L/1948; Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa thông
qua ngày 16/12/1966; Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính
trị, thông qua ngày 16/12/1966 và Nghị định thư liên quan; Công ước
về ngăn ngừa và trừng phạt tội diệt chủng (thông qua ngày 9/12/1948);
Công ước về loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (thông
qua ngày 18/12/1979); Công ước năm 1984 chống tra tấn, đánh đập và
chống đối xử hoặc trừng phạt dã man, vô nhân đạo hoặc chà đạp nhân
phẩm; Công ước của LHQ về quyền trẻ em do Đại hội đồng LHQ
(thông qua ngày 20/11/1989). Ngoài ra, để cung cấp cho các nhân viên
thuộc lực lượng gìn giữ hòa bình, cảnh sát dân sự của LHQ những tiêu
chuẩn, tiêu chí đánh giá tình hình thực hiện nhân quyền ở nơi họ được
phái đến, một loạt các văn bản khác do LHQ và các tổ chức do LHQ
bảo trợ ban hành như: Các luật lệ về đối xử với tù nhân; Các nguyên
tắc bảo vệ những người bị giam giữ hay bị bỏ tù dưới bất kỳ hình thức
nào; Các nguyên tắc cơ bản về sử dụng vũ lực và vũ khí nhỏ của các
quan chức thi hành pháp luật; Các nguyên tắc ngăn chặn và thanh tra có
hiệu quả các cuộc hành hình độc đoán; Các tiêu chí về hình sự đối với
cảnh sát gìn giữ hòa bình; Sổ tay cảnh sát dân sự LHQ; Sổ tay quan sát

người và một số cơ quan tư pháp quốc tế như Tòa án hình sự ở Nam Tư
cũ, Tòa án hình sự Ruanđa. Đến khi ICC được thành lập thì cá nhân
không những là đối tượng mà còn trở thành chủ thể của luật quốc tế.
ICC không phải là cơ quan siêu quốc gia mà là một cơ quan tương tự
như các thể chế quốc tế hiện hành… ICC không làm gì vượt ra ngoài
những gì mà mỗi quốc gia có thể làm theo pháp luật quốc tế. Vì vậy,
ICC là sự mở rộng thẩm quyền pháp lý hình sự của quốc gia… ICC
theo đó không xâm hại đến chủ quyền quốc gia… (6). ICC là kết quả
của sự đồng thuận quốc tế, thể hiện chủ quyền của quốc gia khi tham
gia giải quyết những vấn đề quan tâm chung của các quốc gia. Vị thế
của quốc gia sẽ được nâng cao, chủ quyền quốc gia sẽ thêm vững chắc,
CQCN sẽ thêm cơ chế bảo vệ khi trở thành thành viên của Quy chế
Rome về ICC. Lý do của sự khẳng định này là: 1) trở thành thành viên
của ICC chính là sự tuyên bố hoàn thiện pháp luật quốc gia; 2) thể hiện
quyết tâm của quốc gia chống lại những tội phạm nguy hiểm nhất và
đưa chúng ra trước ánh sáng của công lý bằng việc truy tố, xét xử
những cá nhân phạm tội thuộc thẩm quyền của ICC; 3) sự cam kết của
các quốc gia thành viên về sự tuân thủ các quy định của pháp luật quốc
tế, trong đó có Quy chế Rome. Theo đó những người lãnh đạo quốc gia
trong mỗi hành động của mình đều phải cân nhắc trước nguy cơ bị xem
xét trách nhiệm hình sự nếu thực hiện những tội phạm thuộc thẩm
quyền của ICC (tội diệt chủng, tội chống loài người, tội phạm chiến
tranh, tội xâm lược); 4) Quy chế Rome không phải là thiết chế đầu tiên
và duy nhất lên án những tội phạm gây ảnh hưởng nghiêm trọng nhất
đến hòa bình, an ninh và thịnh vượng của thế giới mà trước đó còn có
nhiều công ước như Công ước Geneve, Công ước về ngăn ngừa và
trừng trị tội diệt chủng cũng đã có quy định về việc ngăn chặn những
hành vi này; 5) ICC là sự bổ sung cần thiết cho những thiếu hụt của hệ
thống pháp luật quốc tế hiện hành, góp phần quan trọng vào việc giữ
gìn công lý, chấm dứt tình trạng miễn trừ đối với người phạm tội, giải

người bị buộc tội hoặc thu thập được các chứng cứ và lời khai cần thiết
hoặc không thể tiến hành tố tụng được hay không. Một ý nghĩa nữa của
Điều 17 Quy chế Rome là tòa án đầu tiên giải quyết các vụ án có liên
quan đến thẩm quyền của ICC không phải là ICC mà là hệ thống tư
pháp ở các quốc gia. ICC chỉ có thẩm quyền trong những trường hợp
đã phân tích ở trên (quy định tại Điều 17 Quy chế Rome).
Trong mối liên hệ với Tòa án quốc gia thì ICC không có chức năng
như một tòa kháng án, cũng không có thẩm quyền đối với các tội diệt
chủng, tội chống loài người, tội phạm chiến tranh, tội xâm lược nếu
như thuộc trường hợp mà Tòa án quốc gia điều tra, truy tố. ICC có
thẩm quyền thấp hơn và trợ giúp cho việc xét xử của những Tòa án
quốc gia. Từ sự phân tích trên cho thấy ICC là một thiết chế hỗ trợ cho
hệ thống tư pháp của quốc gia trong việc đấu tranh phòng và chống các
loại tội phạm đặc biệt nguy hiểm nhằm bảo vệ CQCN. Sự hỗ trợ này
thể hiện trên hai phương diện: 1) Nguyên tắc bổ sung của ICC cho hệ
thống tư pháp quốc gia và 2) Giống các toàn án quốc tế khác, ICC có
thẩm quyền xem xét tính hiệu quả của hệ thống tư pháp của các quốc
gia. Như vậy để ICC không thực hiện được thẩm quyền của mình thì
các quốc gia cần phải hoàn thiện hệ thống tư pháp của mình sao cho
hoạt động đạt hiệu quả, cũng như là thể hiện quyết tâm của quốc gia
đấu tranh chống lại những tội ác quốc tế, bảo đảm công lý và bảo vệ
CQCN.

(Kỳ sau đăng tiếp)
(1) Tội phạm khi thực hiện đều gây nguy hại cho xã hội, cho hòa
bình và an ninh của nhân loại và xâm phạm đến quyền con người.
Người thực hiện chúng đều bị xét xử theo các cấp độ khác nhau và
công việc này do Tòa án quốc gia và quốc tế thực hiện. ở tầm quốc tế,
công việc này do Tòa án nhân danh cộng đồng quốc tế xét xử như: Tòa
án quốc tế Nurrumbe, Tòa án quốc tế Tôkyo, Tòa án hình sự Ruanđa và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status