1
Luận văn
MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỦ YẾU
NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG
TÁC LẬP VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN
ĐẦU TƯ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ
VÀ THIẾT BỊ XÂY DỰNG
TRONG THỜI GIAN TỚI
2
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG CỦA CÔNG
TÁC LẬP VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ ĐỔI MỚI
CÔNG NGHỆ VÀ THIẾT BỊ XÂY DỰNG.
I. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƯ VÀ ĐẦU TƯ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ VÀ
THIẾT BỊ XÂY DỰNG
1. Định nghĩa về đầu tư
Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các
hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn
hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó.
Nguồn lực đó có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí
tuệ.
Những kết quả đó có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiền vốn), tài
sản vật chất (nhà máy, đường xá…), tài sản trí tuệ (trình độ văn hoá,
chuyên môn, khoa học kỹ thuật…) và nguồn nhân lực có đủ điều kiện để
làm việc có năng suất trong nền sản xuất xã hội.
Trong những kết quả đã đạt được trên đây, những kết quả trực tiếp của sự
số lượng thiết bị.
Đầu tư vào công nghệ và máy móc thiết bị theo chiều sâu gắn liền với việc
đổi mới kỹ thuật, mua sắm mới các thiết bị hiện đại hoàn hảo hơn. Đầu tư
theo chiều rộng là đầu tư mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng việc sử dụng
máy móc thiết bị với công nghệ và kỹ thuật lặp lại như cũ.
Đầu tư theo chiều sâu sẽ làm tăng hiệu quả kinh tế tính cho một đồng vốn
đầu tư nhưng lại đòi hỏi vốn đầu tư cơ bản để mua sắm thiết bị xây dựng và
công nghệ lớn hơn. Đầu tư theo chiều rộng về cơ bản không làm tăng hiệu
quả kinh tế tính cho một đồng vốn đầu tư nhưng đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu
bỏ ra ít hơn, phù hợp với hoàn cảnh thiếu vốn. Nhìn về lâu dài, đầu tư theo
chiều rộng cũng có những tác dụng quan trọng, nhất là ở giai đoạn đầu của
phát triển kinh tế vì nó cũng tạo ra điều kiện chuẩn bị cho phát triển và đầu
tư theo chiều sâu.
4
Để đầu tư đổi mới công nghệ và máy móc thiết bị xây dựng có thể tiến
hành một số hình thức đầu tư sau:
- Thay thế những thiết bị đã lạc hậu về mặt công nghệ và kỹ thuật bằng các
thiết bị thi công tiến bộ và có hiệu quả cao hơn, có chi phí quy đổi tính cho
một đơn vị sản phẩm của thiết bị làm ra bé hơn khi so sánh ở giai đoạn lập
dự án, giai đoạn thiết kế hoặc nhập khẩu máy nhưng chưa chắc đã có chi
phí quy đổi bé hơn ở khâu sử dụng sau này, bởi vì nó chịu ảnh hưởng của
nhiều nhân tố có liên quan đến đặc điểm của ngành sản xuất xây dựng và
nhất là liên quan đến khâu quản lý dự án đầu tư. Vấn đề hiệu quả kinh tế
của việc đầu tư vào công nghệ và thiết bị xây dựng phụ thuộc vào các điều
kiện sử dụng cụ thể, gắn liền với quá trình quản lý dự án đầu tư.
- Tiến hành cải tạo, hiện đại hoá các máy xây dựng hiện có đã lạc hậu.
- Cải tiến kỹ thuật sử dụng máy và công nghệ xây dựng cơ giới hoá tại các
công trường xây dựng, các phương án sử dụng máy theo công suất…
- Cải tiến kỹ thuật trong khâu bảo dưỡng, sửa chữa máy.
có tính chiến lược lâu dài của doanh nghiệp. Bởi vậy đầu tư đổi mới công
nghệ và thiết bị thi công trước hết là nhằm phục vụ những nhiệm vụ, mục
tiêu có tính chiến lược của doanh nghiệp. Các nhiêm vụ, mục tiêu đó
thường được hoạch định trong chiến lược kinh doanh, chiến lược đầu tư và
chiến lược trang bị kỹ thuật của doanh nghiệp. Trong một chừng mực nhất
định, mục tiêu nhiệm vụ đó vừa là căn cứ để lập dự án đầu tư, vừa là cơ sở
để phân tích lựa chọn dự án. Các dự án đầu tư vào công nghệ và máy móc
thiết bị có thể có các mục tiêu sau:
+ Cực tiểu chi phí và cực đại lợi nhuận.
+ Cực đại khối lượng sản phẩm xây dựng.
+ Đạt được một mức thoả mãn nào đó về hiệu quả tài chính của dự án.
+ Duy trì sự tồn tại của doanh nghiệp trong tình hình cạnh tranh hay phục
hồi doanh nghiệp thoát khỏi sự tụt dốc suy thoái.
+ Nâng cao chất lượng sản phẩm xây dựng và uy tín đối với chủ đầu tư để
chiếm lĩnh thị trường.
+ Đầu tư chiều sâu đổi mới công nghệ
+ Đầu tư để cùng nhà thầu nước ngoài liên doanh nhằm tranh thủ công
nghệ mới và mở rộng thị trường.
6
+ Đầu tư để đảm bảo điều kiện lao động, đảm bảo yêu cầu môi trường…
3.3. Các đặc điểm của ngành sản xuất xây dựng
Các nhiệm vụ sản xuất có tính cá biệt và đơn chiếc cao. Cho nên ở giai
đoạn lập dự án đầu tư mua sắm thiết bị ban đầu, việc lập dự án chỉ có tính
chất dự báo gần đúng và chưa tính hết đến các đặc điểm cụ thể của công
trường sau này. Đặc điểm này có thể làm đảo lộn hiệu quả của dự án. Do
đó để tăng độ chính xác cần phải bổ xung hay xem xét gắn liền với quá
trình quản lý dự án.
Điều kiện sản xuất không ổn định, luôn biến động theo địa điểm và giai
đoạn xây dựng công trình dẫn đến tính chất lưu động của thiết bị thi công.
kết hợp với các yêu cầu của hồ sơ thầu, yêu cầu của chủ đầu tư, của kỹ
sư tư vấn và nhất là đối với các gói thầu thực hiện đấu thầu quốc tế cho
phép quyết định các giải pháp đầu tư hợp lý nhằm từng bước đổi mới
thiết bị, tăng khả năng cạnh tranh, phù hợp với thực trạng và chiến lược
phát triển của doanh nghiệp.
3.6. Tiến bộ khoa học công nghệ trong lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng
Tiến bộ về khoa học công nghệ trong lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng
đòi hỏi sự phù hợp của thiết bị thi công về mặt chất lượng, kỹ thuật,
công nghệ trên cơ sở đáp ứng yêu cầu của chủ đầu tư, năng lực của
doanh nghiệp và bảo đảm về hiệu quả kinh tế.
3.7. Nhân tố con người trong hoạt động đầu tư đổi mới công nghệ và
thiết bị xây dựng
Đây là nhân tố rất quan trọng, có ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng
và hiệu quả công tác lập và quản lý dự án đầu tư đổi mới công nghệ và
thiết bị thi công của doanh nghiệp xây dựng. Nhân tố con người thể
hiện trên hai mặt: phẩm chất đạo đức và năng lực trình độ. Trong điều
kiện xuất phát thấp của nền kinh tế nước ta cộng với sự cạnh tranh gay
gắt trên thị trường xây dựng cơ sở hạ tầng, nếu không chú trọng đến
nhân tố này có thể dẫn tới sự sai lệch về mục tiêu cũng như hiệu quả
đầu tư của doanh nghiệp. 8Có thể tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động đầu tư đổi mới
công nghệ và thiết bị xây dựng theo sơ đồ sau
xây d
ự
ng
Nhân
tố thị
trườn
g
Định
hướn
g phát
triển
và
mục
tiêu
Đặc
điểm
sản
xuất
ngành
xây
d
ự
ng
Giải
pháp
huy
động
và sử
Thiết
bị
Đối
tác
Đạo
đức
Năng
lực
9
Trên góc độ kế hoạch hoá, dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch
chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế xã
hội, làm tiền đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ. Dự án đầu tư là một
hoạt động kinh tế riêng biệt nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hoá nền kinh
tế quốc dân nói chung.
Xét về mặt nội dung, dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên
quan với nhau được kế hoạch hoá nhằm đạt được các mục tiêu đã định
bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua
việc sử dụng các nguồn lực xác định.
Như vậy một dự án đầu tư bao gồm 4 thành phần chính:
- Mục tiêu của dự án được thể hiện ở 2 mức: 1/Mục tiêu phát triển là
những lợi ích kinh tế – xã hội do thực hiện dự án đem lại. 2/ Mục tiêu trước
mắt là các mục đích cụ thể cần phải đạt được của dự án.
- Các kết quả: đó là những kết quả cụ thể, có thể định lượng, được tạo
ra từ các hoạt động khác nhau của dự án. Đây là điều kiện cần thiết để thực
hiện được các mục tiêu của dự án.
- Các hoạt động: Là những nhiệm vụ hoặc hành động được thực hiện
trong dự án để tạo ra những kết quả nhất định. Những nhiệm vụ hoặc hành
động này cùng với một lịch biểu và trách nhiệm cụ thể của các bộ phận
thực hiện sẽ tạo thành kế hoạch làm việc của dự án.
khả thi
sơ bộ
lựa
chọn
dự án
Nghiên
cứu
khả thi
Đánh
giá
và
quyết
định
(thẩm
định
dự
án)
Hoàn
tất
thủ
tục
để
triển
khai
thực
hiện
đầu
tư
Thiết
suất
ở
mức
cao
nhất
Công
suất
giảm
dần
và
thanh
lý
Trong 3 giai đoạn trên đây, giai đoạn chuẩn bị đầu tư tạo tiền đề và quyết
định sự thành công hay thất bại ở giai đoạn sau, đặc biệt là đối với giai
đoạn vận hành kết quả đầu tư. Do đó, đối với giai đoạn chuẩn bị đầu tư,
vấn đề chất lượng, vấn đề chính xác của các kết quả nghiên cứu, tính toán
và dự đoán là quan trọng nhất. Trong quá trình soạn thảo dự án phải dành
đủ thời gian và chi phí theo đòi hỏi của các nghiên cứu.
11
Tổng chi phí cho giai đoạn chuẩn bị đầu tư chiếm từ 0.5 – 15% vốn đầu tư
của dự án. Làm tốt công tác chuẩn bị đầu tư sẽ tạo tiền đề cho việc sử dụng
tốt 85 – 99.5% vốn đầu tư của dự án ở giai đoạn thực hiện đầu tư (đúng
tiến độ, không phải phá đi làm lại, tránh được những chi phí không cần
thiết khác…). Điều này cũng tạo cơ sở cho quá trình hoạt động của dự án
được thuận lợi, nhanh chóng thu hồi vốn đầu tư và có lãi (đối với các dự án
sản xuất kinh doanh), nhanh chóng phát huy hết năng lực dự kiến (đối với
các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng và dịch vụ xã hội).
Trong giai đoạn 2, vấn đề thời gian là quan trọng nhất. Ở giai đoạn này,
Quản lý dự án là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực
và giám sát quá trình phát triển nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành
đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu
cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm dịch vụ, bằng những
phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép
Quản lý dự án bao gồm 3 giai đoạn chủ yếu. Đó là việc lập kế hoạch, điều
phối thực hiện mà nội dung chủ yếu là quản lý tiến độ thời gian, chi phí
thực hiện và thực hiện giám sát các công việc dự án nhằm đạt được những
mục tiêu xác định.
Lập kế hoạch. Đây là giai đoạn xây dựng mục tiêu, xác định những công
việc cần được hoàn thành, nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án và là quá
trình phát triển một kế hoạch hành động theo trình tự lôgic mà có thể biểu
diễn dưới dạng sơ đồ hệ thống.
Điều phối thực hiện dự án. Đây là quá trình phân phối nguồn lực bao gồm
tiền vốn, lao động, thiết bị và đặc biệt quan trọng là quản lý và điều phối
tiến độ thời gian. Giai đoạn này chi tiết hoá thời hạn thực hiện cho từng
công việc và toàn bộ dự án (khi nào bắt đầu, khi nào kết thúc).
13
Giám sát là quá trình theo dõi kiểm tra tiến trình dự án, phân tích tình hình
hoàn thành, giải quyết những vấn đề liên quan và thực hiện báo cáo hiện
trạng.
Các giai đoạn của quá trình quản lý dự án hình thành một chu trình năng
động từ việc lập kế hoạch đến điều phối thực hiện và giám sát, sau đó phản
hồi cho việc tái lập kế hoạch dự án theo hình sau:
Hình 1: Chu trình quản lý của dự án
Quản lý dự án đầu tư bao gồm các nội dung sau:
3.1- Quản lý vĩ mô và vi mô đối với các dự án
a. Quản lý vi mô đối với dự án
Lập kế hoạch
quản lý Nhà nước về kinh tế luôn theo dõi chặt chẽ, định hướng và chi phối
hoạt động của dự án nhằm đảm bảo cho dự án đóng góp tích cực vào việc
phát triển kinh tế- xã hội. Những công cụ quản lý vĩ mô chính của Nhà nước
để quản lý dự án bao gồm các chính sách, kế hoạch, quy hoạch như chính
sách tiền tệ, tỷ giá, lãi suất, chính sách đầu tư, chính sách thuế, hệ thống luật
pháp, những qui định về chế độ kế toán, thống kê, bảo hiểm, tiền lương,…
b. Quản lý vi mô đối với hoạt động dự án
Quản lý dự án ở tầm vi mô là quá trình quản lý các hoạt động cụ thể của
dự án. Nó bao gồm nhiều khâu công việc như lập kế hoạch, điều phối, kiểm
soát,…các hoạt động dự án. Quản lý dự án bao gồm hàng loạt vấn đề như
quản lý thời gian, chi phí, nguồn vốn đầu tư, rủi ro, quản lý hoạt động mua
bán,…Quá trình quản lý được thực hiện trong suốt các giai đoạn từ chuẩn
bị đầu tư, thực hiện đầu tư đến giai đoạn vận hành kết quả của dự án.
Trong từng giai đoạn, tuy đối tượng quản lý cụ thể có khác nhau nhưng đều
phải gắn với ba mục tiêu cơ bản của hoạt động quản lý dự án là: thời gian,
chi phí và kết quả hoàn thành.
3.2- Lĩnh vực quản lý dự án
Theo đối tượng quản lý, quản lý dự án bao gồm các nội dung như trong
bảng dưới. Quản lý dự án bao gồm chín lĩnh vực chính cần được nghiên
cứu, xem xét ( theo Viện nghiên cứu Quản trị Dự án Quốc tế- PMI) là:
- Quản lý phạm vi.
Quản lý phạm vi dự án là việc xác định, giám sát việc thực hiện mục đích,
mục tiêu của dự án, xác định công việc nào thuộc về dự án và cần phải thực
hiện, công việc nào ngoài phạm vi của dự án.
15
- Quản lý thời gian.
Quản lý thời gian là việc lập kế hoạch, phân phối và giám sát tiến độ thời
gian nhằm đảm bảo thời hạn hoàn thành dự án. Nó chỉ rõ mỗi công việc
kéo dài bao lâu, khi nào bắt đầu khi nào kết thúc và toàn bộ dự án bao giờ
lượng cung như thế nào.
- Lập kế hoạch tổng quan.
Lập kế hoạch tổng quan cho dự án là quá trình tổ chức dự án theo một trình
tự lôgic, là việc chi tiết hoá các mục tiêu dự án thành những công việc cụ
thể và hoạch định một chương trình để thực hiện các công việc đó nhằm
đảm bảo các lĩnh vực quản lý khác nhau của dự án đã được kết hợp một
cách chính xác và đầy đủ.
Hình 3 : Các lĩnh vực quản lý của dự án
17
III. ĐẶC ĐIỂM, NỘI DUNG CÔNG TÁC LẬP VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ ĐỔI
MỚI CÔNG NGHỆ VÀ THIẾT BỊ XÂY DỰNG TRONG DOANH NGHIỆP XÂY
DỰNG
1. Nội dung công tác lập dự án đầu tư đổi mới công nghệ và thiết bị
xây dựng
Nội dung chủ yếu của báo cáo nghiên cứu khả thi trong dự án đầu tư
gần đây nhất được quy định trong NĐ 52/1999/NĐ - CP ngày
8/7/1999 của Chính phủ. Đối với doanh nghiệp xây dựng, nội dung
Lập kế hoạch
tổng quan
* Lập kế hoạch
* Thực hiện kế
hoạch
* Quản lý những
thay
đ
ổ
p k
ế
ho
ạ
ch
Quản lý chất lượng
* Lập kế hoạch chất
lượng
* Đảm bảo chất
lượng
* Quản lý chất lượng
Quản lý nguồn
lực
* Lập kế hoạch
nhân lực
* Tuyển dụng
* Phát tri
ể
n nhóm
Qu
ả
n lý thông tin
*Lập kế hoạch
quản lý thông tin
* Phân phối thông
tin
Những nội dung chính của dự án bao gồm :
1.1. Xác định sự cần thiết phải đầu tư
- Xác định thị trường công việc cho cáca thiết bị dự kiến được đầu tư
Đây là nội dung quan trọng đầu tiên có ảnh hưởng trực tiếp nhất
đến mục tiêu và hiệu quả đầu tư đổi mới công nghệ và thiết bị xây
dựng. Việc xác định thị trường công việc càng chính xác bao nhiêu
sẽ tạo tiền đề cho việc quyết định lựa chọn phương án đầu tư hợp lý
bấy nhiêu.
Thị trường công việc có khả năng thực hiện bao gồm
Các công trình đã ký hợp đồng đang triển khai
Các công trình đang đấu thầu hoặc chuẩn bị được nhận thầu.
Đối với loại này, do chưa đủ nhân tố chắc chắn nên cần phải tiến
hành phân tích, đánh giá khả năng thắng thầu, trên cơ sở đó xác định
thị phần có thể nhất.
Các công trình dự kiến sẽ tham gia đấu thầu hoặc khi chỉ định
thầu trong chiến lược sản xuất kinh doanh hàng năm và dài hạn của
doanh nghiệp.
Trong thực tiễn việc tính toán thị phần công việc đòi hỏi rất công
phu, tỷ mỷ, dựa trên việc phân tích nhiều nhân tố có liên quan, đồng
thời sử dụng tốt nhất công cụ dự báo. Đây là nhân tố có nhiều rủi ro
19
nhất cho việc quyết định đầu tư Việc xác định thời gian, tiến độ xây
dựng, các yêu cầu về chất lượng xây dựng cũng vì vậy được phân
chia theo từng thị trường công việc. Đối với những công trình đã
được xác định, việc tính toán rất thuận lợi trên cơ sở yêu cầu, hồ sơ
của chủ công trình và kỹ sư tư vấn.
- Xác định số lượng, chủng loại thiết bị đầu tư
Thực tiễn là thời gian xây dựng các công trình giao thông và cơ sở
hạ tầng thường dài. Mặt khác một gói thầu xây dựng cơ sở hạ tầng
M
c
: Số thiết bị cần cho các công trình xây dựng của doanh
nghiệp trong khoảng thời hạn khấu hao tính toán khi lập dự án.
M
hc
: Số thiết bị hiện có của loại thiết bị t.
M
đ
: Số thiết bị dự kiến đào thải bình quân trong kỳ của thiết
bị thứ t
20
- Khả năng cung cấp máy xây dựng của thị trường bao gồm
Các nguồn và các nước cung cấp thiết bị, chủng loại, mẫu mã máy.
Trình độ kỹ thuật, đặc tính sử dụng, hiệu quả kinh tế, giá cả.
Điều kiện mua bán và thanh toán
Khả năng thuê thiết bị
- Các điều kiện thuận lợi và khó khăn
Bao gồm các vấn đề
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ thiết bị hoạt động (đường giao
thông, điện, chất đốt, cơ sở sửa chữa, khả năng cung cấp phụ tùng
thay thế…)
Các điều kiện tự nhiên về thời tiết, địa chất, thuỷ văn, nhất là
ở các công trường xây dựng dự kiến cho thiết bị thực hiện.
Các điều kiện về nguyên vật liệu xây dựng có liên quan đến
thiết bị phải vận chuyển hay chế biến.
Cuối cùng là kết luận sơ bộ về hiệu quả và sự cần thiết phải đầu tư
1.2. Lựa chọn hình thức đầu tư
- Lựa chọn hình thức huy động vốn để tự kinh doanh hay liên
hay chấn động, cơ cấu thuỷ lực hau cơ cấu cơ học bình thường, cơ
cấu di chuyển bánh xích hay bánh hơi, loại chất đốt, hoạt động liên
tục hay chu kỳ. Thiết bị của các nước công nghệ tiên tiến hay các
nước đang phát triển hoặc trong nước sản xuất…)
Xác định công nghệ sử dụng thiết bị, bao gồm việc phối hợp
giữa máy móc, con người và đối tượng lao động theo trình tự thời
gian và không gian khi thực hiện công việc xây dựng.
Xác định một số chỉ tiêu cơ bản như: Mức độ tự động hóa, độ
dài chu kỳ công nghệ, hệ số sử dụng nguyên liệu xuất phát, thế hệ
kỹ thuật, độ linh hoạt, chất lượng và phế phẩm, an toàn và cải thiện
điều kiện lao động, bảo vệ môi trường, độ bền chắc và độ tin cậy,
mức độ nhiệt đới hoá…
Xác định nhu cầu về thiết bị phục vụ và phụ tùng thay thế kèm
theo khi tháo lắp và chuyên chở thiết bị
1.4. Dự báo các đặc điểm sử dụng thiết bị
Bao gồm các vấn đề
22
- Dự báo các loại công trường xây dựng mà thiết bị có thể tham gia
khi thực hiện sau này, dựa trên các điều kiện tự nhiên của công
trường và tình trạng cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ thiết bị.
- Xác định loại quy mô công trường và độ xa chuyên chở thiết bị thi
công đến công trường phù hợp nhất với loại thiết bị được đầu tư.
- Xác định các yêu cầu kỹ thuật công nghệ thi công, các tiêu chuẩn
về thiết bị do chủ đầu tư, kỹ sư tư vấn yêu cầu trong hồ sơ dự thầu
đối với các gói thầu xây dựng giao thông đã có địa điểm hoặc chuẩn
bị tham gia đấu thầu.
1.5. Phương án tổ chức quản lý và lao động phục vụ thiết bị
Bao gồm các vấn đề chủ yếu sau
- Xác định hình thức tổ chức sử dụng thiết bị (chuyên môn hoá hay
Phân tích tài chính sơ bộ
Có các nội dung chính sau
Phân tích các khoản thu được bằng tiền như doanh thu, tiền
cho thuê, các khoản thu khác…
Phân tích các khoản chi phí tính được bằng tiền của dự án như :
Giá mua thiết bị, chi phí giao dịch, chi phí trong khâu sử dụng…
Lựa chọn lãi suất (r) và năm cơ bản
Phân tích các chỉ tiêu hiệu quả.
Phân tích độ nhạy của dự án, thực chất là tính tới các rủi ro
thường gặp như rủi ro kỹ thuật ( thiếu thông tin để phân tích trình
độ kỹ thuật của thiết bị, lựa chọn thiết bị không chính xác…), rủi ro
kinh tế ( lạm phát tăng làm tăng giá thiết bị, lãi suất tăng…), rủi ro
thương mai (không trúng thầu, giảm khách hàng, dự báo không
chính xác nhu cầu…)
Phân tích tài chính chi tiết
Được tiến hành ở bước lập báo cáo khả thi.
Nội dung được phân tích theo những tiêu chí như ở bước phân tích
sơ bộ nhưng mức độ chi tiết và chính xác cao hơn. Ngoài ra còn làm
rõ hơn
Xác định dòng tiền trước khi nộp thuế và trả nợ
Xác định dòng tiền sau khi nộp thuế và trả nợ (cả vốn lẫn lãi)
Các chỉ tiêu hiệu quả trong phân tích tài chính
24
Bao gồm một số chỉ tiêu cơ bản sau
Chỉ tiêu thu nhập thuần của dự án (NPV)
Thu nhập thuần của dự án là thu nhập còn lại sau khi đã trừ dần các
khoản chi phí của cả đời dự án. Chỉ tiêu này không chỉ bao gồm
tổng lợi nhuận thuần hàng năm của cả đời dự án mà còn bao gồm cả
i 0 i 0
1 1
B C
1 IRR 1 IRR
IRR cho biết mức lãi suất mà dự án có thể đạt được. Dự án được
chấp nhận khi IRR>r giới hạn. Dự án không được chấp nhận khi
IRR< r giới hạn. Trong đó r giới hạn có thể là mức lãi suất đi vay
nếu dự án đi vay vốn để đầu tư, có thể là tỷ suất lợi nhuận định mức
do nhà nước quy định nếu sử dụng vốn do ngân sách nhà nước cấp,
có thể là chi phí cơ hội nếu dự án sử dụng vốn tự có để đầu tư.
Thời gian thu hồi vốn đầu tư (T)
25
Thời gian thu hồi vốn đầu tư là số thời gian cần thiết để dự án hoạt
động thu hồi đủ số vốn đầu tư đã bỏ ra. Nó chính là khoảng thời
gian để hoàn trả số vốn đầu tư ban đầu bằng các khoản lợi nhuận
thuần hoặc tổng lợi nhuận thuần hàng năm.
Thời gian thu hồi vốn đầu tư được xác định như sau
- Phương pháp cộng dồn
T
0
Trong thực tế, người ta thường áp dụng phương pháp dự án chỉ tiêu
để phân tích kinh tế – xã hội của dự án. Đây là phương pháp mà các
chỉ tiêu được sử dụng có thể không định lượng được bằng tiền. Các
chỉ tiêu đó có thể được phân nhóm thành.
Các chỉ tiêu về mặt kinh tế
Các chỉ tiêu về mặt môi trường
Các chỉ tiêu về mặt văn hoá - xã hội
Ngoài ra còn có những chỉ tiêu khác cần phân tích do yêu cầu của
chủ đầu tư. Đối với doanh nghiệp xây dựng, một số chỉ tiêu được