HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
NGUYỄN TRƯỜNG GIANG NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG QUẢN LÝ ĐỊNH TUYẾN IRR VÀ
ĐẦ XUẤT TRIỂN KHAI CHO INTERNET VIET NAM
Chuyên ngành: Kỹ thuật điện tử
Mã số: 60.52.70 Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN CHIẾN TRINH
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
khảo các tài liệu nghiên cứu, các chuẩn, khuyến nghị của các tổ chức viễn thông quốc tế
như ITU, IEEE… Nghiên cứu thực nghiệm tại đơn vị, mô hình hóa mô phỏng trên máy
tính.
Để hoàn thành luận văn này không thể không nhắc đến công lao hướng dẫn của TS.
Nguyễn Chiến Trinh. Em xin gửi lời chân thành cảm ơn đến sự giúp đỡ nhiệt tình của
thầy trong thời gian vừa qua. Luận văn còn nhiều hạn chế kính mong nhận được sự góp
từ hội đồng bảo vệ để hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn!
Học viên
Nguyễn Trường Giang
2
CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN
1.1. Giới thiệu tổng quan về hệ thống quản lý định tuyến IRR
Tài nguyên mạng là một nhân tố quan trọng trong việc đảm bảo hoạt động của
mạng Internet toàn cầu. Độ tin cậy, chính xác trong quản lý tài nguyên mạng là một
nhân tố đảm bảo tính ổn định trong hoạt động mạng toàn cầu. Do vậy, mọi cấp phát
phân bổ tài nguyên đều phải được lưu trữ với mức chính xác thông tin cao nhất, đảm bảo
có thể liên lạc đối với mọi mạng lưới sử dụng tài nguyên. Tất cả những tổ chức được cấp
và sử dụng tài nguyên đều phải có nhiệm vụ đăng ký thông tin liên lạc của tổ chức,
người quản lý, quản lý kỹ thuật mạng lưới sử dụng tài nguyên. Như vậy, bất cứ vùng địa
chỉ mạng nào đều có thể truy vấn ra hiện trạng sử dụng, tổ chức đang sử dụng tài
nguyên. Nếu có hoạt động tấn công mạng, hay các vấn đề xuất phát từ một mạng nào đó,
có thể tìm ra ngay nguồn gốc của những hoạt động đó và có thể liên lạc và tiến hành
ngăn chặn.
Để lưu trữ thông tin quản lý về tài nguyên, đảm bảo mục tiêu “có đăng ký” trong sử
dụng tài nguyên mạng, các tổ chức quản lý tài nguyên phải duy trì một cơ sở dữ liệu
phục vụ cộng đồng. Trên thực tế, các ISP, khi khách hàng đề nghị quảng bá thông tin
định tuyến cho vùng địa chỉ mới, đều truy vấn tìm kiếm thông tin trong cơ sở dữ liệu
ngữ RPSL cũng được các tổ chức quản lý tài nguyên sử dụng để mô tả lưu trữ các phân
bổ, cấp phát liên quan đến tài nguyên Internet (địa chỉ IP, số hiệu mạng ASN, tên miền
ngược reverse DNS). Tìm kiếm thông tin trong các cơ sở dữ liệu này, các nhà hoạch
định chính sách, kỹ sư quản trị mạng có được toàn bộ cơ sở dữ liệu tài nguyên địa chỉ
Internet, thông tin định tuyến trên mạng Internet. Trên cơ sở các thông tin đó giúp cho
các nhà quản lý đưa ra các quyết định về chính sách mạng tốt nhất, các nhà quản trị
mạng có thể thông qua hệ thống cơ sở dữ liệu nhận được các thông tin cập nhật nhất và
chính xác tuyệt đối phục vụ cho việc cấu hình tự động các thiết bị hệ thống mạng của
mình.
Các khái niệm và định nghĩa trong RPSSL
1.2.1. Đối tượng (object):
Các đối tượng và thuộc tính trong RPSL đều có tên tương ứng. Mỗi đối tượng được xác
định duy nhất bởi một số các thuộc tính trong đối tượng. Các thuộc tính đó được coi là
các “khoá chính” của lớp đối tượng
4
1.2.2. Thuộc tính (attribute):
Thuộc tính được sử dụng để mô tả các đặc tính của đối tượng. Một thuộc tính sẽ bao
gồm ba thành phần: tên thuộc tính, dấu “:” để phân cách và cuối cùng là giá trị của thuộc
tính
1.2.3. Lớp đối tượng (class)
Lớp đối tượng là khái niệm để chỉ toàn bộ các đối tượng thuộc cùng một loại nhất
định như toàn bộ các đối tượng người (person) thuộc vào person class… RPSL quy định
về cú pháp và định dạng của toàn bộ các lớp đối tượng sử dụng để mô tả địa chỉ IP, số
hiệu mạng ASN, tên miền ngược, chính sách định tuyến
1.2.4. Dạng của thuộc tính, biểu diễn dạng thuộc tính
Các thuộc tính bao gồm: Tên đối tượng, Số hiệu mạng: <as-number>, Địa chỉ IPv4:
<IPv4-address>, Tiền tố địa chỉ: <address-prefix>, Khoảng tiền tố địa chỉ: <address-
khái niệm, định nghĩa quy định trong việc xây dựng quản lý tài nguyên và định tuyến
Internet, bất kỳ một cơ quan, tổ chức nào xây dựng hệ thống cũng cần tuân thủ nhằm
liên kết và tham khảo lẫn nhau trong công tác quản lý Internet nói chung. Trong phần
tiếp theo luận văn sẽ đi sâu nghiên cứu cấu trúc, phương thức hoạt động của một hệ
thống IRR, cách liên kết với các hệ thống IRR với nhau và với các thành phần khác
trong hệ thống, đồng thời giới thiệu một số hệ thống IRR đã được một số đơn vị, tổ chức
trên thế giới xây dựng.
6
CHƯƠNG 2 - HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHÍNH SÁCH ĐỊNH TUYẾN IRR.
2.1. Hệ thống quản lý chính sách định tuyến IRR:
2.1.1. Cấu trúc, phương thức hoạt động của hệ thống IRR
IRR được xây dựng như sau: IRR được xây dựng cùng với hệ thống whois để xác
thực các thông tin về IP/ASN khi đưa vào CSDL định tuyến toàn cầu. Việc xây dựng
IRR phụ thuộc rất nhiều vào thiết bị định tuyến, do đó đối với các doanh nghiệp internet
cung cấp dịch vụ kết nối và định tuyến mạng lớn thường xây dựng các IRR nhằm quản
lý định tuyến và cung cấp các dịch vụ ứng dụng liên quan đến IRR. IRR có thể xây dựng
độc lập để quản lý chính sách định tuyến và cung cấp các thông tin, ứng dụng trong khu
vực quản lý cục bộ, hay kết hợp ánh xạ với các IRR khác trên thế giới để cung cấp thông
tin cho cộng đồng mạng. Đối với các IRR xây dựng độc lập thì các IRR cập nhật thường
xuyên các thông tin định tuyến từ hệ thống thiết bị quản lý định tuyến trên mạng là các
router; đồng thời từ hệ thống IRR chúng ta có thể tạo ra các chính sách định tuyến để
đưa vào các thiết bị định tuyến, quá trình định nghĩa các chính sách định tuyến đưa vào
hệ thống IRR và đưa ra các cấu hình định tuyến cho các thiết bị định tuyến Router là
một quá trình khép kín :
Nguyên lý xây dựng hệ thống IRR
Hệ thống CSDL lưu trữ thông tin định tuyến IRR (Internet Routing Registry)
JPNIC và các hệ thống IRR quản lý riêng của các ISP trên thế giới.
APNIC sử dụng ngôn ngữ đặc tả chính sách định tuyến RPSL để xây dựng hệ thống
CSDL và tích hợp gồm có 02 CSDL: Whois (quản lý tài nguyên) và IRR (quản lý thông
tin chính sách định tuyến)
8
APNIC với đặc thù là cơ quan quản lý tài nguyên internet của khu vực bao gồm quản
lý và cấp phát tài nguyên IP/ASN kết hợp với việc xây dựng hệ thống IRR tạo nên một
hệ thống CSDL về tài nguyên và định tuyến mạng lớn trong khu vực. Các ứng dụng bao
gồm: Lọc định tuyến dựa trên các route lưu trong IRR; Tìm lỗi sử dụng thông tin liên hệ
của từng AS, liên kết giữa các AS để liên hệ trực tiếp trợ giúp quá trình gỡ rối; Cung cấp
một bức tranh tổng thể về định tuyến mạng Internet của khu vực.
2.2.2. Hệ thống IRR của Merit RADb
Hệ thống IRR của Merit RADb (radb.net) là một trong các hệ thống IRR đầu tiên trên
thế giới, là hệ thống đăng ký thông tin định tuyến mạng mà hỗ trợ việc truyền dữ liệu
qua Internet. Merit RADb cung cấp cho các tổ chức các công cụ đăng ký thông tin định
tuyến cho mạng của họ, theo dõi các thay đổi trong định tuyến và xác định trạng thái của
tài nguyên mạng. Cơ sở dữ liệu IRR của Merit RADb tuân theo chuẩn ngôn ngữ đặc tả
chính sách định tuyến RPSL và được mirror với CSDL IRR của nhiều tổ chức khác
nhau:
Các dịch vụ, ứng dụng mà Merit RADb cung cấp: Truy vấn cơ sở dữ liệu của Merit
RADb; Tạo, sửa, xóa các đối tượng thông qua giao diện Web; IRRToolset: cho phép tự
động cấu hình bộ định tuyến, phân tích các chính sách định tuyến và tự động bảo trì;
IRR Power tools: Tập các công cụ cho phép các ISP theo dõi, quản lý và sử dụng các
thông tin định tuyến có trong CSDL IRR;ASLookup: là công cụ tìm kiếm các trình tự
của số hiệu mạng AS với các tham số từ IRR và cho thấy dòng đầu tiên mô tả của đối
tượng AS.
2.2.3. Hệ thống IRR tại NTT:
lý hệ thống IRR còn tương tác trực tiếp với các thiết bị mạng, kết hợp với các công cụ
tương tác khác hỗ trợ các quản trị mạng trong công tác quản lý và cáu hình hệ thống.
Bên cạnh đó nôi dung của chương cũng giới thiệu một số hệ thống IRR điển hình đã
được triển khai và vận hành của một số đơn vị tổ chức trên thế giới, trong đó có những 3
đặc thù của tổ chức: tổ chức quản lý tài nguyên thuần túy (APNIC), đơn vị hoạt động
dịch vụ Internet lớn cung cấp các dịch vụ định tuyến mạng (NTT), tổ chức vừa là đơn vị
quản lý tài nguyên vừa cung cấp dịch vụ định tuyến mạng (RDB) Dựa trên những
nghiên cứu về hệ thống IRR và qua mô hình, kinh nghiệm của các đơn vị tổ chức trên
thế giới đã xây dựng, trong chương tiếp theo luận văn nghiên cứu đề xuất mô hình quản
lý định tuyến IRR cho Internet Việt Nam trong đó tập trung xây dựng nhằm ứng dụng
thực tiễn cho hệ thống VNIX.
10
CHƯƠNG 3 - NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG HỆ THỐNG QUẢN LÝ
ĐỊNH TUYẾN INTERNET VIỆT NAM
3.1. Tổng quan về mạng Internet Việt Nam:
Internet Việt Nam chính thức được mở cửa vào năm 1997, tốc độ người sử dụng
dịch vụ Internet tăng rất nhanh, tuy nhiên hiện nay số người sử dụng dịch vụ Internet tập
chung vào khối các cơ quan nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học, các khu công
nghiệp phần mềm tập trung, các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp liên doanh và
nước ngoài, doanh nghiệp tư nhân có quy mô, thương hiệu và danh tiếng lớn, và phần
lớn việc truy cập Internet qua bang rộng ADSL, FTTP tốc độ cao…
Việc ra đời rất nhiều các doanh nghiệp Internet tham gia các hoạt động mạng dẫn
đến việc tăng trưởng rất mạnh trong các hoạt động định tuyến tại Việt Nam hiện nay.
Cùng với đó là sự phát triển mạnh mẽ của việc kết nối định tuyến giữa các mạng với
nhau đặc biệt là việc ra đời và hình thành hệ thống các điểm trung chuyển Internet trong
nước VNIX, do đó hệ thống định tuyến của mạng Internet Việt Nam đã và đang đứng
trước một diện mạo mới, với yêu cầu về quản lý ngày càng phức tạp .
Tổng quan về VNIX
IXP (internet exchange point) là một phương tiện để trao đổi lưu lượng internet giữa
các ISP, mục đích của nó là thúc đẩy sự phát triển của thị trường internet trong nước.
IXP là một phần rất quan trọng trong cơ sở hạ tầng Internet, là điểm gặp nhau của các
ISP trong nước. Có thể nói nếu không có IXP thì sẽ không có mạng Internet như ngày
nay. Tại Việt Nam điểm trung chuyển Internet trong nước là VNIX.
Dưới đây là một số lí do cho việc xây dựng trạm trung chuyển Internet trong nước
VNIX:
- Sự khó khăn trong thiết lập các kết nối ngang hàng (peering) trực tiếp giữa các doanh
nghiệp IXP trong nước, dẫn đến lưu lượng dịch vụ Internet trong nước phải đi vòng
qua quốc tế gây lãng phí băng thông quốc tế, tăng độ trễ truyền dẫn làm giảm chất
lượng dịch vụ.
- Thông qua các kết nối VNIX trong nước, hệ thống mạng DNS quốc gia tới được
người sử dụng Internet trong nước với kết nối gần hơn, độ trễ thấp hơn do vậy nâng
cao chất lượng sử dụng dịch vụ Internet.
- Độ sẵn sàng dịch vụ DNS được tăng cường theo mức độ tăng của các kết nối tới
VNIX. Ngoài ra, thông qua các doanh nghiệp IXP kết nối với VNIX, tải truy vấn tên
miền quốc tế có thể được san đều và phân bố hiệu quả hơn, độ sẵn sàng tăng cao hơn.
12
- Kết hợp với hệ thống cơ sở dữ liệu Whois của VNNIC, các đối tượng địa chỉ và số
hiệu mạng có thể được tìm kiếm, cập nhật và quản lý dễ dàng hơn.
- Số liệu thống kê qua phân tích lưu lượng tại VNIX sẽ làm tăng độ phong phú của các
thông tin thống kê phục vụ công tác quản lý của Bộ.
Việc xây dựng và quản lý điểm trung chuyển dữ liệu Internet quốc gia VNIX đảm bảo
tính công bằng cho tất cả doanh nghiệp Internet trong cả nước tham gia kết nối vào
VNIX. Thực tế tại nhiều quốc gia trên thế giới đã chứng tỏ sự thành công và phát triển
mô hình IX do các tổ chức phi lợi nhuận xây dựng và quản lý. Sơ đồ thiết kế xây dựng
Cùng với sự phát triển hệ thống mạng của ISP và sự thực hiện kết nối mạng trực tiếp
giữa các ISP với nhau và thông qua VNIX đã làm đã làm cho hệ thống mạng Internet
của Việt Nam ngày các phát triển mạnh mẽ, tuy nhiên song song với sự phát triển sẽ làm
phát sinh nhiều vấn đề phức tạp, khó khăn trong vấn đề quản lý bảng định tuyến.
Với số lượng địa chỉ IP/ASN ngày càng gia tăng tại Việt Nam thì việc có cơ sở dữ
liệu theo chuẩn nào đó là việc cần thiết để lưu trữ và tra cứu. Sự liên kết giữa cơ sở dữ
liệu và cập nhật trên hệ thống với các công cụ tiện ích giảm nhân công tránh sai sót khi
thực hiện cập nhật cấu hình.Cơ sở dữ liệu định tuyến, cũng như các công cụ hỗ trợ cấu
hình là các công cụ chính để hỗ trợ cho người quản trị trong công tác triển khai cũng
như xác định lỗi trong trường hợp lỗi kết nối định tuyến xảy ra.
3.3. Nghiên cứu đề xuất mô hình xây dựng hệ thống IRR cho VNIX và Internet
Việt Nam
14
3.3.1.
Đề xuất mô hình xây dựng IRR cho Internet Việt Nam.
Trung tâm Internet Việt Nam đóng vai trò là cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên
Internet trong đó có địa chỉ IP/ASN. Hệ thống Whois, IRR sử dụng ngôn ngữ đặc tả
chính sách định tuyến RPSL theo chuẩn chung quốc tế, hệ thống sẽ nằm thống nhất
trong tổng thể cấu trúc của khu vực và quốc tế. Việc đồng bộ dữ liệu của VNNIC với
APNIC và các IRR khác sẽ được thực hiện một cách tự động và kịp thời. Giữa VNNIC
với các LIR trong nước cũng sử dụng cơ chế tương tự.
Cơ sở dữ liệu của IRR Việt Nam sẽ nằm trong Hệ thống cơ sở dữ liệu Whois/IRR
dùng chung cho toàn mạng Internet Việt Nam, hệ thống nằm trong hệ thống quản lý toàn
cầu được ánh xạ và đăng ký với các tổ chức quản lý trong khu vực và quốc tế đảm bảo
độ tin cậy nhằm sử dụng cho Việt Nam và cộng đồng quốc tế.
Hệ thống IRR của Việt Nam sẽ ánh xạ với các IRR khác trên thế giới nhằm hỗ trợ các
ISP trong nước có thể đăng ký thông tin định tuyến và quản lý routing của mình một
chuẩn CSDL là RPSL) đối với các vùng địa chỉ IP/ASN của Việt Nam để đảm bảo tính
xác thực tin cậy.
Mô hình hệ thống IRR xây dựng quản lý VNIX
Cơ sở dữ liệu quản lý định tuyến IRR quản lý VNIX được tạo nên không chỉ để lưu
trữ thông tin định tuyến và thông tin quản trị mà còn để xác định các policy cho các ISP
16
(đại diện bởi một AS) đã đăng kí qua VNIX. Các AS liên kết với nhau bằng giao thức
định tuyến BGP thông qua việc sử dụng các policy của từng AS.
Sơ đồ kết nối hệ thống mạng và IRR
Mô hình hệ thống IRR như trên bao gồm các thành phần sau đây:
- Các BGP router của các nhà cung cấp dịch vụ làm nhiệm vụ định tuyến BGP giữa
các AS khác nhau. Chúng không phải thiết lập kết nối đến nhau mà chỉ phải kết
nối đến Route server để nhận thông tinh định tuyến.
- Route server làm nhiệm vụ lọc các thông tin định tuyến của các BGP gửi đến
nhau dựa trên policy mà nó nhận được từ hệ thống IRR.
- Switch 1 làm nhiệm vụ vận chuyển gói tin đến mạng đích thông qua lớp vật lí
(thường dùng giao diện Ethernet hoặc Fast Ethernet).
- Các hệ thống phụ trợ khác : Border Gateway Router làm nhiệm vụ định tuyến
cho các gói tin ra vào mạng. Firewall dùng để lọc các gói tin độc hại xâm nhập
hoặc các cuộc tấn công vào hệ thống. Switch 2 dùng để vận chuyển gói tin đến
máy chủ có địa chỉ thích hợp, các máy chủ thông tin, các máy chủ xác thực…
Hệ thống quản lý định tuyến IRR cung cấp các công cụ tương tác với các router quản
lý định tuyến hỗ trợ người quản trị, hỗ trợ khách hàng quản lý một cách dễ dàng, các đối
tượng được ánh xạ thành các bản ghi đưa trực tiếp vào thiết bị quản lý tránh được các sai
sót trong quá trình vận hành khai thác. Việc đăng ký, hay việc giám sát, kiểm tra hoạt
lượng Internet trong nước, do đó trong phạm vị chủ động và hỗ trợ công tác quản lý hệ
thống thì việc xây dựng hệ thống quản lý định tuyến IRR hoàn toàn khả thi và mang tính
thực tiễn cao.
4.1. Xây dựng hệ thống quản lý định tuyến cho VNIX
Để xây dựng hệ thống IRR cần các thành phần:
- Hệ thống lưu trữ, quản lý CSDL IRR
- Hệ thống tương tác CSDL IRR để tạo ra các Router Config.
- Hệ thống Web tương tác.
- Hệ thống tương tác với Router Server.
4.1.1.
Gói phần IRRd dành cho máy chủ IRR
IRRd là một gói phần mềm mã nguồn mở cài trên nền Hệ điều hành UNIX, dùng cho
việc xây dựng một máy chủ IRR. IRRd có thể lưu trữ các thông tin liên quan đến việc
định tuyến và trả lời yêu cầu truy vấn từ phía client. IRRd có thể sử dụng như một máy
chủ cơ sở dữ liệu độc lập hoặc như là một phần của hệ thống cơ sở dữ liệu định tuyến
IRR toàn cầu.
4.1.2.
Gói phần mềm mã nguồn mở IRRToolSet:
IRRToolSet là một bộ công cụ dùng để phân tích chính sách định tuyến sử dụng dữ
liệu về chính sách định tuyến dưới định dạng của ngôn ngữ RPSL được lưu trong cơ sở
dữ liệu định tuyến IRR. Mục đích chính của gói phần mềm này là làm cho việc sử dụng
thông tin định tuyến thuận tiện và dễ dàng hơn đổi với các kĩ thuật viên mạng, bằng các
cung cấp các công cụ để sinh file cấu hình tự động cho router hay phân tích và lưu giữ
thông tin về chính sách định tuyến.
Gói RtConfig:
19
RtConfig là một công cụ dùng để sinh file cấu hình tự động cho router nhờ phân tích
giấu mật khẩu đăng nhập vào hệ thống.Theo dõi các tác động lên hệ thống website thông
qua logfile: toàn bộ tương tác đều được lưu log lại.
4.1.4.
Xây dựng hệ thống Web tương tác.
Hệ thống Web tương tác được xây dựng để hỗ trợ cho việc tương tác với hệ thống lưu
trữ cơ sở dữ liệu IRR cũng như tương tác với hệ thống IRRToolset một cách thuận tiện
nhất. Hệ thống web tươnng tác cần đảm bảo các yêu cầu sau:
Đối với cộng đồng: Có giao diện tra cứu thông tin tài nguyên cho cộng đồng.
Đối với các thành viên ISP:Có giao diện tra cứu, quản trị cơ sở dữ liệu cho thành
viên.
Đối với các quản trị VNIX có giao diện: quản lý hệ thống; quản trị thành viên; quản
lý chính sách định tuyến; quản lý cấu hình; quản lý Router
Đối với quản trị hệ thống có giao diện: quản lý yêu cầu đăng ký; quản lý các thành
viên
4.2. Kết quả thử nghiệm và đánh giá :
4.2.1.
Kết quả thử nghiệm:
Giao diện hệ thống đối với các mức truy cập khác nhau là khác nhau. Các tính năng
giành cho cộng đồng: Report và Queries. Khi truy cập vào hệ thống, tùy thuộc tài khoản
thuộc nhóm nào thì operator sẽ được sử dụng các tính năng trong nhóm đó.
Giao diện hệ thống IRR
Các tính năng giành cho thành viên:
21
22
- Đối với quản trị VNIX, hệ thống cũng cung cấp khả năng quản lý chính sách định
tuyến một cách có hệ thống, tránh sai sót, nhầm lẫn như khi thực hiện bằng nhân
công trước đây.
- Tính năng sinh cấu hình tự động của hệ thống giúp chuẩn hóa việc quản trị hệ
thống VNIX, tránh nhầm lẫn, sai sót như khi thực hiện nhân công.
Một hệ thống IRR độc lập không thể chứa đựng toàn bộ thông tin định tuyến của
Việt Nam, bên cạnh đó, có những ISP chưa có kết nối VNIX hoặc có những chủ thể tài
nguyên có IP, AS nhưng chưa quảng bá qua VNIX. Để đảm bảo có thể có một cơ sở dữ
liệu lưu trữ thông tin định tuyến của Việt Nam chính xác và cập nhật, đòi hỏi phải xây
dựng thêm các hệ thống IRR tại các ISP, các hệ thống cơ sở dữ liệu IRR này được hình
thành và phát triển bởi sự hợp tác của nhiều tổ chức, các IRR này hoạt động độc lập với
nhau, tuy nhiên sẽ thường xuyên trao đổi dữ liệu (mirror) với nhau. Hệ thống quản lý
định tuyến IRR cho VNIX là một thành phần trong hệ thống quản lý định tuyến Internet
của Việt Nam để từ đó phát triển mở rộng, hoàn thiện tổng thể việc quản lý định tuyến
của Việt Nam.
4.3. Kết luận
Hệ thống quản lý định tuyến Internet sử dụng ngôn ngữ đặc tả chính sách định tuyến
RPSL là một chuẩn chung trên thế giới hiện nay. Mô hình IRR, và các kết quả thử
nghiệm cho VNIX cho thấy khả năng ứng dụng cho quản lý định tuyến là rất hiệu quả,
từ đó có thể phát triển xây dựng hệ thống IRR của Việt Nam…
23
KẾT LUẬN