Tài liệu NHỮNG ĐỘI QUÂN KỲ LẠ TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM - Pdf 10

NHỮNG ĐỘI QUÂN KỲ LẠ TRONG
LỊCH SỬ VIỆT NAM
Trong lịch sử chiến tranh giữ nước và giải phóng dân tộc, người Việt đã xây
dựng riêng cho mình một nghệ thuật chiến tranh đặc biệt mà ở đó mỗi người
dân đều là lính, mỗi làng bản đều là pháo đài đánh giặc. Không chỉ vậy, trong
chiều dài lịch sử anh dũng đó đã xuất hiện những đội quân kỳ lạ, cho thấy sự
độc đáo, sức sáng tạo phi thường của dân tộc Việt Nam.
Đội quân lặn nước đục thuyền
Sử sách và giai thoại dân gian từ bao đời nay lưu truyền về một người có tài bơi
lội, lặn giỏi đã có công lớn trong cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên - Mông
thời Trần, đó là Yết Kiêu, gia nô của Trần Hưng Đạo. Yết Kiêu tên thật là Phạm
Hữu Thế, quê cha ở làng Hạ Bì, còn gọi là làng Quát (nay thuộc xã Yết Kiêu,
huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương ngày nay) xuất thân trong gia đình làm nghề đánh
cá, từ nhỏ đã phải lăn lộn trên sông nước, kiếm ăn nuôi gia đình.
Truyền thuyết kể rằng một lần thấy hai con trâu thần từ dưới sông lên bờ húc
nhau, Yết Kiêu đã dùng đòn gánh đánh đuổi, sau đó nhặt được mấy chiếc lông
trâu, khi cầm lên ngắm, tự nhiên thấy máu bừng lên mặt liền chạy ra ao, lao xuống
nước, nước rẽ đôi, lên bờ thấy lông không ướt, Yết Kiêu liền nuốt vào bụng. Từ đó
thân thể cường tráng, trí lực phi thường, bơi lội dưới nước như đi trên đất bằng
(Nhập thủy như phúc bình địa). Sau này ông theo hầu Trần Hưng Đạo rồi cùng với
Dã Tượng trở thành cận vệ trung thành, tài trí và mưu lược của vị quốc công Tiết
chế triều Trần và được khen ngợi rằng: “Chim Hồng hộc bay được cao và xa là
nhờ 6 cái trụ lông cánh, nếu không khác gì chim thường. Yết Kiêu, Dã Tượng là
cánh chim hồng hộc của ta”.
Khi giặc Nguyên Mông kéo vào xâm lược nước ta, trên đường thủy chúng đã gặp
phải những thiệt hại đáng kể, bằng tài sông nước của mình, Yết Kiêu đã được giao
nhiệm vụ chỉ huy lực lượng “đặc công nước” dùng tài lặn đánh đắm thuyền giặc.
Họ không quản mùa đông giá rét, đêm đêm lặn xuống biển, nằm dưới đáy thuyền,
lấy dùi sắt nhọn đục thủng thuyền, nước tràn vào làm thuyền của giặc bị chìm
ngay.
Quân giặc sợ lắm, lúc đầu chúng không hiểu vì lẽ gì sau giặc dùng lưới để ngăn

Đội quân ăn mày do thám
Tình báo là hoạt động điều tra, thu thập, nghiên cứu, tổng hợp, xử lý những tin
tức, tư liệu bí mật về quân sự, chính trị, quốc phòng, an ninh, kinh tế của đối
phương. Hoạt động này xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước, trên cơ sở các
thông tin thu thập được sẽ có những đánh giá và xử lý để đưa ra những quyết định,
đặc biệt là liên quan đến chính sách đối ngoại và quốc phòng.
Ở phương Đông, nhà quân sự nổi tiếng của Trung Quốc (thế kỷ VI-V TCN) là Tôn
Tử, bằng tài trí của mình đã giúp vua Ngô cải cách chính trị ở trong nước và chỉ
huy quân đội phá nước Sở hùng mạnh ở phía Tây, uy hiếp nước Tấn ở phía Bắc…
Ông chuyên tâm nghiên cứu các vấn đề quân sự, đúc kết nhiều kinh nghiệm của
chiến tranh ở trước và trong thời kỳ Xuân Thu-Chiến Quốc rồi viết thành bộ binh
pháp gồm mười ba thiên binh (thường được gọi là Binh pháp Tôn Tử).
Trong tác phẩm này, Tôn Tử đã nêu ra những nguyên tắc cơ bản để giành chiến
thắng trong chiến tranh, xem xét sự phụ thuộc của binh thế vào sức mạnh của quốc
gia, sự ảnh hưởng của Thời-Thiên-Địa và vai trò của người chỉ huy đối với tác
chiến…; đặc biệt là ở thiên thứ 13 có đề cập đến hoạt động do thám, gián điệp với
tiêu đề là “Phép dụng gián” (Dùng trinh thám).
Trong cuốn “Binh thư yếu lược”, ở phần Phép dùng gián điệp của Hưng Đạo
Vương Trần Quốc Tuấn cũng có đoạn nói về vai trò quan trọng của hoạt động do
thám, gián điệp như sau: “Phàm dùng binh trước hết phải dụng gián để thăm dò
mà tùy cơ ứng biến, hoặc thăm dò để biết bên địch có việc tranh trưởng, có sự
không hòa Công việc của gián làm, xem việc mà cử ra thì thấy có 8 thuật: lấy sứ
giả làm gián điệp, lấy người của địch làm gián điệp, tung tin giả, phao tin tâm lý,
mua chuộc đút lót, kích động, gièm pha Dụng gián là việc linh hoạt, cơ mưu
không thể lường”.
Hoạt động tình báo, gián điệp đã được các triều đại phong kiến Việt Nam coi trọng
và áp dụng khá hiệu quả trong chiến tranh giữ nước, đặc biệt là thời Lý, Trần và
Hậu Lê. Thời kỳ Bình Định Vương Lê Lợi khởi nghĩa chống giặc Minh xâm lược,
có một người đã tổ chức đội quân thu thập tin tức dưới hình thức rất đặc biệt, đó là
Phạm Ngũ Thư. Ông quê ở làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng,

Lại nghĩ đến cảnh nhiều người còn khổ cực, Phạm Ngũ Thư nói với vợ rằng:
“Thời lang thang lo việc nước, ta đã chung sống với giới ăn xin, cảm thông được
nỗi đau thương chua xót vô biên của những con người khốn khổ bị xã hội khinh
khi ruồng rẫy. Ta hằng phát nguyện sẽ chia sẻ, cứu giúp xoa dịu thương đau cho
họ”. Dặn vợ con làm nhiều hơn nữa việc thiện, phát tâm giúp đỡ kẻ khó, rồi ông ra
đi. Tay chống gậy trúc, áo quần rách rưới, ăn xin sống qua ngày nay đây mai đó,
để hiểu nỗi đau thương mà san sẻ, an ủi họ người cùng cảnh ngộ, lựa lời nhắc nhở
họ về lý nghiệp báo, khuyên họ xả bỏ thù hằn, nghi kị, chán nản mà khơi nguồn
cho niềm lạc quan và tình người tuôn chảy.
Thế là viên thủ lĩnh của “đội quân cái bang” hoạt động tình báo năm nào nay lại
trở về với những con người cùng khổ cho đến lúc cuối đời. Trên bia mộ của ông
chỉ khắc dòng chữ: “Phạm khất sĩ chi mộ” (mộ của người ăn mày họ Phạm). Ngày
nay tại làng Thư Lang (nay thuộc xã Thư Lang, tỉnh Hà Nam) vẫn còn đền thờ
Phạm Ngũ Thư, bao đời nay người dẫn vẫn hương khói để ghi ơn công lao và ân
đức của vị thành hoàng làng mình, người có cuộc đời đặc biệt một như huyền
thoại.
Đội quân khuyển đánh giặc
Cũng vào thời Lê, Nguyễn Xí đã chỉ huy một đạo quân là chó săn, có những đóng
góp nhất định vào công cuộc đánh giặc cứu nước. Danh tướng Nguyễn Xí quê ở
làng Thượng Xá, huyện Châu Phúc (nay là huyện Nghi Lộc, Nghệ An), sinh ra
trong một gia đình làm nghề buôn bán muối. Tương truyền cha ông là Nguyễn Hội
“bị một con cọp đã thành tinh cắp đi vùi xác ở một huyệt đất tốt tại xứ Đồng Lam.
Cọp còn cắm cây xung quanh mộ. Hôm sau, người nhà đến tìm được và đem về
chôn nơi khác. Nhưng rồi đến đêm hôm sau nữa con cọp lại tới gầm thét vang
khắp núi non, bới tung lên, vất bỏ quan tài, đem xác đến vùi lại chỗ cũ. Bấy giờ
người nhà mới biết là trời ban cho huyệt tốt” (Đại Việt thông sử).
Tuy còn nhỏ nhưng Nguyễn Xí rất thông minh, nhanh nhẹn, tỏ rõ là người có tài vì
thế Lê Lợi rất quý, giao cho chăm sóc một đàn chó săn lớn. Sách Đại Việt thông
sử cho biết: “Vua sai Nguyễn Xí nuôi một đàn chó săn gồm hơn 100 con. Sớm
chiều chia cơm cho chó ăn ông đều dùng chuông làm hiệu. Bầy chó theo sự điều

Suy trung Bảo chính công thần, tước huyện hầu, là bậc khai quốc công thần của
triều Hậu Lê và được ban quốc tính (họ vua). Ông làm quan trải qua 5 đời vua,
công danh tột bậc, được phong làm Nhập nội đô đốc, hàm Thiếu bảo sau đó là
Khai phủ nghi Đồng tam ti, Nhập nội kiểm hiệu, Thái phó Cương quốc công,
Nhập nội hữu Tướng quốc… Năm Ất Dậu (1465), Nguyễn Xí bị bệnh mất, thọ 68
tuổi, triều đình truy tặng chức Thái sư.
Đội quân bồ câu đưa tin
Trong chiến tranh, việc truyền tin tức giữ vai trò cực kỳ quan trọng, do đó từ xa
xưa, các triều đình đã tổ chức hệ thống thông tin với các dạng thức khác nhau như
dùng cờ hiệu, đặt trạm dịch, dùng hỏa đài… và đặc biệt là dùng chim bồ câu để
đưa tin. Không rõ việc sử dụng chim bồ câu đưa tin xuất hiện ở nước ta khi nào,
nhưng đến giai đoạn kháng chiến chống quân Minh xâm lược, sử sách và giai
thoại dân gian có nhắc đến hai nhân vật nổi tiếng là Trần Nguyên Hãn và Nguyễn
Chích. Đây là hai danh tướng của nghĩa quân Lam Sơn và sau này là khai quốc
công thần của nhà Hậu Lê.
Trần Nguyên Hãn là con cháu nhà Trần, cháu ruột của Trần Nguyên Đán, dòng
dõi Thượng tướng Trần Quang Khải, anh em (con cô, con cậu) với Nguyễn Trãi.
Ông quê ở xã Sơn Đông (nay thuộc huyện Lập Thạnh, Vĩnh Phúc), lập nhiều công
nên khi xét công lao ông được đứng hàng đầu với chức Tả tướng quốc. Trong thời
gian kháng chiến, Trần Nguyên Hãn đã dùng những chú chim bồ câu mà ông nuôi
dưỡng, huấn luyện để chuyển thư qua lại với chủ tướng Lê Lợi và các đầu mối
quân sự khác. Có lần khi đang đóng quân trấn giữ thành Võ Ninh thì bị quân Minh
kéo đến vây chặt, tình thế rất nguy khốn, Trần Nguyên Hãn đã viết thư cầu cứu rồi
buộc vào chân chim. Nhờ thư do chim câu mang đến, Bình Định Vương Lê Lợi
biết được tình hình liền lập tức cho quân tiếp viện đến Võ Ninh phá vỡ vòng vây
giải cứu. Sau này Trần Nguyên Hãn với hình ảnh chú chim bồ câu được suy tôn là
Thánh Tổ của lực lượng truyền tin nước ta.
Cùng về qui tụ dưới lá cờ nghĩa Lam Sơn còn có một vị tướng cũng có tài nuôi
chim bồ câu, ông tên là Nguyễn Chích. Ông người thôn Vạn Lộc, xã Đông Ninh,
phủ Đông Sơn (nay là huyện Đông Sơn, Thanh Hóa), trước khi tham gia lực lượng

quân của Thiên Hộ Dương ở Đồng Tháp Mười đã dụ quân Pháp vào nơi có hang
rắn độc lớn khiến không ít tên giặc bị thiệt mạng, còn người dân thì hào hứng kể
cho nhau rằng Thiên Hộ Dương có đạo binh “rắn thần” trợ chiến.
Hay như “đội quân” trâu lửa phá trận với những chú trâu sừng buộc gươm đao lao
vào hàng ngũ của đối phương xung sát dữ dội, sách Binh thư yếu lược của Trần
Hưng Đạo cũng viết về cách sử dụng lực lượng này như sau: “Dùng con trâu già
bỏ đi, buộc dao sắc vào sừng, hai bên mình cặp tre sát vào chân cho không thể
quay được, trên lưng đội một ống pháo sắt lớn chứa một đấu thuốc, thuốc để
quanh co ở trong pháo; pháo chứa những thuốc liệt hỏa, thần sa, thần hỏa. Phàm
khi quân giặc rất nhiều quân ta rất ít, dùng trâu ấy xông vào người ngựa gặp phải
tức thì tan nát. Khi xông vào trận giặc thì lửa phát pháo nổ, thế như sấm động, ầm
một tiếng không kịp bịt tai. Dù khó nhọc mấy ở trong mấy trùng vây của giặc cũng
phá tan được”.
Nguồn: Sưu tầm*


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status