Tài liệu Luận văn: Đầu tư phát triển ngành công nghiệp điện tử Hà Nội. Thực trạng và giải pháp - Pdf 10


1
Luận văn
Đầu tư phát triển ngành
công nghiệp điện tử Hà Nội.
Thực trạng và giải pháp

2
LỜI NÓI ĐẦU
Ngành CNĐT Việt Nam nói chung và ngành CNĐT Hà Nội nói riêng bắt đầu
được xây dựng từ những năm 1960 nhưng chỉ sau khi thống nhất đất nước, đặc biệt
là từ khi thực hiện đường lối đổi mới kinh tế, ngành CNĐT mới phát triển nhanh
chóng, góp phần không nhỏ vào những thành tựu chung của cả nước. Nhờ áp dụng
những tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ, tranh thủ đầu tư nước ngoài, chỉ trong
một thời gian tương đối ngắn, chúng ta đã sản xuất được nhiều sản phẩm điện tử tin
học- viễn thông phục vụ nhu cầu trong nước và bước đầu đã có xuất khẩu. Hiện nay,
ngành CNĐT Việt Nam được đánh giá là ngành có tiềm năng phát triển trong quá
trình hội nhập quốc tế cùng cả nước.
Thủ đô Hà Nội với vai trò là “ trái tim của cả nước, đầu não chính trị, hành
chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hoá, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch
quốc tế” đã, đang và sẽ phải đi đầu trong sự nghiệp CNH – HĐH nên ngành CNĐT
luôn được đặt trong số những ngành được ưu tiên phát triển. Nghị quyết 15-NQ/TW
của Bộ chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển ngành CNĐT Thủ Đô Hà
Nội trong thời gian 2001- 2010 ghi rõ: “ Tiếp tục phát triển công nghiệp có chọn
lọc, đột phá những ngành hàng, sản phẩm sử dụng công nghệ hiện đại, kỹ thuật
tiên tiến, có hàm lượng chất xám cao…Trước mắt ưu tiên một số sản phẩm chủ lực
thuộc các ngành điện - điện tử – tin học, cơ kim khí, dệt – may, da dày, chế biến
thực phẩm và vật liệu mới”. Đại hội Đảng bộ lần thứ VIII tiếp tục khẳng định: “

bàn Hà Nội (các doanh nghiệp trung ương và địa phương).
Do trình độ còn hạn chế nên bài viết không tránh khỏi những thiếu xót nhất định.
Kính mong được các thầy cô và các bạn góp ý để bài viết được hoàn chỉnh hơn.
Trong quá trình làm đề tài này, em đã được sự chỉ bảo, hướng dẫn tận tình của
các thầy cô trong khoa và các cô chú ở Phòng Công nghiệp – Thương mại – Du lịch
thuộc Sở Kế hoạch & Đầu tư Hà Nội. Em xin đặc biệt gửi lời cảm ơn sâu sắc đến
thầy giáo, Thạc sỹ Từ Quang Phương – Trưởng bộ môn kinh tế đầu tư và cô Vũ
Thanh Hương, Chuyên viên thuộc phòng Công nghiệp – Thương mại – Du lịch đã
trực tiếp hướng dẫn, giúp em hoàn thành chuyên đề này.
4
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
I- CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ
1- Khái niệm đầu tư và đầu tư phát triển
Xuất phát từ phạm vi phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư, chúng ta có
thể có các cách hiểu khác nhau về đầu tư (còn gọi là hoạt động đầu tư).
Đầu tư theo nghĩa rộng là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các
hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương
lai lớn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Nguồn lực đó có thể là
tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ.
Những kết quả đó có thể là sự gia tăng thêm các tài sản tài chính (tiền vốn), tài
sản vật chất (Nhà máy, đường xá…) và nguồn nhân lực có đủ điều kiện để làm việc
với năng suất cao hơn trong nền sản xuất xã hội.
Trong các kết quả đạt được trên đây, những kết quả là tài sản vật chất, tài sản trí
tuệ và nguồn nhân lực tăng thêm có vai trò quan trọng trong mọi lúc, mọi nơi, không
chỉ đối với người bỏ vốn mà còn đối với cả nền kinh tế. Những kết quả này không
chỉ người đầu tư mà cả nền kinh tế đều được thụ hưởng.

không ổn định về tự nhiên, xã hội, chính trị, kinh tế.
Thứ tư: Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển có giá trị sử dụng lâu
dài, nhiều năm tháng, có khi hàng ngàn năm và thậm chí tồn tại vĩnh viễn như các
công trình kiến trúc nổi tiếng thế giới như kim tự tháp Ai Cập, Vạn Lý Trường
Thành ở Trung Quốc, Ăngco Vat ở Campuchia… Điều này nói lên giá trị to lớn của
các thành quả đầu tư phát triển
Thứ năm: Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển là các công trình xây
dựng sẽ hoạt động ngay tại nơi nó được tạo dựng nên. Do đó các điều kiện về địa
hình, thời tiết tại đó có ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện đầu tư cũng như tác
dụng sau này của các kết quả đầu tư. Thí dụ: Quy mô đầu tư để xây dựng nhà máy
sàng tuyển than ở khu vực có mỏ than tuỳ thuộc rất nhiều vào trữ lượng than của
mỏ. Nếu trữ lượng than của mỏ ít thì quy mô nhà máy sàng tuyển than cũng không
nên lớn để đảm bảo cho nhà máy hàng năm hoạt động hết công suất với số năm tồn
tại của nhà máy theo dự kiến trong dự án. Đối với nhà máy thuỷ điện, công suất phát
điện tuỳ thuộc nhiều vào nguồn nước nơi xây dựng công trình. Sự cung cấp điện đều
đặn, thường xuyên phụ thuộc nhiều vào tính ổn định của nguồn nước. Không thể di
chuyển nhà máy thuỷ điện như di chuyển những máy tháo rời do các nhà máy sản
xuất ra từ địa điểm này đến địa điểm khác. Việc xây dựng các nhà máy ở nơi địa
chất không ổn định sẽ không đảm bảo an toàn cho quá trình hoạt động sau này, thậm
chí cả trong quá trình xây dựng công trình.

6
Thứ sáu: Mọi thành quả và hậu quả của quá trình thực hiện đầu tư chịu ảnh
hưởng nhiều của các yếu tố không ổn định theo thời gian và điều kiện địa lý của
không gian.
Do đó, để đảm bảo cho mọi công cuộc đầu tư đem lại hiệu quả kinh tế- xã hội
cao đòi hỏi phải làm tốt công tác chuẩn bị.
II- ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP ĐIỆN TỬ
1.Khái quát về ngành CNĐT
1.1– Khái niệm công nghiệp điện tử

- Thiết bị điện tử dân dụng: Là các thiết bị điện tử được sử dụng trong đời sống
sinh hoạt gia đình như: radio, máy thu hình, radio cassette, đầu video, đầu CD,
VCD, DVD…
- Thiết bị điện tử công nghiệp và chuyên dụng: Là các thiết bị điện tử dùng cho
các ngành công nghiệp, giao thông – vận tải, y tế, hải quan, văn hoá, giáo dục, an
ninh quốc phòng, nghiên cứu khoa học…
- Thiết bị công nghệ thông tin (CNTT): Bao gồm các loại máy tính, thiết bị
mạng, thiết bị ngoại vi…
- Thiết bị viễn thông: Là tất cả các thiết bị điện tử dùng để phục vụ liên lạc, trao
đổi, truyền tin…
- Phần mềm: Bao gồm tất cả các loại phần mềm hệ thống, phần mềm nhúng,
phần mềm ứng dụng…sử dụng trong các loại máy tính, máy móc chuyên dụng, thiết
bị viễn thông, thiết bị điện tử dân dụng…
- Thiết bị công nghệ CNĐT thuộc công nghiệp chế tạo máy công cụ cho CNĐT
Ngoài ra, theo giác độ của các nhà sản xuất còn có thể phân loại như sau:
- Vật liệu điện tử: Gồm vật liệu bán dẫn, vật liệu quang tử, vật liệu gốm, vật liệu
kim loại hay hợp kim, vật liệu polyme, vật liệu hữu cơ
- Linh kiện và cấu kiện điện tử: Gồm linh kiện thụ động, linh kiện tích cực, các
loại mạch tích hợp (IC), linh phụ kiện có liên quan nhiều đến cơ khí, nhựa và các
ngành công nghiệp khác, đèn hình, các bộ hiển thị, các bảng mạch điện tử…
- Các thiết bị phần cứng điện tử, tin học viễn thông.
- Các phần mềm bao gồm phần mềm nhúng, phần mềm hỗ trợ thiết kế, phần
mềm hỗ trợ quản lý, các phần mềm tiện ích, các phần mềm giải trí, phần mềm hỗ trợ
giáo dục, đào tạo, y tế…

8
2. Đặc thù của hoạt động đầu tư phát triển ngành CNĐT
Từ đặc điểm ngành CNĐT đã nêu ở trên, chúng ta có đặc thù của hoạt động đầu
tư phát triển ngành CNĐT như sau:
Thứ nhất: Vốn đầu tư cho phát triển ngành CNĐT thường rất lớn, tỷ lệ lãi cao,

Ngành CNĐT đóng vai trò quan trọng vào tăng trưởng kinh tế; tiếp thu nhanh
những tiến bộ trong khoa học – công nghệ – kỹ thuật; hiệu quả mang lại cao, giá trị
gia tăng lớn và không bị hạn chế phát triển như một số ngành khác. Sự phát triển
của CNĐT thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, kéo theo sự phát triển của các ngành
công nghiệp và dịch vụ khác, tạo cơ sở thu hút lao động, giải quyết việc làm. Theo
đánh giá chung về 20 nhóm ngành công nghiệp trên thế giới thì CNĐT đứng đầu về
thu hút lao động, đứng thứ hai về doanh thu trên vốn (sau ngành luyện kim), đứng
thứ ba về doanh thu tuyệt đối (sau ngành lọc dầu và ô tô). Ngoài ra, CNĐT cũng
chính là ngành tạo cơ sở cho việc hình thành và phát triển kinh tế tri thức, đồng thời
là một ngành sản xuất chủ lực trong nền kinh tế tri thức.
Sự phát triển của ngành CNĐT ở các nước còn góp phần quan trọng trong GDP
và tổng sản lượng của ngành chế tạo. Điều này thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1: Tỷ lệ sản phẩm điện tử trong tổng sản lượng ngành chế tạo
và GDP của một số nước (%)

Nước Trong tổng sản lượng ngành chế tạo Trong GDP
1975 1990 2001 1975 1990 2002
Nhật Bản 9,3 17,5 22,0 2,3 6,2 7,0
Hàn Quốc 9,7 12,0 25,0 2,1 3,0 7,0
Đài Loan 11,6 14,6 20,0 2,1 6,2 7,0
Đức 11,0 13,7 15,0 3,7 4,5 5,0
Mỹ 8,1 11,1 15,0 1,8 2,5 3,3
Anh 8,3 9,9 12,0 2,2 2,2 2,9
Pháp 8,0 7,6 11,0 2,1 2,0 2,8
Italia 8,9 9,7 11,0 2,5 2,6 2,9
Nguồn : The World Bank, 2002

So sánh năm 2002 với năm 1975, tỷ lệ sản phẩm điện tử trong công nghiệp chế
tạo ở Mỹ tăng từ 8,1% lên 15%, Nhật Bản từ 9,3% lên 22%, Hàn Quốc từ 9,7 lên
25%, Đài Loan từ 11% lên 20%. Ngày nay, Mỹ đang dẫn đầu thế giới trong việc sử

là một trong những hoạt động được thực hiện đầu tiên của mỗi công cuộc đầu tư (trừ
trường hợp đầu tư chiều sâu). Hoạt động đó bao gồm các hạng mục xây dựng nhằm
tạo điều kiện và đảm bảo cho dây chuyền thiết bị sản xuất, công nhân hoạt động
được thuận lợi an toàn.
Để thực hiện tốt các hạng mục này, trước tiên phải tính đến các điều kiện thuận
lợi, khó khăn của vị trí địa lý, địa hình, địa chất…đồng thời phải căn cứ vào yêu cầu
về đặc tính kỹ thuật của máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ sản xuất, cách tổ
chức điều hành, nhu cầu dự trữ, số lượng công nhân…Các hạng mục được chia
thành các nhóm cơ bản sau:

11
- Các phân xưởng sản xuất chính, phụ.
- Hệ thống điện.
- Hệ thống nước
- Hệ thống giao thông, bến đỗ, bốc dỡ hàng
- Hệ thống thắp sáng, điều hoà không khí
- Văn phòng, phòng học, tường rào
- Nhà ăn, khu giải trí, vệ sinh
- Hệ thống sử lý chất thải và bảo vệ môi trường
- Hệ thống thông tin liên lạc
Đối với mỗi hạng mục công trình, phải xem xét, cân nhắc và quyết định : diện
tích xây dựng, đặc điểm kiến trúc (bê tông cốt thép, gạch, khung thép…), kích thước
và chi phí…
Về mặt chi phí: thông thường để tính toán chi phí xây dựng, người ta dựa trên
chi phí một đơn vị xây dựng, từ đó tính cho toàn bộ diện tích của hạng mục.
CFi = Pi * Si
Trong đó: CFi là chi phí xây dựng của hạng mục i
Pi là giá thành một đơn vị diện tích của hạng mục i
Si là diện tích xây dựng của hạng mục i
Khi đó, tổng chi phí toàn bộ hạng mục xây dựng là:

nghệ. Để có thể mua được thiết bị như mong muốn, thông thường các doanh nghiệp
dùng phương thức đấu thầu.
4.2- Đầu tư phát triển nguồn nhân lực
Lực lượng sản xuất là nhân tố quyết định và thể hiện trình độ văn minh của nền
sản xuất xã hội. Mác đã từng nói: “Trình độ sản xuất của một nền kinh tế không
phải ở chỗ xã hội đó sản xuất ra cái gì mà là xã hội đó dùng cái gì để sản xuất”.
Cùng với việc đề cao vai trò của lực lượng sản xuất, Lênin khẳng định: “Lực lượng
sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân và người lao động”.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm cho xã hội, người lao động
không những là một yếu tố của quá trình đó mà còn là yếu tố quan trọng, tác động
có tính chất quyết định vào việc phát huy đồng bộ và có hiệu quả các yếu tố khác.
Nếu chúng ta có nhà xưởng, có nguyên vật liệu, có máy móc thiết bị nhưng thiếu
bàn tay công nghệ người thì chúng ta cũng không thể có sản phẩm cung cấp cho xã
hội. Như vậy, nguồn lực lao động là một tài sản quý giá của mỗi doanh nghiệp, đặc
biệt là đối với các doanh nghiệp điện tử. Do vậy, trong quá trình phát triển, mỗi

13
doanh nghiệp phải phát huy được hiệu quả nguồn nhân lực của mình, đồng thời ngày
càng nâng cao chất lượng cũng như số lượng nguồn nhân lực của mình.
Hoạt động quản lý nhân lực của doanh nghiệp bao gồm các hoạt động tuyển
dụng, đào tạo, sử dụng, đào tạo lại, đào tạo nâng cao…Các hoạt động này có thể
xen kẽ hay tách biệt, có thể trước, có thể sau tuỳ theo đặc điểm và quy mô của
doanh nghiệp.
Thứ nhất, công tác tuyển dụng. Công việc này không đòi hỏi nhiều chi phí (vì
thông thường chi phí này do người tham gia tuyển dụng bỏ ra) nhưng lại đòi hỏi
khâu chuẩn bị hết sức chu đáo, tỉ mỉ bởi mức độ ảnh hưởng của nó đến hoạt động
tương lai của doanh nghiệp; việc chuẩn bị từ thông báo tuyển dụng, ấn định các tiêu
chuẩn tuyển dụng và lựa chọn các phương thức phụ trợ cho việc tuyển dụng (dùng
khoa triết tự, thi trắc nghiệm, thử thách chuyên môn…), lựa chọn ban tham mưu
tuyển dụng…Đối với một số doanh nghiệp có quy mô lớn, họ tuyển dụng các thanh

thực hiện những công việc “thành tên” mà còn phải năng động, sáng tạo trong những
công việc, những tình huống khó khăn, nhạy cảm. Do đó nếu người quản lý không
học tập, không nâng cao nhận thức, trình độ của mình thì khó có thể đứng vững và
đi lên trong nền kinh tế thị trường. Việc đầu tư cho đào tạo cán bộ quản lý thông
qua các chi phí cho việc tham gia hội thảo, tham gia thực tế, đào tạo ngắn hạn, dài
hạn, nghiệp vụ quản lý…Đây là những chi phí không lớn nhưng hết sức quan trọng.
Đào tạo cán bộ nghiên cứu và ứng dụng khoa học: Với việc khoa học phát triển
như vũ bão, các doanh nghiệp cần phải thích nghi với điều kiện mới để có thể cạnh
tranh và vươn lên. Việc đầu tư cho cán bộ nghiên cứu và ứng dụng khoa học là một
trong những nhiệm vụ vô cùng cấp bách đặc biệt là đối với các doanh nghiệp CNĐT
trong điều kiện hiện nay. Họ sẽ là người đem lại tri thức mới và đưa tiến bộ khoa
học kỹ thuật vào hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần cực kỳ quan trọng cho sự
lớn mạnh không ngừng của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nên bỏ ra một phần thích
đáng trong lợi nhuận của mình để đầu tư cho hoạt động này.
Đào tạo tay nghề cho công nhân. Đây là lực lượng chịu ảnh hưởng mạnh của
công tác đào tạo cả về chất lượng lẫn số lượng. Đào tạo công nhân có thể diễn ra ở
trường đào tạo, cũng có thể đào tạo ngay khi lao động sản xuất. Trong giai đoạn có
sự phát triển mạnh mẽ về khoa học công nghệ và sự cạnh tranh gay gắt như hiện nay
đòi hỏi tay nghề của người công nhân phải vững và kịp thời thích ứng được với sự
phát triển của khoa học. Điều đó đòi hỏi quá trình đào tạo lại, đào tạo nâng cao tay
nghề của công nhân là tất yếu khách quan.

15
4.3- Đầu tư cho công tác tiếp thị, xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường
Một doanh nghiệp có mặt hàng tốt nhưng không biết quảng bá mặt hàng của
mình cho mọi người biết thì việc tiêu thụ sẽ gặp nhiều khó khăn, sản xuất không
được mở rộng, doanh nghiệp chỉ dậm chân tại chỗ trong khi các doanh nghiệp khác
nhờ làm tốt công tác tiếp thị, xúc tiến, mở rộng thị trường liên tục phát triển. Điều
đó cho thấy công tác này là cực kỳ quan trọng, mang tính sống còn đối với mỗi
doanh nghiệp, nếu các doanh nghiệp không dành một phần thích đáng cho công tác

cắp bản quyền phát minh sáng chế của doanh nghiệp. Như vậy nghĩa là họ có thể
sản xuất ra sản phẩm giống doanh nghiệp mà với giá rẻ hơn nhiều do không phải
mất chi phí nghiên cứu triển khai. Điều đó cũng có nghĩa là doanh nghiệp đã mất
không chi phí nghiên cứu sản phẩm. Do vậy, vấn đề đầu tư cho công tác đăng ký
bản quyền ngày càng được các doanh nghiệp coi trọng và bắt đầu thực hiện nó như
một thói quen. Đây là một thói quen rất tốt cần được các doanh nghiệp cũng như
nhà nước khuyến khích thực hiện.
Thương hiệu bản là bộ mặt của mỗi doanh nghiệp. Khi nói đến doanh nghiệp,
hình ảnh đầu tiên mà khác hàng nhớ đến chính là thương hiệu. Vì vậy, thương hiệu
góp phần phần quan trọng trong quá trình tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp
này. Đầu tư cho hoạt động này luôn là vấn đề không thể thiếu đối với các doanh
nghiệp, đặc biệt là trong nền kinh tế cạnh tranh và hội nhập như hiện nay. Trước
đây, hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp ngành
CNĐT nói riêng do chưa quan tâm đúng mức đến vấn đề này nên đã phải chịu rất
nhiều thiệt thòi trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, nhất là trong hoạt động
xuất khẩu và làm ăn với đối tác nước ngoài. Các sản phẩm có chất lượng của ta
nhưng không có thương hiệu không thể xuất khẩu trực tiếp ra nước ngoài được mà
phải xuất khẩu qua nước thứ ba, chịu ép giá. Các hàng hoá có uy tín thì lại bị nước
ngoài làm nhái, giả mạo do chưa đăng ký bản quyền với nhà nước nên không được
bảo vệ.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này nên trong thời gian gần đây,
hoạt động đầu tư cho lĩnh vực này đã được quan tâm. Chi phí cho công tác này bao
gồm chi phí cho hoạt động nghiên cứu, thiết kế, xây dựng thương hiệu, chi phí cho
việc lựa chọn thương hiệu và chi phí làm và đưa thương hiệu ra thị trường.
5- Nguồn vốn đầu tư phát triển ngành CNĐT
Đầu tư phát triển ngành CNĐT là một hoạt động đòi hỏi một lượng vốn lớn. Đối
với nước ta, lượng vốn này thường được huy động từ hai nguồn, nguồn vốn đầu tư
trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài.

17

và có vai trò quyết định đối với sự phát triển của ngành CNĐT.

18
Nguồn vốn này không chỉ giúp bổ xung lượng vốn thiếu hụt cực kỳ
lớn trong đầu tư phát triển ngành mà vốn đầu tư nước ngoài còn
góp phần quan trọng trong việc tăng cường tiềm lực khoa học công
nghệ cho ngành thông qua các hoạt động đầu tư mới, các hoạt động
chuyển giao công nghệ giữa các doanh nghiệp trong nước và các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Hơn thế nữa, với sự hoạt
động của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, đặc biệt
là các nhà sản xuất nổi tiếng thế giới về lĩnh vực này như Sony,
Phillips, Toshiba, Panasonic, Sanyo, Daewoo…sẽ giúp cho sản
phẩm điện tử Việt Nam sớm có mặt trên thị trường thế giới. Ngoài
ra, hoạt động đầu tư nước ngoài cũng góp phần nâng cao tay nghề
cũng như trình độ quản lý của lực lượng lao động trong ngành
CNĐT.
Như vậy là với đặc thù của ngành kỹ thuật cao, CNĐT đòi hỏi một lượng vốn
rất lớn mà ban đầu các doanh nghiệp điện tử trong nước khó đáp ứng được đầy đủ.
Vì vậy, trong thời gian tới nguồn vốn đầu tư nuớc ngoài sẽ vẫn chiếm một vị trí quan
trọng và ngành CNĐT vẫn phải dựa vào nguồn vốn đầu tư này để xây dựng cơ sở
vật chất, nền tảng công nghệ cho ngành trong tương lai. Song bên cạnh nguồn vốn
đầu tư nước ngoài cần có chiến lược huy động các nguồn vốn trong nước đầu tư
phát triển CNĐT. Vốn trong nước và vốn đầu tư nước ngoài hợp thành nguồn tài
chính tổng hợp để đầu tư phát triển. Vấn đề đặt ra cho những nhà đầu tư là phải biết
xem xét tỷ trọng của mỗi loại nguồn vốn trong tổng số vốn đầu tư để dựa vào đó có
kế hoạch khai thác. Từng nguồn vốn này có ý nghĩa gì đối với hoạt động đầu tư. Tỷ
trọng giữa nguồn vốn trong nước và nguồn vốn ngoài nước thế nào là hợp lý, hiệu
quả sử dụng các nguồn vốn này như thế nào. Qua đó đề ra biệp pháp tăng cường
huy động vốn từ cả hai nguồn và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn trên.


20
bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp tại các nước có trình độ kinh
tế khác nhau cùng tham gia nền kinh tế số.
2 – Chính sách phát triển CNĐT của một số nước
2.1 – Nhật Bản: Bảo hộ và khuyến khích mạnh mẽ ngành CNĐT
Chính phủ Nhật Bản đã thực thi nhất quán chính sách bảo hộ và
khuyến khích mạnh mẽ ngành CNĐT trong suốt 40 năm qua. Các
luật khuyến khích ra đời 7 năm một (1957, 1964, 1971, 1986) về bản
chất là thực hiện bảo hộ và khuyến khích phát triển ngành CNĐT,
thể hiện ở các điểm sau;
- Chỉ định rõ vài chục sản phẩm từng thời kỳ
- Hạn chế đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Những biện pháp khuyến khích đồng bộ cả về mặt “ cung” (trợ giúp tài chính,
thuế, nhập công nghệ gốc…) lẫn mặt “cầu” (kiểm soát nhập khẩu hàng hoá và đầu
tư nước ngoài ).
- Quan tâm đặc biệt đến hoạt động nghiên cứu – triển khai
Năm 2000, Thủ tướng mới của Nhật Bản đã chính thức đặt cuộc cách mạng IT
lên hàng đầu trong chiến lược kinh tế dài hạn của quốc gia. Cùng với cuộc khởi
xướng đầy tham vọng này của Chính Phủ, hàng loạt các công ty lớn của Nhật Bản
đã có những chuyển hướng rõ rệt nhằm nắm bắt cơ hội mới trong lĩnh vực mà xưa
nay Nhật Bản chưa có sự chú ý. Bước đầu họ đã có những thành công rõ rệt, nhất là
trong lĩnh vực thiết bị di động cầm tay (PDA, Web – TV )
2.2 - Hàn Quốc: Phát huy vai trò quyết định của Chính Phủ
Tiến sau Nhật Bản hàng thập kỷ, học tập kinh nghiệm Nhật Bản, Hàn Quốc phát
huy vai trò quyết định của Chính Phủ trong việc phát triển CNĐT. Trong 30 năm
(1967-1977), Chính Phủ đã ban hành 47 văn bản khuyến khích ngành điện tử, từ
hoạch định chiến lược, kế hoạch thực thi, gây quỹ thúc đẩy và đào tạo kỹ thuật viên,
chỉ định sản phẩm và lĩnh vực chủ lực, ưu tiên xuất khẩu, nâng cao mức tự cung cấp,
đầu tư sâu công nghệ …
Hàn Quốc có chính sách miễn thuế cho các xí nghiệp sản xuất điện tử trong nhiều

Trong tổng giá trị 49 tỷ USD / năm các mặt hàng điện tử tin học của Trung Quốc, tỷ
trọng xuất khẩu tương đối thấp, chỉ khoảng 6%. Điều này cho thấy thế yếu của hàng
điện tử Trung Quốc trên thị trường khu vực và thế giới. Trung Quốc có thị trường
nội địa quá lớn và có nhiều mục tiêu chiến lược xuất khẩu khác phải ưu tiên.
2.5 – Ấn Độ: Gia công phần mềm tiến tới xuất khẩu sản phẩm toàn diện

22
Từ đầu những năm 1980, Chính Phủ Ấn Độ đã tập trung đầu tư và thực hiện
những chính sách ưu đãi đặc biệt cho ngành công nghiệp gia công và làm thuê dịch
vụ phần mềm cho nước ngoài, tiến tới tự mình thiết kế hoàn thiện trọn gói các sản
phẩm phần mềm xuất khẩu, đưa ngành công nghiệp phần mềm thực sự trở thành một
ngành công nghiệp mũi nhọn của nước này. Trong những năm 1990, mức tăng
trưởng trong xuất khẩu của ngành công nghiệp phần mềm đạt trung bình 56,21% /
năm, doanh số năm 1998 đạt 1,8 tỷ USD, đưa tỷ trọng xuất khẩu của công nghiệp
phần mềm chiếm tới 54,6% tổng xuất khẩu của toàn bộ ngành CNĐT, CNTT của
Ấn Độ.
2.6 – Các nước ASEAN – CNĐT là ngành công nghiệp trọng điểm
Singapore có 1.500 công ty điện tử, trong đó có 643 công ty sản xuất phụ tùng,
linh kiện (công nghiệp phụ trợ) trực tiếp nhận vật liệu để xử lý tiếp, có tổng sản
lượng gần 36 tỷ USD/ năm, trong đó 10 tỷ là hàng phụ tùng – linh kiện. Tốc độ tăng
trưởng 20 –30%/ năm.
Malaysia chiếm vị trí thứ 2 trong ASEAN, sau Singapore về sản lượng hàng
điện tử, trị giá tới 19,61 tỷ USD, trong đó 14,5 tỷ là công nghiệp phụ trợ (phụ tùng,
linh kiện, kể cả phần do sản xuất mạch bán dẫn, chiếm 10 tỷ USD, còn lại là điện
trở, tụ điện, cuộn cảm, biến thế, mạch in, cấu kiện cơ khí chính xác, phụ tùng máy
tính).
Kim ngạch xuất khẩu linh kiện bán dẫn của Malaisia đứng đầu ASEAN và thứ 3
thế giới sau Mỹ và Nhật.
Indonesia khởi đầu công nghiệp điện tử chậm hơn Singapore 1 thập kỷ, và cũng
bằng việc gia công lắp ráp thuê, sản lượng năm 1991 là 1 tỷ USD, nhưng đã tăng tốc

- Xây dựng một nền kinh tế định hướng xuất khẩu: Đối với các quốc gia có quy
mô thị trường nội địa không lớn như nước ta, chiến lược hướng về xuất khẩu giúp
cho các ngành công nghiệp (đặc biệt là ngành công nghệ cao như CNĐT) mở rộng
được quy mô hoạt động cũng như tiếp thu được các tiến bộ về khoa học công nghệ
của thế giới để phát triển.
- Chính sách ưu tiên phát triển CNĐT trong từng thời kỳ: Ngay cả quốc gia
hàng đầu về CNĐT như Nhật Bản cũng cần phải có những chính sách ưu tiên phát
triển CNĐT. Những chính sách này phải được thay đổi cho phù hợp với sự phát
triển chung của khu vực và thế giới. Đối với nước ta, CNĐT là một ngành công
nghiệp còn quá non trẻ nên rõ ràng cần phải có những quy định mang tính chất ưu
đãi đặc thù phù hợp với từng thời kỳ phát triển nhất định.

24
- Từng bước xây dựng nền tảng công nghệ cao: Đây là bài học của Hàn Quốc:
lúc đầu dựa vào công nghệ nước ngoài nhưng sau đó phải nhanh chóng vươn lên làm
chủ công nghệ và từng bước sáng tạo ra công nghệ mới. Có như vậy mới có thể tạo
dựng được một ngành CNĐT phát triển độc lập.
- Thu hút đầu tư nước ngoài: Từ một nước đi sau, để phát triển CNĐT thì thu
hút đầu tư nước ngoài có thể là con đường ngắn nhất. Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài
đóng một vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng nhanh chóng của ngành CNĐT các
nước Đông Nam Á. Thực tế là hầu hết những nhà sản xuất linh kiện điện tử lớn hoạt
động ở Thái Lan và Malaysia đều có nguồn vốn từ Nhật Bản và Hàn Quốc. Đầu tư
trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam đã giảm đi đáng kể từ sau cuộc khủng hoảng
kinh tế tài chính của các nước Đông Nam Á nhưng bắt đầu có một vài dấu hiệu khả
quan hơn trong những năm gần đây. Đối với Việt Nam, cần đặc biệt quan tâm thúc
đẩy các nhân tố khuyến khích và có đối sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài có
hiệu quả. Đối với Hà Nội cần có những ưu đãi mạnh hơn về giá thuê đất, về hỗ trợ
lao động…thì mới có thể thu hút ngày càng nhiều đầu tư trực tiếp nước ngoài.
- Một nền giáo dục tiếp cận với các kiến thức tiên tiến của thế giới: Kinh
nghiệm của các nước cho thấy cần phải có sự định hướng giáo dục và đào tạo nhân

công nghệ từ các công ty Nhật Bản và các nước EU, Mỹ, Hàn Quốc…Các công ty
này đã thành lập các cơ sở xuất khẩu lớn ở Singapore, Malaysia và Thái Lan ngay
từ những năm 1980 khi các nước này có chính sách thu hút mạnh đầu tư trực tiếp
nước ngoài.
Để tham gia hội nhập, Việt Nam đã và đang chuyển đổi hệ thống pháp lý, thị
trường, hệ thống hành chính, hệ thống tính toán các chỉ tiêu kinh tế, hệ thống thông
tin kinh tế, hệ thống hải quan, hệ thống thuế…và đổi mới cả hướng đào tạo nguồn
nhân lực. Việc tham gia ASEAN đã tạo điều kiện cho Việt Nam tiếp cận được với
các thông lệ quốc tế ở những bước đi ban đầu, giúp ta có kinh nghiệm khi tiếp cận
với các tổ chức mang tính toàn cầu hơn như APEC và WTO.
Hiệp định CEPT là một thoả thuận giữa các thành viên ASEAN trong việc giảm
thuế quan trong thương mại nội bộ ASEAN xuống còn 0 – 5%, đồng thời loại bỏ
các hạn chế định lượng và các hàng rào phi thuế quan trong vòng 10 năm bắt đầu từ
1/1/1993 và hoàn thành vào 1/1/2003 (riêng Việt Nam đến 1/1/2006). Chỉ khi CEPT
được hoàn thành thì khu vực mậu dịch tự do ASEAN mới thực sự được thành lập,
tạo điều kiện tăng cường trao đổi buôn bán trong một hệ khối thông qua việc loại bỏ
các hàng rào thuế quan và phi thuế quan trong nội bộ khu vực; thu hút các nhà đầu
tư nước ngoài vào khu vực thông qua việc hình thành khối thị trường chung tự do


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status