Tài liệu Tiểu luận: Biến đổi khí hậu toàn cầu - Pdf 10


Tiểu luận

Biến đổi khí hậu toàn cầu 1
Lời mở đầu :

Vấn đề ô nhiễm môi trường hiện nay được coi như là một sự thực và là một hiện
tượng toàn cầu, có những ảnh hưởng đáng kể tới cuộc sống con người. Vấn đề ô
nhiễm môi trường bắt nguồn từ khi con người biết săn bắt, hái lượm, biết làm chủ
thiên nhiên và dần dần biết cách chế ngự, thay đổi thiên nhiên. Sự thay đổi, chế ngự
thiên nhiên mang lại lợi ích thiết thực cho nhu cầu thiết yếu và sự phát triển của con
người. Tuy nhiên khi đạt đến một mức độ nào đó vượt quá ngưỡng giới hạn chịu
đựng của các sinh vật, của thiên nhiên sẽ nảy sinh vấn đề ô nhiễm môi trường. Ô
nhiễm môi trường sống tồn tại dưới các dạng ô nhiễm không khí, ô nhiễm đất, ô
nhiễm nước, ô nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm phóng xạ,…Và một trong những biến đổi
nguy hiểm nhất đặt ra của hiện tượng ô nhiễm môi trường đó là vấn đề biến đổi khí
hậu toàn cầu.Bài báo cáo của chúng tôi sẽ tập trung nghiên cứu về vấn đề biến đổi
khí hậu toàn cầu như là một ví dụ điển hình cho vấn đề ô nhiễm môi trường sống
hiện nay và tập trung vào ba phần chính.
Thứ nhất, vấn đề biến đổi khí hậu là vấn đề mang tính toàn cầu bởi ba đặc điểm
chính của nó : phạm vi tác động rộng lớn, hậu quả ảnh hưởng đến sự sống còn của
nhân loại, và để giải quyết vấn đề này cần có sự hợp tác giữa các quốc gia với nhau.

rằng trừ chiến tranh hạt nhân ra thì sự biến đổi của khí hậu là mối đe dọa lớn
nhất đối với loài người. Nó không những đe dọa sự tồn vong của con người mà
còn uy hiếp cả tương lai của trái đất. Một ví dụ cụ thể gần đây nhất là sự thay
đổi khí hậu tạo nên biển lửa ở Victoria,Úc. Tình trạng trái đất nóng dần đã “hà
hơi tiếp sức” cho những đám cháy lan rộng tại Victoria với tốc độ chóng mặt,
biến thành một cơn bão lửa lịch sử tàn khốc không khác gì một trận bom
nguyên tử tàn phá. Không những thế, còn tạo thành bức tường lửa tại rừng
Quốc gia Bunyip cách Melbourne 125km về hướng Tây.Không phải chỉ có ở
châu Úc,thay đổi khí hậu còn có phạm vi tác động rộng lớn tới toàn thế giới,ví
dụ như ở khu vực châu Á,gây ra nhiều thiên tai ở Tây Tạng-Trung Quốc ( nóc
nhà thế giới). Mỗi thập kỷ, nhiệt độ ở Tây Tạng lại tăng khoảng 0,3 độ C, tức
tăng nhanh hơn khoảng 10 lần mức tăng trung bình của cả nước
1
, kéo theo
những hậu quả có thể thấy trước như sự thu hẹp các sông băng, các thảo nguyên

1
Song Senghua- Nhà khí tượng Thủy Văn Tây Tạng theo nhật báo Xinghua – Trung Quốc

3
khô hạn và sự mở rộng của sa mạc… đe dọa đến hệ sinh thái tự nhiên tại khu
vực.
 Tác động của vấn đề này vô cùng nghiêm trọng ảnh hưởng đến sự sống còn của
nhân loại. Biến đổi khí hậu kéo theo sự thay đổi nhiệt độ, sự tan băng ở hai cực,
mực nước biển dâng cao… Theo báo cáo của IPCC thì khoảng 1 tỷ người có thể
bị ảnh hưởng bởi sự nóng lên toàn cầu, trong đó người dân ở các nước Nam Á,
Trung Quốc và Châu Phi sẽ phải hứng chịu cảnh thiếu nước. Dưới tác động của
sự thay đổi khí hậu, nhiệt độ toàn cầu sẽ nóng lên và dẫn đên tình trạng băng
tan, việc này sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của 500 triệu người ở nam Á, 250
triệu người ở Trung Quốc và khoảng 75 đến 250 triệu người ở Châu Phi. Bên

lượng năng lượng mặt trời, cả lượng khí nhà kính như CH4, CO2, N20 và lượng khí
ga trong khí quyển. Nhiệt độ trung bình của bề mặt trái đất được quyết định bởi sự
cân bằng giữa năng lượng mặt trời chiếu xuống trái đất và lượng bức xạ nhiệt của
mặt đất vào vũ trụ. Bức xạ nhiệt của mặt trời là bức xạ có sóng ngắn nên dễ dàng
xuyên qua tầng ozon và lớp khí CO2 để đi tới mặt đất, ngược lại bức xạ nhiệt từ trái
đất vào vũ trụ là bước sóng dài, không có khả năng xuyên qua lớp khí CO2 dày và
bị CO2 + hơi nước trong khí quyên hấp thụ. Như vậy lượng nhiệt này làm cho nhiệt
độ bầu khí quyển bao quanh trái đất tăng lên. Lớp khí CO2 có tác dụng như một lớp
kính giữ nhiệt lượng tỏa ngược vào vũ trụ của trái đất trên quy mô toàn cầu. Ở thời
kỳ đầu tiên của lịch sử trái đất, các điều kiện tạo ra cuộc sống chỉ có thể xuất hiện vì
thành phần của điôxít cacbon trong bầu khí quyển nguyên thủy cao hơn, cân bằng
lại lượng bức xạ của mặt trời lúc đó yếu hơn đến khoảng 25%. Cường độ của các tia
bức xạ tăng lên với thời gian. Trong khi đó đã có đủ cây cỏ trên Trái Đất, thông qua
sự quang hợp lấy đi một phần khí điôxít cacbon trong không khí tạo nên các điều
kiện khí hậu tương đối ổn định.
Sự gia tăng của các loại khí CO2,CH4 một cách đột biến tác động vào sự
cân bằng nhạy cảm giữa hiệu ứng nhà kính tự nhiên và tia bức xạ của mặt trời. Sự
tập trung các loại khí ga lồng kính như là cácbon đi ô xít CO2,mê tan CH4 hay nitro
ôxit N20 đều có dấu hiệu ra tăng rõ rệt nhất là từ cuộc cách mạng công nghiệp. Ví
dụ lượng khí thải CO2 từ đốt cháy nhiên liệu tăng từ 6.4 Gt một năm trong những

5
năm 90 lên tới 7.2 Gt 1 năm trong giai đoạn từ 2000 đến 2005
2
. Các nhà khoa học
cũng dự báo tình trạng toàn cầu ấm lên, mà nguyên nhân chính là do sự tăng khí
thải CO
2
từ việc tiêu thụ than đá, dầu và xăng ở xe cộ và nhà máy điện, sẽ làm tăng
các đợt hạn hán, các cơn lũ và bão thường xuyên và khắc nghiệt hơn, đe dọa đến

Số liệu lấy từ Vietbao.com.vn

6
Co2 còn thể hiện trong lĩnh vực nông nghiệp. Nạn đốt rừng làm nương rẫy vẫn
liên tiếp xảy ra, không chỉ làm đất trống đồi trọc mà còn gia tăng đáng kể
lượng khí thải CO2 trong không khí. Tình hình này không ở đâu xa mà xảy ra
ngay chính tại Việt Nam khi mà vài năm trở lại đây việc "chuyển đổi" rừng
thành đất nông nghiệp không còn xa lạ với người dân, thậm chí là cả với các
cấp chính quyền. Tình trạng này đang “nở rộ” tại khá nhiều nơi, đặc biệt là ở
Tây Nguyên.
 Nguyên nhân thứ hai là do sự gia tăng dân số. Sự gia tăng dân số kéo theo các
nhu cầu ngày càng tăng của con người. Theo báo cáo của ESCAP thì ở châu Á
- Thái Bình Dương có khoảng 300 triệu ha rừng và là nguồn rừng nhiệt đới
chủ yếu của thế giới. Theo ước tính, đến năm 2000, rừng châu Á sẽ mất đi ít
nhất là 72 triệu ha. Và nếu diễn ra ở khả năng xấu nhất thì số mất đi sẽ là 280
triệu ha. Dự báo nếu tốc độ mất rừng và phá rừng như vậy cứ tiếp diễn thì
rừng ở châu Á sẽ bị xóa sổ trong vòng từ 12 đến 50 năm tới.Đông Nam Á còn
phải đương đầu với nhiều thử thách mới do sự gia tăng dân số, do đô thị hóa
và công nghiệp hóa gây ra. Manila (Philippin) do sự hoạt động của 900 nhà
máy đã tạo ra một lượng chất thải khổng lồ đổ vào hồ La-nu-ga hồ lớn nhất
Đông Nam Aá. Toàn bộ hồ bị ô nhiễm gây chết cá hàng loạt. Năm 1964, sản
lượng cá hàng năm của hồ này là 320.000 tấn, thì năm 1982, sản lượng chỉ còn
128.000 tấn.Băng-Cốc (Thái Lan) do hậu quả của gia tăng dân số và việc khai
thác quá mạnh nguồn nước ngầm trong lòng đất, đã dẫn đến việc lún đất ở
thành phố. Chỉ trong vòng 26 năm, (1960 - 1986), mặt bằng của thành phố lún
xuống 160cm.
4
Sự gia tăng dân số tất yếu dẫn tới sự cạn kiệt nguồn tài nguyên
thiên nhiên, phá hủy các trật tự môi trường.
Trên đây là những nguyên nhân chủ yếu của vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu. Và

Các biện pháp giải quyết sự thay đổi khí hậu được chia thành ba nhóm là các
biện pháp thích ứng, giảm nhẹ và hỗ trợ. Biện pháp thích ứng ở đây có nghĩa là tăng
khả năng sống chung của con người và môi trường với những tác động không thế tránh
khỏi do biến đổi khí hậu gây nên. Biện pháp giảm nhẹ là làm bớt đi độ tích tụ của khí
thải nhà kính trong bầu khí quyền trái đất hiện nay. Cuối cùng biện pháp hỗ trợ là
những biện pháp nhằm tạo điều kiện cho việc thực hiện hai nhóm giải pháp trên được
thuận lợi và đạt hiệu quả cao. Tất cả các nhóm giải pháp này đều nhằm đạt tới mục
tiêu là giữ cho nhiệt độ trái đất chỉ tăng trong phạm vi 2oC trên mức thời kì tiền công

5


8
nghiệp. Để đạt được mục tiêu này thì đòi hỏi phải hạn chế sự tích tụ lượng khí CO2
trong mức 450ppm và duy trì hay giảm thiểu tình trạng tích tụ của những khí gas khác.
Dù phân loại ra như thế nào thì các biện pháp này đều phải được thực hiện một cách
đồng thời và toàn diện. Không một nhóm biện pháp đơn lẻ nào có thể giải quyết triệt
để được vấn đề biến đổi khí hậu này. Một kế hoạch thích ứng dù có được chuẩn bị kĩ
càng cho đến mấy thì cũng không thể đủ sức để bảo vệ những người dân nghèo trên
thế giới khỏi sự biến đổi đã thành thường lệ. Và ngược lại, quá trình giảm nhẹ ảnh
hưởng cũng không bao giờ là đủ để có thể bảo vệ người dân khỏi những vấn đề về
biến đổi khí hậu đã trở nên quá hiển nhiên.
6

a) Các biện pháp thích ứng nhằm tăng khả năng thích ứng của con người và môi
trường với những sự thay đổi khí hậu đang diễn ra hoặc đã được dự báo trước.
b) Các biện pháp giảm nhẹ ở đây là nhằm giảm bớt sự tích tụ khí thải nhà kính trong
bầu khí quyển, bao gồm: cải tiến các công nghệ khai thác nhiên liệu, phát triển các
công nghệ khai thác nhiên liệu không chứa cácbon, tối đa hóa việc sử dụng năng
lượng và cải tạo đất sử dụng.

đều. Bởi vậy, các chính phủ nên tiến hành song song biện pháp trên với việc
cho phép các doanh nghiệp được tiến hành “trao đổi khí thải” với nhau.
Nghĩa là những doanh nghiệp có lượng khí thải thải ra ít hơn cả mức chuẩn
thì sẽ được phép bán lượng khí thải họ tiết kiệm được cho các doanh nghiệp
cần.
 Thứ ba là tăng cường đầu tư cho việc phát triển các công nghệ mới, bao
gồm việc chính phủ tập trung hướng các nghiên cứu vào các công nghệ thân
thiện với môi trường hoặc là trợ cấp cho những nghiên cứu dạng này ở khu
vực tư nhân và các tổ chức khác.
 Thứ tư là nâng cao nhận thức của người tiêu dùng về vấn nạn biến đổi khí
hậu. Việc này có thể được thực hiện thống qua công tác thông tin, tuyên
truyền và giáo dục. Đây là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng bởi khi người
tiêu dùng gia tăng nhận thức về vấn nạn biến đổi khí hậu, họ sẽ có ý thức
thay đổi thói quen tiêu dùng của mình, ví dụ như chuyển từ việc sử dụng các
phương tiện giao thông cá nhân sang việc sử dụng các phương tiện công
cộng.
 Thứ năm là chuyển đổi nền kinh tế sang phương thức phát triển bền vững.
Tức là các chính phủ vừa tập trung phát triển kinh tế nhưng đồng thời cũng
chú trọng đến việc bảo vệ môi trường.Việc thực hiện này nhằm đảm bảo các

10

thế hệ mai sau sẽ được kế thừ đủ vốn vật chất, vốn con người và vốn thiên
nhiên (3 loại vốn quyết định phúc lợi của thế hệ mai sau)
 Thứ sáu là thiết lập một cơ chế hợp tác quốc tế giữa các quốc gia. Theo đó,
các nước giàu sẽ hỗ trợ cho các nước nghèo trong việc chuyển giao công
nghệ, tài trợ cho việc thích ứng với các hâu quả không thể tránh được do sự
biến đổi toàn cầu gây nên.
.


đây đã tìm hiểu các nguyên nhân và từ đó đặt ra những giải pháp định hướng cụ thể,
bao gồm cả giải pháp từ tầm vĩ mô mang tính chất quốc tế đến những giải pháp
mang tính chất cá nhân và ý thức con người trong thời đại mới. Trước sự rộng khắp
trong phạm vi tác động, hệ quả nghiêm trọng mà vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu
mang lại, không một quốc gia đơn lẻ nào có thể giành thắng lợi trong cuộc chiến
chống biến đổi khí hậu. Và vấn đề hợp tác toàn cầu được chúng tôi nêu cao không
chỉ là một phương án mà còn là một sự khẩn cấp cho tình hình hiện nay.

12

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. GS. TS. Nguyễn Trọng Chuẩn (chủ biên), Những vấn đề toàn cầu trong hai
thập niên đầu thế kỷ XXI, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2006.
2. GS. Nguyễn Trần Quế , Những vấn đề toàn cầu , NXB Chính trị Quốc gia Hà
Nội, 2006.
3. Global issues for global citizens, World Bank.
4. Green facts , official website of United Nations.
5.
6. .
7. http:// Wikipedia.comMục lục

BIỆN PHÁP HỢP TÁC, THƯƠNG LƯỢNGError! Bookmark not
defined.
BIỆN PHÁP PHÁP LUẬT Error! Bookmark not defined.
NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CẠN KIỆT
NGUỒN NƯỚC TOÀN CẦU Error! Bookmark not defined.
KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined.
DANH MỤC THAM KHẢO Error! Bookmark not defined.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status