1
Tiểu luận
Tìm hiểu Tòa án hình sự quốc tế
2
17/7/1998 để thành lập ra Tòa án hình sự quốc tế (International Criminal Court). Văn kiện dự
thảo đã được các đoàn đại biểu có mặt đồng ý thông qua trọn gói bằng bỏ phiếu, trong đó có 120
3
phiếu ủng hộ, 7 phiếu chống và 21 quốc gia không tham gia bỏ phiếu. Sự kiện này là hết sức có ý
nghĩa bởi được diễn ra đúng vào ngày cả thế giới kỷ niệm 50 năm ngày thông qua Tuyên ngôn
thế giới về quyền con người (10/12/1948). Khi mới thông qua, nhiều người đã cho rằng phải mất
vài thập kỷ mới đạt được con số 60 quốc gia phê chuẩn đủ để Quy chế có hiệu lực. Tuy nhiên,
với việc 10 quốc gia phê chuẩn Quy chế ngày 11/4/2002, Quy chế sẽ bắt đầu phát sinh hiệu lực từ
ngày 01/7/2002 căn cứ theo Điều 126.
Quy chế được chia thành 13 phần và 128 điều khoản trong đó định nghĩa về các tội phạm hình
sự, thẩm quyền xét xử, cơ cấu tổ chức, thẩm quyền của Tòa, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của
các cơ quan cũng như những nguyên tắc chung của luật hình sự, bản án, thủ tục tố tụng hình sự,
việc thi hành các bản án và hợp tác trong lĩnh vực hình sự, đặc biệt nhấn mạnh đến những nguyên
tắc của luật hình sự quốc tế. Căn cứ theo Điều 120 - Quy chế Rome, các quốc gia tham gia không
được phép bảo lưu đối với bất kỳ điều khoản nào trong Quy chế.
II. Cơ cấu tổ chức
1. Thành phần
Theo Điều 34 Quy chế Rome, Tòa Hình sự quốc tế gồm có 4 cơ quan chính: Chủ tịch Tòa án
(The Presidency); 1 Bộ phận phúc thẩm (Appeals Division); 1 Bộ phận xét xử (Trial Division) và
1 Bộ phận Tiền xét xử (Pre-Trial Division); văn phòng Công tố viên (The Office of the
Prosecutor) và Thư ký Tòa (Registrar).
a, Chủ tịch Tòa án (The Presidency)
Theo Điều 38 Quy chế Rome, Chủ tịch Tòa án bao gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch thứ nhất và
Phó Chủ tịch thứ hai. Những người này sẽ được bầu trong số các thẩm phán với đa số tuyệt đối.
Chủ tịch Tòa án là cơ quan chịu trách nhiệm về các công việc hành chính của Tòa trừ những chức
năng thuộc về Văn phòng Công tố viên cũng như những chức năng khác được quy định trong
Quy chế (Điều 38 (3), (b) – Quy chế Rome). Để thực hiện tất cả những trách nhiệm của mình,
Chủ tịch Tòa án sẽ hợp tác với sự nhất trí của Công tố viên về tất cả các vấn đề liên quan tới chức
tiến hành xem xét và thực hiện các hoạt động điều tra và truy tố các tội phạm đó trước Tòa. Công
tố viên (Prosecutor) là người đứng đầu Văn phòng Công tố viên, có toàn quyền quyết định các
vấn đề về quản lý và hành chính của văn phòng, như nhân viên, phương tiện bảo đảm hoạt động
và những vấn đề khác (Điều 42 (1), (2) – Quy chế Rome).
d, Ban Thư ký Tòa án (The Registry)
Ban Thư ký của Tòa án sẽ chịu trách nhiệm về những vấn đề không thuộc chức năng tư pháp
liên quan đến việc quản lý hành chính và phục vụ của Tòa. Đứng đầu là Thư ký Tòa (Registrar)
là viên chức hành chính của Tòa hoạt động dưới quyền của Chủ tịch Tòa án. Thư ký Tòa sẽ có
nhiệm kỳ 5 năm, có quyền bầu lại và phục vụ toàn thời gian (full-time basis). Thư ký Tòa sẽ được
các thẩm phán bầu ra bằng bỏ phiếu kín có lưu ý đến sự giới thiệu của Hội đồng toàn thể các
quốc gia thành viên (The Assembly of States Parties). Trong trường hợp cần thiết và theo sự giới
thiệu của Thư ký, các thẩm phán có thể sẽ bầu ra Phó thư ký theo cách thức tương tự. Các Phó
5
Thư ký sẽ có nhiệm kỳ 5 năm hoặc ngắn hơn theo sự quyết định của đa số tuyệt đối các thẩm
phán.
2. Những tiêu chuẩn, sự đề cử và bầu chọn của các thẩm phán
Tòa sẽ bao gồm 18 thẩm phán. Tuy nhiên Chủ tịch Tòa án có thể sẽ đề xuất một số lượng
nhiều hơn 18 thẩm phán nhằm đáp ứng các yêu cầu công việc của Tòa. Chủ tịch Tòa án sẽ phải
giải trình lý do để đề xuất số lượng đó tại một kỳ họp của Hội đồng toàn thể các quốc gia thành
viên và sẽ được chấp thuận với tỷ lệ 2/3 số thành viên. Ngược lại, Chủ tịch Tòa án sau đó cũng
có thể đề xuất một số lượng các thẩm phán ít hơn căn cứ vào số lượng công việc thực tế của Tòa.
Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, số thẩm phán sẽ không thể ít hơn 18. Đây là một thủ tục đơn
giản và tương đối mềm dẻo cho phép điều chỉnh quy mô của Tòa căn cứ vào công việc thực tế
của Tòa mà không cần thiết phải sửa đổi Quy chế.
- Tiêu chuẩn
Theo Điều 36 (3), (b)-Quy chế Rome thì những thẩm phán được chọn từ những người có phẩm
chất đạo đức tốt, không thiên vị, liêm chính và có đáp ứng đầy đủ những tiêu chuẩn để được bầu
vào những chức vụ tư pháp cao nhất ở nước họ. Thêm vào đó, các thẩm phán được đề cử phải có
Trong lần bầu cử đầu tiên, 1/3 số thẩm phán sẽ bầu bằng cách rút thăm cho một nhiệm kỳ 3
năm, những người này có thể được bầu lại với nhiệm kỳ toàn thời gian; 1/3 số thẩm phán sẽ được
bầu bằng rút thăm với nhiệm kỳ 6 năm và số còn lại sẽ được bầu với nhiệm kỳ 9 năm. Đối với
những thẩm phán được giao nhiệm vụ tại các Tòa xét xử và Tòa phúc thẩm, trong trường hợp
nhiệm kỳ của họ đã hết, họ vẫn sẽ tiếp tục theo đuổi vụ án mà họ đã đảm nhận trước khi nhiệm
kỳ của họ chấm dứt.
3. Thủ tục
Trong quá trình giải quyết vụ án bên cạnh nhiệm vụ chứng minh tội phạm và trừng phạt
người phạm tội bằng một bản án thì trách nhiệm không làm oan người vô tội của toà án và các cơ
quan tiến hành tố tụng của Toà án hình sự quốc tế cũng như của các quốc gia thành viên cũng
không kém phần quan trọng. Quy chế Rome đã giải quyết tốt hai yêu cầu này.
3.1. Thông báo và phát hiện tội phạm:
Việc thụ lý giải quyết vụ án: Khi có sự việc được thông báo cho toà án và được công tố
Viên thông báo và phát hiện tội phạm quốc tế được thực hiện bởi:
- Các quốc gia thành viên thông báo cho Công tố viên về việc sảy ra một hoặc nhiều tội
phạm thuộc thảm quyền tài phán của ICC tại quốc gia mình hoặc quốc gia khác.
- Hội đồng bảo an liên Hợp quốc thông báo cho công tố viên về việc đã xảy ra một hoặc
nhiều tội phạm thuộc thẩm quyền của ICC.
- Công tố viên có thể tự mình mở điều tra dựa vào các thông tin về các tội phạm thuộc
thẩm quyền tài phán của ICC.viên đã xác định có đủ căn cứ để mở điều tra và thông báo cho các
quốc gia thành viên, yêu cầu các quốc gia thành viên có liên quan theo các nội dung thông tin về
tội phạm mà công tố viên yêu cầu.
7
3.2. Tiến hành điều tra và truy tố:
Sau khi xác minh thông tin nhận được, công tố viên mở cuộc điều tra. Để quyết định có
mở cuộc điều tra hay không phải dựa vào các tình tiết:
- Thông tin mà công tố viên nhận được có đủ để xác định tội phạm thuộc quyền tài phán
của Toà hay không;
Phn VI Quy ch Rome.
8
Khi có kháng cáo, Hội đồng kháng cáo có tất cả các quyền của hội đồng xét xử. Hội đồng
kháng cáo có quyền ra một trong các quyết định sau:
- Huỷ bỏ hoặc sửa đổi quyết định hoặc bản án bị kháng cáo
- Quyết định xét xử lại trước một Hội đồng xét xử khác.
3.7. Thi hành án:
Việc thi hành bản án và quyết định có hiệu lực pháp luật đối với các phán quyết của Toà
án chủ yếu do các quốc gia thành viên thi hành trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của
quốc gia người phạm tội. Trong quá trình thi hành án, Toà án có thể chuyển người đang phải
thi hành án đến nhà tù của một quốc gia khác. Người thi hành án cũng có quyền đệ đơn lên
Toà án để xin chuyến quốc gia thi hành án.
Cụ thể về quá trình khởi tố - điều tra – truy tố:
a. Khởi tố ( proprio motu)
* 4 nguồn có quyền gửi kiến nghị
- Từ các quốc gia thành viên
- Hội đồng bảo an
- Các công tố viên của ICC điều tra vụ việc
- Quốc gia không phải là thành viên của quy chế Rome, nhưng tự nguyện đưa ra vụ việc và
chấp nhận thẩm quyền xét xử của ICC (trường hợp đặc biệt)
* Sau khi công tố viên nhận được kiến nghị điều tra vụ việc thì sẽ tiến hành điều tra xét
xử vụ việc
+ Nếu có căn cứ xác định rằng không cần thiết phải tiến hành điều tra, hoặc không thể tiến
hành điều tra, tiếp tục vụ việc hay không đủ các cơ sở pháp lý, chẳng hạn vụ việc không thuộc
thẩm quyền xét xử của ICC, vụ việc không cần thiết phải để ICC xét xử Công tố viên có thể
đình chỉ vụ việc.
+ Nếu thấy có đủ cơ sở để bắt đầu một cuộc điều tra chính thức đối với vụ việc, Công tố viên
sẽ phải đệ trình với ICC Cụ thể là Uỷ ban tiền xét xử - Pre-Trial Chamber (PTC)
xử. Thông thường PTC sẽ mở một phiên xử với sự hiện diện của công tố viên và bị cáo cùng luật
sư của họ. Thủ tục tại phiên xử này mang tính chất thẩm định lại hồ sơ buộc tội của công tố viên
đảm bảo để các cáo buộc đối với bị cáo là có cơ sở để có thể đưa ra xét xử tại phiên toà chính
thức.
III. Nguyên tắc hoạt động
ICC là một chủ thể của luật quốc tế, do đó nguyên tắc hoạt động của nó tuân theo các nguyên
tắc cơ bản của luật quốc tế
IV. Thẩm quyền của ICC
1. Một số nguyên tắc chi phối thẩm quyền xét xử của Tòa
- Nguyên tắc ex officio (thẩm quyền xét xử tự động của Tòa)
Theo Điều 12 (1)- Quy chế Rome
2
Điều 17- Quy chế Rome
10
“A State which becomes a Party to this Statute thereby accepts the jurisdiction of the Court with
respect to the crimes referred to in article 5”.
Tất cả những quốc gia nào đã là thành viên của Quy chế sẽ chấp nhận một cách mặc nhiên thẩm
quyền xét xử của Tòa đối với những tội phạm mà Tòa có quyền xét xử. Ở đây có một trường hợp
đặc biệt được chấp thuận trên cơ sở đề nghị của Pháp gọi là điều khoản chuyển tiếp (Transitional
Provision) đó là các quốc gia thành viên của Quy chế có quyền lựa chọn không chấp nhận thẩm
quyền của Tòa khi xét xử những kẻ phạm tội là công dân hoặc hành vi phạm tội được thực hiện
trên lãnh thổ của quốc gia mình trong một khoảng thời gian là 7 năm kể từ ngày Quy chế bắt đầu
có hiệu lực đối với mình (Điều 124- Quy chế Rome).
- Nguyên tắc Jurisdiction ratione temporis
Tòa chỉ có quyền xét xử đối với những tội phạm được thực hiện sau khi Quy chế đã bắt đầu có
hiệu lực. Trong trường hợp một quốc gia trở thành thành viên của Quy chế sau ngày Quy chế có
hiệu lực thì Tòa chỉ có quyền xét xử đối với những tội phạm được thực hiện sau ngày Quy chế
quyền xét xử của mình nếu:
- Vụ việc đã hoặc đang được một quốc gia điều tra hoặc truy tố
- Kẻ phạm tội đã bị xét xử về những tội phạm được đề cập ở trên theo tinh thần của nguyên
tắc ne bis in idem
- Vụ việc là chưa đến mức độ nghiêm trọng để Tòa có thể đặt vấn đề xét xử đối với tội
phạm đó.
Tuy nhiên, Tòa án sẽ thực hiện quyền xét xử của mình trong trường hợp:
- Vụ việc đang được Tòa án trong nước của một quốc gia điều tra hoặc truy tố nhưng quốc
gia này lại không muốn hoặc thực sự không có khả năng tiến hành điều tra hoặc truy tố
- Vụ việc đã được Tòa án trong nước của một quốc gia điều tra nhưng quốc gia này đã
quyết định không truy tố kẻ phạm tội vì không muốn hoặc thực sự không có khả năng thực
hiện điều đó
Như vậy, vấn đề mấu chốt ở đây khi đặt ra vấn đề Tòa có thẩm quyền xét xử một hành vi phạm
tội khi mà Tòa án trong nước cũng có thẩm quyền tương tự là quốc gia có có khả năng hoặc
mong muốn thực hiện việc truy tố và xét xử kẻ phạm tội hay không? Điều 17 (2) - Quy chế Rome
đã đưa ra một số tiêu chí để đánh giá “sự không mong muốn đưa ra xét xử” là:
- Quá trình điều tra và truy tố đã hoặc đang được tiến hành cũng như toà án trong nước đã đưa
ra quyết định với mong muốn bảo vệ kẻ phạm tội khỏi trách nhiệm hình sự đối với những tội
phạm mà Tòa có thẩm quyền xét xử.
- Có sự trì hoãn mà không lý giải được trong quá trình điều tra và truy tố mà trong những hoàn
cảnh cụ thể lại mâu thuẫn với ý định đưa kẻ phạm tội ra xét xử
- Quá trình điều tra và truy tố đã và đang thực hiện là không độc lập và thiếu khách quan và quá
trình này đã và đang được thực hiện trong những hoàn cảnh cụ thể lại mâu thuẫn với ý định đưa
kẻ phạm tội ra xét xử.
2. Những tội phạm thuộc quyền xét xử của Tòa
12
Theo Điều 1 Quy chế thì Tòa có quyền xét xử đối với những cá nhân về những tội phạm
hình sự quốc tế nguy hiểm nhất được quy định trong Quy chế.
13
attack). Tuy nhiên, từ “tấn công” ở đây không chỉ bao gồm sự tấn công quân sự mà còn bao gồm
những biện pháp về luật pháp hoặc hành chính như là trục xuất hoặc cưỡng bức di dời chỗ ở.
Thứ hai, đó phải là những hành vi trực tiếp chống lại một cộng đồng dân cư (against a
civilian population). Do đó những hành vi đơn lẻ, cá thể, tản mác hoặc tình cờ sẽ không được coi
là những tội phạm chống lại loài người và không thể bị truy tố về những tội đó.
Cuối cùng, những hành vi này phải được thực hiện theo chính sách của nhà nước hoặc
chính sách của tổ chức (a state or organizational policy). Theo đó, những hành vi này có thể do
những viên chức nhà nước hoặc những cá nhân hành động do bị cưỡng bức, tự nguyện hoặc chấp
nhận. Tội phạm chống lại loài người có thể được thực hiện theo chính sách của một tổ chức nào
đó, chẳng hạn những nhóm phiến loạn mà không có sự liên hệ nào với nhà nước.
- Tội phạm chiến tranh (war crimes)
Được quy định tại điều 8- Quy chế Rome
Những tội phạm chiến tranh được chia thành 2 nhóm chính
- Thứ nhất, Tòa có thể xét xử những cá nhân bị cáo buộc là vi phạm nghiêm trọng 4 Công ước
Geneva 1949, bao gồm những hành vi sau nhằm chống lại những loại người được Công ước bảo
vệ, bao gồm thương binh, các thuỷ thủ của tàu bị đánh chìm hoặc hư hại, tù binh và những
thường dân trong các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng
- Thứ hai, Tòa cũng có quyền xét xử đối với một phạm vi rộng những hành vi khác vi phạm
luật quốc tế về nhân đạo, bao gồm những vi phạm được ghi nhận tại Quy tắc La Haye và Nghị
định thư I của Công ước Geneva và luật tập quán quốc tế liên quan.
3. Một số ngoại lệ về thẩm quyền xét xử của toà ICC.
Quy chế Rome có quy định một số ngoại lệ về thẩm quyền xét xử của ICC, cụ thể là ở điều 12,
25,26,27 và 31. Trong đó:
Điều 12 ( quy chế Rome 1998): quy định về điều kiện thực hiện quyền tài phán. Cụ thể trong
Khoản 2: Trong trường hợp quy định tại điều 13 khoản a hoặc c, toà án có thể thực hiện quyền tài
phán nếu một hoặc nhiều quốc gia sau là thành viên của quy chế này hoặc đã chấp nhận quyền tài
phán của Toà án theo quy đinh tại khoản 3:
- 9/2003, Công tố viên thông báo trước đại hội đồng các quốc gia thành viên ông ta sẽ bắt
đầu thực hiện quyền khởi tố (proprio motu powers) của mình dưới sự đồng ý của Uỷ ban
tiền xét xử ( PTC).
Ông trưởng công tố viên của toà ICC tuyên bố mở phiên điều tra đầu tiên. Quyết định tiến
hành điều tra được đưa ra sau khi đã được xem xét về thẩm quyền của toà theo quy chế Rome.
Công tố viên kết luận rằng những tôi ác nghiêm trọng ở Congo sẽ nhận được sự quan tâm từ phía
luật pháp và những nạn nhân.
Văn phòng công tố tiến hành phân tích tình hình ở Congo từ tháng 7/2003 và ban đầu tập
trung và tình hình tội ác tại Ituri.
15
Tháng 9/2003, công tố viên tuyên bố ông ta sẵn sàng thực hiện phiên điều tra đầu tiên đối với
các quốc gia thành viên dưới sự đồng ý của Uỷ ban tiền xét xử.
Trong lá thư, chính phủ Congo hoan nghênh sự tham gia của ICC và đến tháng 5/2004 đã
trình bày về tình hình Congo lên toà.
Hàng nghìn người dân đã chết trong cuộc xung đột tại Congo từ những năm 1990. Thẩm
quyền của toà mở rộng đối với những tội ác phạm phải sau ngày 1/7/2002. Quốc gia, những tổ
chức quốc tế và những tổ chức phi chính phủ báo cáo rằng hàng nghìn người bị chết bởi giết
người hàng loạt và tử hình ngay tức khắc Congo từ năm 2002. Những bản báo cáo này đã viện
dẫn những dẫn chứng của tội hiếp dâm, tra tấn , ép buộc rời khỏi chỗ ở và sử dụng trẻ em làm
lính bất hợp pháp.
Trưởng công tố viên đã tập trung vào việc điều tra đối với những người chịu trách nhiệm
nhiều nhất đối với những loại tội phạm nguy hiểm dưới thẩm quyền của toà mà Cộng hoà Dân
chủ Congo chấp nhận.
2. Cơ sở xác định thẩm quyền của Toà
- Điều 4 (2) quy chế Rome: “Toà án có thể thực hiện các chức năng và thẩm quyền của mình
được quy định trong Quy chế này trên lãnh thổ của bất kì quốc gia thành viên nào và trên lành
thổ của bất kì quốc gia nào khác theo thoả thuận riêng”.
- Nguyên tắc Jurisdiction ratione temporis
đối với bị cáo là có cơ sở để có thể đưa ra xét xử tại phiên toà chính thức.
4. Thực tiễn
Đến nay vụ việc vẫn đang tiếp tục được ICC giải quyết. Toà đã đưa ra một số cáo buộc đối với
những cá nhân liên quan trong vụ việc là: Thomas Lubanga Dyilo, Gerrmain Katanga và Mathieu
Ngụdjolo Chui. 3 đối tượng trên đều được thông qua những thủ tục là có yêu cầu bắt giữ của
Phòng công tố, lệnh bắt giữ của Phòng tiền xét xử, sau đó được giao cho Toà và gặp Phòng Tiền
xét xử trước khi bị đưa ra xét xử chính thức. Với đối tượng thứ 4 Bosco Ntaganda thì mới chỉ bị
bắt tạm giam và đang trong quá trình điều tra.
Thomas Lubanga Dyilo: Là người sáng lập ra Liên hiệp ái quốc Congo (UPC) và Lực lượng
yêu nước vì Congo ( FPLC) và là chủ tịch của UPC. Đối tượng này đã được xét xử chính thức
ngày 26/1/2009.
Bị cáo buộc là thủ phạm của tội phạm chiến tranh bao gồm:
- Thu nhận vào quân đội và ép buộc vào quân đội những trẻ em dưới 15 tuổi và FPLC và sử
dụng những trẻ em này tham gia tích cực vào chiến sự trong phạm vi của xung đột vũ trang
quốc tế từ đầu tháng 9/2002 đến 2/6/2003 (vi phạm điều 8 khoản 2 mục (b) - quy chế
Rome)
- Thu nhận vào quân đội và ép buộc vào quân đội những trẻ em dưới 15 tuổi và FPLC và sử
dụng những trẻ em này tham gia tích cực vào chiến sự trong phạm vi của xung đột không
mang tính chất quốc tế tù 2/6/2003 đến 13/8/2003 ( vi phạm điều 8 khoản 2 mục (e) quy
chế Rome)
Germain Katanga và Mathieu Ngudjolo Chui : Đều là chỉ huy lực lượng yêu nước ở Ituri
Bị cáo buộc:
+ Tội phạm chiến tranh:
17
- Sử dụng trẻ em dưới 15 tuổi tham gia tích cực vào chiến sự theo điều 8 (2) (b) (xxvi).
- Hướng sự tấn công vào cộng đồng người dân cũng như các cá nhân không trực tiếp tham
gia vào chiến sự vi phạm điều 8 (2) (b) (i).
- Cố ý giết người vi phạm điều 8 (2) (a) (i)
Cũng giống như các tổ chức tòa án khác, tòa án này cũng hoạt động độc lập theo nguyên tắc
chung của Luật ( general principles of law). Và cũng có cơ cấu tổ chức tương tự các cơ quan tòa
án khác, bao gồm Ban xét xử (Chambers) trong đó có 3 bộ phận xét xử (Trial Chambers) và một
bộ phận Phúc thẩm (Appeals Chamber) , Văn phòng Công tố (Prosecutor) và Ban thư ký tòa(
Registry) bao gồm cả thư ký Hội thẩm và thư ký Công tố.
1. Ban xét xử ( Chambers)
- Ban xét xử sẽ có tối đa là 16 thẩm phán thường trực, trong đó không thể có hai thành viên
có cùng quốc tịch và có tối đa 12 thẩm phán ad-litem độc lập được bổ nhiệm trong một vụ xét xử
và trong đó cũng không thể có hai thành viên có cùng quốc tịch.
- Mỗi một vụ xét xử, trong bộ phận xét xử ( Trial Chamber) có nhiều nhất là 3 thẩm phán
thường trực và 6 thẩm phán ad-litem ( thẩm phán phục vụ mục đích xét xử ở toà). mỗi bộ phận
xét xử sẽ được chia thành các nhóm xét xử, mỗi nhóm xét xử sẽ đựoc chia 1 thẩm phán thường
trực và 2 thẩm phán ad-litem. Các nhóm xét xử sẽ có quyền hạn va trách nhiệm như một bộ phận
xét xử và sẽ đưa ra phán quyết phù hợp với Quy chế.
- Bộ phận Phúc thẩm gồm có 7 thẩm phán. 5 trong số đó là thẩm phán thường trực của
ICTY và 2 thẩm phán còn lại là của Tòa hình sự quốc tế Rwanda (ICTR).
- Những thẩm phán là thành viên trong Ban xét xử (Chambers) sẽ trở thành người đại diện
cho hệ thống pháp luật thế giới.
- Tiêu chuẩn của thẩm phán: Những người được chọn là thẩm phán phải là những người có
tư cách đạo đức tốt, không thiên vị, liêm chính và đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn để bầu vào những
chức vụ tư pháp cao nhất ở đất nước của họ. Họ phải có đầy đủ năng lực trong lĩnh vực luật hình
sự và tố tụng hình sự, cũng như có kinh nghiệm tham gia các vụ án hình sự trong các lĩnh vực có
liên quan đến luật quốc tế như nhân quyền, luật quốc tế và nhân đạo. Có khái niệm sâu rộng về
chuyên môn pháp lý có liên quan đến chức năng và hoạt động của tòa.
- Trong số những thẩm phán thường trực sẽ bầu ra một người đứng đầu là Chủ tịch Tòa án
hình sự quốc tế (President of the International Tribunal). Chủ tịch sẽ là thành viên trong ban phúc
thẩm và nắm quyền tối cao trong các vụ việc. Sau khi bàn bạc với các thành viên khác trong Tòa
án Hình sự quốc tế , Chủ tịch sẽ bổ nhiệm 4 thẩm phán thường trực cho ban Phúc thẩm và 9 thẩm
phán cho ban xét xử. Sau đó Chủ tịch cũng bổ nhiệm những thẩm phán ad-litem, đồng thời cũng
xác định rõ thời gian mà các thẩm phán ad-litem này làm việc trong ban xét xử. Thẩm phán chỉ
gửi lên Đại hội đồng, tại đây sẽ chọn ra 14 thẩm phán thường trực bằng số phiếu quá bán của
những thành viên của LHQ và những quan sát viên thường trực. Nếu xảy ra trường hợp hai ứng
cử viên có cùng quốc tịch thì người nào có số phiếu bầu cao hơn thì được chọn. Trong trường
hợp còn chỗ trống trong ban xét xử, sau khi bàn bạc với Chủ tịch HDBA và chủ tịch DHD, Tổng
thư ký sẽ chỉ định một thẩm phán khác nằm trong danh sách thay thế trong suốt nhiệm kỳ làm
việc.
- Những thẩm phán thường trực có nhiệm kỳ 4 năm. Họ được nhận sự phục vụ như là
những thẩm phán ICJ và có quyền được bầu lại.
• Thẩm phán ad-litem.
20
- Tổng thư ký cũng sẽ đưa ra lời mời những thẩm phán có đầy đủ năng lực theo như Điều
13 Quy chế từ các quốc gia thuộc LHQ hoặc là quan sát viên thường trực tại LHQ. Trong vòng
60 ngày sau khi nhận được giấy mời, các nước đó phải đưa ra danh sách 4 ứng cử viên và cần lưu
tâm đến sự cân bằng giữa thẩm phán nữ và nam.
- Tổng thư ký chuyển danh sách ứng cử viên cho chủ tịch Đại hội đồng. Từ đó chọn ra 27
thẩm phán ad-litem bằng số phiếu quá bán của những thành viên của LHQ và những quan sát
viên thường trực
- Thẩm phán ad-litem có nhiệm kỳ 4 năm và cũng có quyền được bầu lại.
II. Nguyên tắc hoạt động của ICTY
ICTY là tòa án hình sự được thiết lập nên bởi HDBA theo chương VII Hiến chương LHQ,
nhằm điều tra trách nhiệm hình sự của những người đã vi phạm nghiêm trọng luật nhân đạo quốc
tế trên lãnh thổ Nam Tư cũ từ năm 1991. Xét về cơ bản ICTY hoạt động dựa trên nguyên tắc hoạt
động của LHQ. Nhưng xét về thực tế, ICTY làm việc độc lập so với HĐBA mặc dù ICTY nằm
dưới sự quản lý của Văn phòng Bộ Pháp Luật của Ủy ban thư ký LHQ. Mọi hoạt động điều tra
xem xét thẩm vấn vụ việc đều được ICTY làm một cách độc lập, tuy nhiên Chủ tịch ICTY phải
nộp bản báo cáo thường niên cho HĐBA và ĐHĐ xem xét.
III. Thẩm quyền của toà án ICTY
Toà án có quyền xét xử bất kỳ cá nhân nào trên lãnh thổ Nam Tư cũ có liên quan, tham gia
để ngăn chặn hoặc trừng trị thì cấp trên này cũng sẽ phạm tội và bị toà xử phạt. Dù cho không
trực tiếp phạm tội nhưng cũng không vì thế mà trách nhiệm của họ được chối bỏ và hình phạt
dành cho họ sẽ được giảm nhẹ.
- Tất cả những đối tượng làm theo lệnh cấp trên hay chính phủ cũng sẽ không chối bỏ được
trách nhiệm của mình. Nó chỉ được toà xem xét để giảm nhẹ hình phạt.
3. Thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ
Thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ của toà án quốc tế sẽ mở rộng trên toàn lãnh thổ liên bang
Nam Tư, bao gồm cả mặt dất, vùng trời và dưới nước. Điều này đảm bảo cho việc sẽ không một
tội ác nào có thể được bỏ qua. Tất cả các tội ác sẽ được toà trừng trị thích đáng.
Thẩm quyền xét xử theo thời gian của toà án quốc tế sẽ mở rộng bắt đầu từ 1/1/1991 và kéo
dài cho đến khi xử hết tất cả các nhân vật có liên quan.
4. Thẩm quyên xét xử non bis in idem
Toà án quốc tế và toà án quốc gia có thể đồng thời xét xử các bị cáo bị khởi tố vì những hành
vi vi phạm nghiêm trọng quyền con người ở Nam Tư cũ từ 1/1/1991.
Toà án quốc tế có quyền năng cao hơn hẳn các toà án quốc gia. Trong bất kỳ giai đoạn nào,
toà án quốc tế có thể chính thức yêu cầu toà án quốc gia phục tùng thẩm quyền của mình và tuân
thủ theo những điều luật về thủ tục và bằng chứng của toà quốc tế
Sẽ không một cá nhân bị truy tố bởi toà quốc gia vì những vi phạm nghiêm trọng về quyền
con người khi mà trước đó người đó đã bị tuyên án bởi toà án quốc tế.
22
Một cá nhân bị toà án quốc gia truy tố bởi các hành vi phạm tội nghiêm trọng quyền con
người sau đó có thể bị kết án bởi toà quốc tế khi hành động của họ bị truy tố được coi là tội phạm
thông thường, hoặc toà quốc gia không công bằng hoặc không độc lập, được lập ra để bảo vệ bị
cáo trước các nghĩa vụ quốc tế, hoặc vụ việc không tiến hành một cách đúng đắn
IV. Thực tế xét xử của toà
Tổng thống Serbi Milosevic sau khi bị bắt và giao cho toà án ICTY vào năm 2001, trong
thời gian giam giữ và xét xử đã bị chết do dung thuốc trợ tim quá liều. Ông này là người đứng
đầu nhà nước. Nhưng cùng với ông cũng có đên 161 nghi phạm khác bị truy tố từ năm 1994 đến
toà vào thời điểm mà Rwanda đã là thành viên của HĐBA. Tình trạng đó làm phức tạp thêm
nhiệm vụ của HĐ bởi quan điểm của chính phủ mới và triển vọng của toà hình sự quốc tế thì
khác biệt so với những quan điểm của HĐBA. Ví dụ, khi mà chính phủ mới của Rwanda muốn
toà án mới này có thể áp dụng hình phạt tử hình thì HĐBA phản đối bởi nó đã bị bỏ phiếu chống
trong khi thành lập ICTY. Thêm vào đó, LHQ hặp khó khăn trong vịêc thuyết phục chính phủ
Rwanda đồng ý rằng toà án này có thể khởi tố những sự bạo lực của người Tutsi chống lại những
nạn nhân Hutu. Cuối cùng, Luật sư của LHQ Hans Corell đã điều hành cuộc đàm phán với chính
phủ mới của Rwanda liên quan đến vị trí của Toà án mới này. Bởi vì sự thiếu thốn cơ sở vật chất
và bởi LHQ quan ngại rằng toà án ở Kigali có thể nằm dưới sự ảnh hưởng của chính phủ Rwanda
nên sau đó, theo nghị quyết 977 của HĐBA ngày 22/2/1995, ICTR được đặt trụ sở tại Arusha,
Tanzania. Việc đặt toà ở một nước khác là chưa từng có tiền lệ và cần thiết phải có một thoả
thuận giữa nước sở tại với Tanzania. Bởi bị đơn và nhân chứng chủ yếu đến từ Rwanda nên có
một sự khó khăn với những vấn đề hậu cần và thực tiễn. Hơn thế, Arusha không phải là một địa
điểm tốt để đặt toà, kể từ đó, LHQ phải xây dựng những cơ sở vật chất cho Toà này.
Năm 1998 hoạt động của ICTR được mở rộng. Thông quan một vài nghị quyết, Hội đồng
bảo an kêu gọi Toà hoàn tất quá trình điều tra đến cuối năm 2004, hoàn tất tất cả những hoạt
động xét xử vào cuối năm 2008 và hoàn tất mọi công việc vào năm 2010.
ICTR đã hoàn tất xét xử 21 vụ và kết án 29 người. 11 vụ khác đang trong quá trình xét xử.
14 cá nhân đang bị giam cầm chờ bị xét xử nhưng công tố viên đang có ý định chuyển 5 nguời
cho thẩm quyền xét xử quốc gia
II. Cơ cấu tổ chức
1. Phòng xét xử
3 Phòng xét xử và Phòng phúc thẩm được thành lập với những thẩm phán thông qua bầu
cử bởi General Assembly từ một danh sách được đệ trình lên HĐBA. Những thành viên của các
phòng này trước hết được lựa chọn từ danh sách những ứng cử viên được đệ trình bởi các quốc
gia thành viên của LHQ. Những sự ứng cử này phải là sự đại diện thích hợp của những hệ thống
luật trên thế giới. Những thẩm phán được bầu theo thời hạn 4 năm. Họ có quyền được tái cử.
24
o Đảm bảo tiếp tục giảng dạy pháp luật trong phạm vi OTP, thông qua các diễn đàn luật
hàng tháng, xây dựng cơ sở dữ liệu các quyết định của ICTR và ICTY
3. Ban Thư ký
25
Ban thư ký chịu trách nhiệm cho các hoạt động hành chính và quản lý của Toà. Đứng đầu
ban này là Trưởng ban thư ký có nhiệm vụ cung cấp những hộ trợ pháp luật cho hoạt động của
Phòng xử án và phòng công tố. Ban thư ký còn có các chức năng pháp luật khác dựa trên Quy
chế Toà về thủ tục và bằng chứng và đây là kênh thông tin của Toà.
Ban thư ký bao gồm 2 bộ phận: Bộ phận phục vụ các vấn đề pháp luật(Judicial and Legal
Services Division ) và bộ phận hành chính (Division of Administration). Trưởng ban Thư ký
đứng đầu ban này và là đại diện của Tổng thư ký LHQ.
4. Phòng nhân chứng và hỗ trợ nạn nhân (WVSS)
Phòng nhân chứng và hỗ trợ nạn nhân được thàh lập năm 1996 theo quy chế của Toà và các
Nguyên tắc thủ tục và bằng chứng và nằm dưới sự quản lý của Ban thư ký. Nhiệm vụ của bộ
phận này là đảm bảo sự sẵn sàng của các nhân chứng bằng cách cung cấp cho họ sự hỗ trợ công
bằng và những biện pháp bảo vệ với tất cả các nhân chứng và nạn nhân được gọi ra trước toà để
làm chứng. Bộ phận này gồm có 2 đơn vị: 1 đơn vị phụ trách nhân chứng khởi tố và một đơn vị
phụ trách nhân chứng biện hộ. Những biện pháp được áp dụng bao gồm:
- Cung cấp những biện pháp hỗ trợ và bảo vệ bình đẳng cho tất cả các nhân chứng và nạn
nhân được gọi ra trước Toà: đó là các biện pháp hỗ trợ phục hồi cả về thể chất và tâm lý đặc biệt
với các nạn nhân bị cưỡng hiếp hay nô lệ tình dục, các biện pháp bảo vệ ngắn hạn và dài hạn cho
cả gia đình của họ, tư vấn cho toà những biện pháp bảo vệ và hỗ trợ và yêu cầu Toà áp dụng các
biện pháp thích hợp cho sự riêng tư của họ và bảo vệ họ.
- Hỗ trợ nạn nhân và nhân chứng: chăm sóc con cái cho các đối tượng này trong thời gian họ
vắng mặt, bảo vệ tài sản, các sự hỗ trợ về mặt hành chính, chăm sóc y tế và tâm lý, kiểm tra và
xét nghiệm toàn diện trong các trường hợp cần thiết, đồng thời hỗ trợ các thủ tục đi lại như hộ
chiếu, thị thực để đến toà và sau khi kết thúc phiên toà trở về nước.
- Bảo vệ nhân chứng: áp dụng các biện pháp bảo vệ trong quá trình di chuyển đặc biệt là từ