Nghiên cứu phát triển khung phần mềm hệ thống tích hợp các phần mềm tại bưu cục giao dịch tại tổng công ty bưu chính việt nam VNPOST - Pdf 10

1

HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG

VŨ NAM CƯỜNG NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN KHUNG PHẦN MỀM HỆ
THỐNG TÍCH HỢP CÁC PHẦN MỀM TẠI BƯU CỤC
GIAO DỊCH TẠI TỔNG CÔNG TY BƯU CHÍNH VIỆT
NAM – VNPOST

CHUYÊN NGÀNH: TRUYỀN DỮ LIỆU VÀ MẠNG MÁY TÍNH
MÃ SỐ: 60.48.15

TÓM TĂT LUẬN VĂN THẠC SĨ Người hướng dẫn khoa học:
T
S.
H
Ồ KHÁNH LÂM
đây là xu hướng tất yếu của việc phát triển công nghệ thông tin trong
lĩnh vực Bưu chính
Trong phạm vi luận văn này, tác giả đưa ra một hướng giải quyết nhằm
tích hợp các ứng dụng phần mềm riêng lẻ tại các điểm bưu cục giao
dịch.
Nội dung của luận văn dự kiến sẽ được chia thành 3 chương với những
nội dung cụ thể sau:
 Chương 1: Khảo sát hiện trạng ứng dụng phần mềm tại bưu cục
giao dịch hiện nay.
o Phần này nghiên cứu về các phần mềm đang triển khai
tại hệ thống bưu cục của Tổng công ty bưu chính
o Tìm hiểu xu hướng ứng dụng phần mềm tại bưu cục
giao dịch
o Kết luận:
 Chương 2: Phân tích lựa chọn công nghệ.
o Xác định yêu cầu khi xây dựng hệ thống phần mềm
khung tích hợp tại bưu cục giao dịch.
o Lựa chọn giải pháp công nghệ và công cụ xây dựng hệ
thống.
o Giải pháp kỹ thuật chi tiết
o Kết luận:
 Chương 3: Thiết kế tổng thể hệ thống khung phần mềm tại bưu
cục giao dịch.
o Thiết kế logic hệ thống
o Đặc tả các chức năng chi tiết hệ thống
o Thiết kế lớp đối tượng
o Hướng khuyến nghị, định hướng phát triển
4
Chương 1
KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG, XU HƯỚNG ỨNG

bộ 63 tỉnh/TP, vì vậy việc thay thế một hệ thống phần mềm cũ bằng hệ
thống phần mềm mới là việc làm rất khó khăn và tốn kém.
Hiện nay, Tổng công ty Bưu chính đã và đang triển khai được một số hệ
thống phần mềm như sau:
- Hệ thống phần mềm chuyển tiền – CT2003
- Hệ thống phần mềm quản lý luồng tiền – CFM
- Hệ thống PayPost Counter
- Hệ thống EMS
- Hệ thống BPBK2007
- Hệ thống Epost
2.1 Xu hướng ứng dụng phần mềm tại bưu cục giao dịch
2.1.1. Tình hình ứng dụng CNTT tại bưu chính một số nước trên
thế giới
Xu thế phát triển bưu chính điện tử trên thế giới
Được sự ủng hộ về mọi mặt của Liên minh bưu chính quốc tế (UPU)
thông qua chiến lược và các chương trình hành động đề ra trong các kỳ
đại hội, cùng với sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ và đặc biệt là công
chúng, trong thời gian qua, bưu chính thế giới đã tập trung phát triển
6
mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin vào khai thác dịch vụ Bưu
chính nhằm hướng đến phát triển bưu chính điện tử. Vì vậy mà việc ứng
dụng Công nghệ thông tin đã được đẩy mạnh và ứng dụng vào hầu hết
các dịch vụ Bưu chính bao gồm cả những dịch vụ Bưu chính truyền
thống và các dịch vụ mới. Có thể kể đến những dịch vụ có ứng dụng
Công nghệ thông tin như: Dịch vụ chuyển tiền bưu chính, dịch vụ
chuyển phát, Ngoài ra các dịch vụ mới hướng đến ứng dụng Công
nghệ thông tin vào khai thác như: Dịch vụ hậu cần bưu chính dựa trên
hợp đồng thỏa thuận giữa doanh nghiệp kinh doanh thương mại điện tử
với doanh nghiệp bưu chính; Dịch vụ trung gian thanh toán tiền tệ là
một loại dịch vụ có tính sáng tạo mới, chủ yếu là phục vụ cho các khách

thương mại điện tử”, và “lập hóa đơn và thanh toán điện tử, dịch vụ tra
cứu thông tin, e-mail an toàn…”.
Báo cáo tổng kết 2005 của Tổng công ty bưu chính viễn thông Việt
Nam (Nay là Tập đoàn Bưu chính Viễn thông), phần định hướng giai
đoạn 2006 – 2010 có nêu: “Về các dịch vụ: Phát triển thêm các dịch vụ
mới đáp ứng nhu cầu của khách hàng như dịch vụ Direct Mail, thương
mại điện tử, ” Trước đó, năm 2003, Kế hoạch tổng thể ứng dụng công
nghệ thông tin trong bưu chính - ITMP giai đoạn 2001 – 2010 đã ra đời,
thể hiện bước ngoặt lớn trong bưu chính về định hướng và kế hoạch.
8
Với định hướng rõ ràng về chủ trương và có kế hoạch cụ thể, Tổng công
ty Bưu chính Việt Nam đã phần nào ứng dụng thành công có hiệu quả
các ứng dụng công nghệ thông tin vào việc khai thác dịch vụ.
Hiện nay tại Bưu cục giao dịch – Tổng công ty Bưu chính Việt Nam, có
khá nhiều hệ thống phần mềm được cài đặt để hỗ trợ khai thác dịch vụ
tại đây, những phần mềm này đã mang lại lợi ích không nhỏ trong khai
thác dịch vụ như: giảm chi phí khai thác dịch vụ hay nâng cao chất
lượng dịch vụ như rút ngắn thời gian cung cấp dịch vụ. Ví dụ đối với
dịch vụ Chuyển tiền, trước đây chưa ứng dụng hệ thống phần mềm thì
việc chuyển tiền từ người gửi đến người nhận có khi mất cả tuần tuy
nhiên thời gian nhận gửi tiền đã được rút ngắn xuống chỉ còn một ngày
hoặc thậm chí vài giờ đã đến tay người nhận.
Như vậy việc ứng dụng ứng dụng công nghệ thông tin trong khai thác
dịch vụ của mình là hướng đi đúng đắn của VNPost do các dịch vụ của
Tổng công ty Bưu chính thường là dịch vụ cung cấp trên phạm vị rộng
thường là toàn quốc. Tuy nhiên những phần mềm hiện đang triển khai
còn tồn tại những điểm chưa thống nhất về môi trường phần cứng, phần
mềm hoạt động như: hệ điều hành hay thậm chí các tham số môi trường
trong hệ điều hành như định dạng ngày tháng, có phần mềm thì yêu cầu
định dạng dd/MM/yyyy, có phần mềm lại yêu cầu phải theo định dạng

thị trường bưu chính trong nước cũng được quan tâm đẩy mạnh. Đây là
hướng đi đúng đắn giúp mang lại doanh thu cao cho Bưu chính Việt
Nam. Dịch vụ mới triển khai hoặc liên doanh liên kết với các hãng khác
10
đều đòi hỏi phải khai thác trên hạ tầng Công nghệ thông tin, các phần
mềm mới tiếp tục được phát triển, bên cạnh đó còn có những phần mềm
do đối tác cung cấp để khai thác dịch vụ, do đó xu hướng đầu phần mềm
sử dụng tại bưu cục giao dịch tăng nên nhanh chóng trong một vài năm
gần đây.
Chương 2
PHÂN TÍCH VÀ LỰA CHỌN CÔNG NGHỆ
Chương 2 tập trung vào phân tích hiện trạng, bất cập ứng dụng
phần mềm tại Bưu cục giao dịch để có được yêu cầu về xây dựng
hệ thống phần mềm khung. Đưa ra lựa chọn về giải pháp công
nghệ, các giải pháp kỹ thuật xây dựng hệ thống phần mềm.
2.1 Xác định yêu cầu khi xây dựng hệ thống phần mềm khung tích
hợp tại bưu cục giao dịch
Như đã đề cập trên đây, hiện nay tại Bưu cục giao dịch – Tổng công ty
Bưu chính Việt Nam, có khá nhiều hệ thống phần mềm được cài đặt để
hỗ trợ khai thác dịch vụ tại đây, các phần mềm này đã mang lại lợi ích
không nhỏ trong khai thác dịch vụ như: giảm chi phí khai thác dịch vụ
hay nâng cao chất lượng dịch vụ như rút ngắn thời gian cung cấp dịch
vụ. Tuy n hiên điều này lại gây ra một số bất cập cho việc khai thác dịch
vụ tại bưu cục giao dịch như:
- Tồn tại quá nhiều phần mềm đơn lẻ, mỗi phần mềm chỉ khai
thác được một dịch vụ duy nhất.
11
- Kèm theo đó là việc yêu cầu trang thiết bị phần cứng đi kèm
dẫn đến lãng phí không cần thiết. ảnh hưởng đến vấn đề diện
tích khai thác dịch vụ tại các điểm bưu cục giao dịch.

nhanh theo số lượng dịch vụ của Tổng công ty Bưu chính.
- Mỗi dịch vụ đều áp dụng một chương trình hỗ trợ khai thác dịch
vụ được phát triển riêng.
- Nền tảng công nghệ của các ứng dụng đang triển khai hầu như
đều sử dụng công nghệ .Net của Microsoft, sử dụng nền
Database SQL Server, giao diện người dùng đầu cuối sử dụng
cả winform và webform.
- Các ứng dụng hiện đang triển khai đang được khai thác một
cách ổn định, tài nguyên cơ sở hạ tầng đáp ứng được yêu cầu
của các phần mềm.
- Người dùng tại các điểm bưu cục giao dịch luôn phải chuyển
qua lại giữa nhiều hệ thống phần mềm khác nhau, đôi khi gây
nhầm lẫn và bất tiện trong khai thác dịch vụ.
- Có quá nhiều thiết bị đầu cuối tại các điểm giao dịch như: máy
tính, máy in, thiết bị mạng, Điều này dẫn đến việc đầu tư quá
lớn thiết bị và chưa sử dụng hết.
13
2.2.2. Lựa chọn công nghệ
Qua khảo sát tác giả nhận thấy, các phần mềm đang sử dụng của Tổng
công ty Bưu chính đều được phát triển dựa trên nền tảng công nghệ của
Microsoft, cụ thể các ứng dụng đại đa số đều được phát triển trên nền
tảng công nghệ .Net, cá biệt có một số phần mềm được phát triển sớm
nên còn sử dụng công nghệ cũ như Foxpro hay Visual Studio 6. Hệ quản
trị cơ sở dữ liệu sử dụng SQL Server. Như vậy để thuận lợi cho quá
trình tích hợp sau này, đòi hỏi hệ thống khung nền nên phát triển trên
cùng nền tảng công nghệ và phải là công nghệ mới nhất hiện nay để
đảm bảo tính mới và cũng nhằm mục tiêu tích hợp thuận lợi sau này.
Với những lý do trên, công nghệ lựa chọn để phát triển hệ thống phần
mềm khung – Framework nhóm chủ trì tác giả đã lựa chọn là:
- Công nghệ phát triển hệ thống phần mềm khung sử dụng .Net,

trong thư viện thì ta cần khai báo trong ứng dụng gọi nghĩa là ta phải
thay đổi mã nguồn của hệ thống hiện có như vậy sẽ vi phạm yêu cầu
không làm thay đổi các ứng dụng hiện đang sử dụng. Vậy chúng ta sẽ sử
dụng cách thứ 2 để giải quyết cho yêu cầu bài toán.
15
Với vấn đề về việc gọi thế nào các hàm, phương thức qua các thư viện
cho phù hợp với từng loại và kiểu của lời gọi và kết quả của từng lời gọi
- Lời gọi của 1 hàm, phương thức trong 1 lớp mà kế thừa từ lớp
giao diện (tương ứng với việc mở giao diện nào của chức năng
nào trong mỗi ứng dụng riêng biệt), thì cần khởi tạo 1 đối tượng
thực thể của giao diện đó.
- Lời gọi của 1 hàm hoặc phương thức trong 1 lớp mà hàm hay
phương thức đó được khai báo là kiểu tĩnh (static) thì không cần
khởi tạo 1 biến thực thể của đối tượng.
Một ứng dụng trung tâm và duy nhất được triển khai mà ở đó quản lý và
tiến hành khai báo, và gọi các ứng dụng riêng biệt khác. Do mỗi ứng
dụng riêng biệt có một nghiệp vụ riêng và cấu hình kiểu kết nối riêng.
Các tham số kết nối đã được khai báo và quản lý chung trong ứng dụng
tổng thể duy nhất. Việc khởi tạo kết nối sẽ được gọi từ ứng dụng chung
qua hàm, phương thức trong thư viện của ứng dụng riêng biệt. 1 lý do là
việc gọi hàm qua thư viện không nhận biết và phân biệt được các khai
báo các tham số tùy chọn - Optional parameters, nghĩa là nếu trong hàm
mà khai báo 5 biến (2 biến optional) thì lời gọi qua thư viện độc lập bắt
buộc phải truyền 5 biến cho hàm. Do đó trong giới hạn các ứng dụng
hiện thời, cần giới hạn xác định số lượng biến truyền, loại biến và thứ tự
của nó.
Mỗi ứng dụng riêng biệt cần xây dựng hàm khởi tạo kết nối của riêng nó
theo đúng chuẩn của hệ thống phần mềm khung đề ra. Trong phạm vi
luận văn này, tôi xây dựng thử nghiệm hàm đó theo định dạng như sau:
16

1. Khởi tạo kết nối mỗi lần khi mỗi chức năng của dịch vụ
riêng lẻ được gọi.
2. Khởi tạo kết nối chung của mỗi dịch vụ riêng lẻ khi dịch vụ
riêng lẻ đó được chọn để thao tác.
Với cách thứ nhất, mỗi lần sử dụng một chức năng hệ thống sẽ phải
khởi tạo kết nối đến cơ sở dữ liệu hệ thống tương ứng, cách này có
nhược điểm là chậm và phải thực hiện nhiều lần.
Với ứng dụng khung xây dựng thử nghiệm trong luận văn này, chúng tôi
sử dụng cách thứ 2 để khởi tạo kết nối. Việc sử dụng cách kết nối nào
tùy thuộc vào yêu cầu xây dựng và đáp ứng thực tế của hệ thống. Do
việc gọi kết nối sẽ là mất nhiều thời gian và nhất là lại gọi qua các thư
viện độc lập nên việc khởi tạo sẽ bị chậm, để đảm bảo và tăng tính trình
diễn của ứng dụng, mỗi kết nối sẽ chỉ được khởi tạo 1 lần đầu tiên, nếu
đã có kết nối rồi thì các lần sau sẽ không khởi tạo kết nối nữa, quá trình
kết nối này sẽ được duy trì và ngừng kết nối khi ứng dụng khung ngừng
hoạt động. Trường hợp trước đó kết nối đã được mở tuy nhiên trong quá
trình sử dụng bị đóng chương trình sẽ tự động khởi tạo lại kết nối.
2.3.3. Giải pháp công nghệ thực thi trên các ứng dụng được khai
báo động - Plugin
Để thực thi các chức năng trên ứng dụng độc lập đã được khai báo động
- plugin vào hệ thống, sử dụng công nghệ thực thi mã nguồn động
(dynamic code), nghĩa là mã nguồn sẽ được biên dịch và thực thi khi
18
chạy ứng dụng runtime. Đây là đặc tính kỹ thuật tiên tiến được hỗ trợ
bởi những chương trình viết trên nền tảng .Net của Microsoft, cơ chế
thực thi của nó như sau:
Khái niệm về Application Domain: hiểu đơn giản nó là nơi chứa trong
một tiến trình mà có thể phân biệt tập các lệnh khác nhau. Mã nguồn và
dữ liệu trong Application domain trong 1 tiến trình riêng lẻ sẽ được bảo
vệ không được truy xuất từ một Application domain khác, tuy nhiên nó

Đối với những hệ thống phần mềm sử dụng công nghệ cũ hoặc phần
mềm của đối tác nước ngoài: trường hợp này tác giả đề xuất tích hợp hệ
thống theo nguyên tắc shortcut, tức là chúng ta sẽ tạo ra các giao diện
gọi chương trình đó từ hệ thống phần mềm khung theo kiểu shortcut.
Đối với hệ thống phần mềm chạy trên nền tảng web, tác giả sẽ định
hướng phát triển module có chức năng như một trình duyệt web để thực
hiện duyệt các website đó.
Kết luận
Với giải pháp kỹ thuật như trên, tác giả nhận thấy có thể tích hợp được
hầu hết các phần mềm đang chạy tại bưu cục giao dịch hiện nay bằng
hai cách thức chủ yếu là:
- Tích hợp “chặt”: tích hợp đến từng chức năng hệ thống, áp dụng
đối với một số hệ thống phần mềm được phát triển trên công
nghệ mới đồng nhất của Microsoft, các chức năng của những hệ
thống này sẽ được khai báo tích hợp vào hệ thống phần mềm và
20
cho phép gọi trực tiếp đến từng chức năng của hệ thống thành
phần từ hệ thống phần mềm khung.
- Tích hợp “lỏng”: tích hợp theo kiểu shortcut đến các ứng dụng
đó, áp dụng đối với hệ thống phần mềm phát triển trên nền tảng công
nghệ cũ hoặc những hệ thống phần mềm của đối tác nước ngoài mà
Tổng công ty Bưu chính Việt Nam không quản trị được. Với những hệ
thống này, việc tích hợp được thực hiện theo kiểu shortcut tức là tại
chương trình hệ thống khung khai báo tính năng gọi đến chương trình
tương ứng để thực hiện chạy.

Chương 3
THIẾT KẾ TỔNG THỂ HỆ THỐNG KHUNG
PHẦN MỀM TÍCH HỢP TẠI BƯU CỤC GIAO
DỊCH

cho phép khai báo thêm các ứng dụng cần tích hợp vào hệ thống
khung ví dụ như: phần mềm CT2003PO, BK2007PO, CFM
Client, …
22

Hình 1. Kiến trúc thiết kế hệ thống
- Functions Management – quản trị chức năng: thành phần này
cho phép khai báo các chức năng của hệ thống và quản lý các
chức năng đó, ngoài ra chức năng còn khai báo các tham chiếu
cần thiết để phục vụ cho chức năng hoạt động. Việc khai báo
này hoàn toàn dựa trên các thư viện đã được đóng gói trước vì
vậy không làm ảnh hưởng đến các phần mềm đang hoạt động.
- Config Management – quản lý cấu hình: thành phần cho phép
quản lý và khai báo các biến môi trường để phục vụ trong suốt
thời gian hoạt động của hệ thống, chức năng này cho phép quản
lý được mọi tham số của các hệ thống được tích hợp.
- Users Management – quản lý người dùng: thành phần này cho
phép quản lý toàn bộ tài khoản đăng nhập hệ thống của các hệ
thống được tích hợp.
23
- System Utilities – Tiện ích hệ thống: một số thành phần tiện ích
khác.
Với mục tiêu không làm ảnh hưởng đến các hệ thống hiện có bao
gồm cả cơ sở dữ liệu hệ thống vì vậy hệ thống tích hợp POI được
thiết kế có một cơ sở dữ liệu độc lập, cơ sở dữ liệu này sẽ lưu trữ
các dữ liệu hệ thống do các thành phần trong thành phần khung hệ thống
sử dụng (Applications Management, Functions Management, Config
Management, Users Management, System Utilities) trong đó có dữ liệu
về tài khoản đăng nhập hệ thống.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status